MỞ ĐẦU
V.I Lê-Nin (22/4/1870 – 21/01/ 1924). Sinh ra và lớn lên trong một gia
đình trí thức Nga tiến bộ tại thành phố Xim-Biếc. Khi còn nhỏ. Ông là một
người học rất xuất sắc và luôn đạt kết quả học tập rất cao. Sau khi tốt nghiệp
trường trung học cổ điển ở Xim-Biếc. Năm 1877 Lê-Nin vào học khoa luật ở
trường Đại học Ca-Dan. Năm 17 tuổi Lê-Nin bị bắt và đày về làng Cô-cư-sơki-nô, cách Ca-Dan cách 40 dặm Nga. Tại đây ông đã tham gia vào phong trào
đấu tranh cách mạng ở Nga (Vào tháng chạp 1887)
Sau cách mạng Tháng Mười vấn đề Đảng cầm quyền luôn được
V.I.Lênin quan tâm và đã được ông đề cập trong nhiều bài viết và tác phẩm
lý luận. Năm 1894 Lê-Nin viết tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào
và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao”. Năm 1895 ông
viết bản “Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mùa hè năm 1896 ông viết bản “Dự
thảo và thuyết minh cương lĩnh của Đảng dân chủ xã hội”. “Thuyết minh về
cương lĩnh”. Cuối năm 1897, trong khi bị đày ở Xi-bê-ri. Lê-Nin viết tác phẩm
“Nhiệm vụ của những người dân chủ xã hội Nga”. Năm 1899. Ông viết tác
phẩm “Sự phát triển của nghĩa tư bản ở Nga”.v.v… Năm 1904 ông viết tác
phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi”.
Và đặc biệt hơn cả ông đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như vấn đề
đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng và các nguyên tắc tổ chức của Đảng trong tác phẩm
“Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mặc dù bước đầu còn khó khăn, nhưng những nội
dung trên là một thứ vũ khí sắc bén để chống lại phái Mensêvích lúc bấy giờ.
Phát triển quan điểm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đã xây dựng
chính Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và chính Đảng kiểu mới của giai
cấp công nhân Nga đã thực hiện vai trò lãnh đạo giai cấp công nhân Nga hoàn
thành nhiệm vụ lịch sử thế giới của mình. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng xã
hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một kỷ nguyên mới đưa cả
loài người quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn
thế giới. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng. Đảng có vững mạnh về chính trị,
1
Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, HN, 2006, tr263
2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN VỀ ĐẢNG VIÊN
Về đảng viên
Tháng 3/ 1898. Đại hội lần thứ nhất của Đảng công nhân dân chủ xã hội
Nga họp đã tuyên bố thành lập Đảng. Kết quả của đại hội đã bầu được Ban
chấp hành trung ương, nhưng không thông qua cương lĩnh. Điều lệ Đảng. Sau
đại hội khoảng một thời gian dài. Đảng coi như bị tê liệt về tư tưởng phân tán
cũng như cả về tổ chức. Đảng không có cơ quan lãnh đạo tập trung thống nhất.
Trước tình hình đó Lê-Nin viết tác phẩm “Làm gì” chuẩn bị về mặt tư tưởng
cho việc thành lập Đảng và viết tác phẩm “Hai sách lược của Đảng công nhân
dân chủ - xã hội Nga” trong cách mạng dân chủ mang tính chất xây dựng
cương lĩnh chính trị của Đảng.
Với tinh thần và nỗ lực không mệt mỏi của Lê-Nin và những người bạn
cùng chiến đấu của Người. Đại hội II của Đảng công nhân dân chủ xã hội Nga
đã triệu tập vào tháng 7/1930. Mục đích của đại hội II là: Thông qua cương
lĩnh, thông qua điều lệ. Bầu BCHTW, bầu ban biên tập báo “Tia lửa”. Đại hội
là bước ngoặt trong phong trào công nhân thế giới. Bầu được BCHTW, Lãnh
đạo các cơ quan đảng. Ban biên tập báo tia lửa tập trung thành một Đảng thống
nhất từ những tổ chức Mác-xít rời rạc.
Trong quá trình đại hội. Lê-Nin và Mác-tốp đã mâu thuẫn về khoản 1.
Điều I. Điều lệ Đảng (Điều kiện để trở thành đảng viên) dẫn đến việc Đảng
chia làm 2 phái: Phái Bônsêvích do Lê-Nin đứng đầu. Phái Mensêvích do
Mác-tốp đứng đầu. Trong dự thảo của Mác-tốp ghi rất rõ: “Tất cả những người
nào thừa nhận cương lĩnh của Đảng, hoạt động tích cực để thực hiện các nhiệm
vụ của đảng dưới sự kiểm soát và chỉ đạo của các cơ quan của Đảng thì đều
những người thực hiện sự phấn đấu quên mình cho lý tưởng, mục đích của
Đảng của giai cấp vô sản.
Một nội dung quan trọng nữa cũng được Lê-Nin đề cập trong công thức
của ông. Đó là: Phân biệt ranh giới rõ ràng giữa những người thực sự hoạt động
cho Đảng và những kẻ nói suông, phân biệt dứt khoát giữa người cách mạng
chân chính với kẻ cơ hội.
3
Tập 8, Trang. 268
4
Lê-Nin cũng nhấn mạnh: Phải đảm bảo cho Đảng thật sự là một khối
đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo thật sự cho đảng
có sức mạnh. Thật sự có uy tín sâu rộng đối với giai cấp công nhân, đối với
quảng đại quần chúng nhân dân lao động và đối với dân tộc.
Quan điểm của Lê-Nin về tiêu chuẩn đảng viên cộng sản mà ông đưa vào
trong dự thảo Điều lệ công nhân dân chủ xã hội Nga và trình bày trước đại hội
II của Đảng là một nội dung cực kỳ quan trọng, một nội dung đấu trannh quyết
liệt sau khi đã thông qua được cương lĩnh và cuối cùng ông đã xác định kẻ cơ
hội, ba hoa mà đứng đầu là Mác-tốp với công thức mơ hồ, không rõ ràng về
Điểm 1 của dự thảo Điều lệ Đảng lúc bấy giờ.
Mỗi người tham gia bãi công, tham gia biểu tình là đảng viên. Công thức
của Mác-tốp hướng tới một tổ chức đảng lỏng lẻo. Đảng không có hình thức tổ
chức chặn chẽ, công thức của Mác-tốp không bắt buộc mỗi đảng viên phải
tham gia vào một tổ chức nào của Đảng, xem đảng như một câu lạc bộ, mọi
người có thể tự nhận mình là đảng viên. Qua công thức của Mác-tốp chúng ta
cũng thấy ông đề cập đến sự vô hiệu hóa chế độ tập trung trong đảng, các bộ
mẫu chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước, không đòi hỏi lợi lộc, sẵn sàng gánh vác một
công tác gian khổ hơn và nguy hiểm hơn. Trong bài “Báo cáo về vai trò và
nhiệm vụ của công đoàn tại phiên họp của Đảng đoàn Đảng cộng sản trong
Đại hội ngày 23 tháng giêng” V.I.Lênin viết: “Trong Đảng, chúng ta cũng đã
đấu tranh hơn 20 năm, chúng ta đã chứng minh bằng việc làm, chứ không phải
bằng lời nói suông cho công nhân thấy rằng Đảng là một tổ chức đặc biệt,
đảng cần có những con người giác ngộ, sẵn sàng hy sinh tính mạng, đảng
phạm sai lầm thì đảng sửa chữa, đảng lãnh đạo và lựa chọn những người biết
rõ con đường mà chúng ta sẽ đi, biết rõ khó khăn mà chúng ta sẽ gặp”4.
Thứ hai: đảng viên cộng sản phải có trình độ văn hoá, lý luận, chuyên
môn nghiệp vụ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, người đảng viên cộng sản
được bố trí vào hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội của đất nước, vì vậy họ phải thấu hiểu công việc mà mình được
4
Sđd, 1977, t 42, tr 315.
6
giao, nghĩa là phải có tri thức nhất định, phải thông thạo chuyên môn. Cái thiếu
của người đảng viên cộng sản chính là ở “ trình độ văn hoá”, làm cho họ gặp
nhiều khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm vụ được giao và giữ vững vai trò
lãnh đạo, làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong trước quần chúng trong thời kỳ
xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin dạy rằng: “Người ta chỉ có thể trở thành
người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả
những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”5. V.I.Lênin đã dặn đi dặn lại
những người cộng sản rằng: nếu chỉ có nhiệt tình và lòng dũng cảm không thôi
phải thực hiện được, trong nội bộ của mình, một chế độ tập trung chặt chẽ và
một kỷ luật nghiêm ngặt”7.
Thứ tư: người đảng viên cộng sản phải gắn bó mật thiết với quần
chúng, giáo dục, tổ chức quần chhúng thực hiện thắng lợi đường lối, chính
sách của Đảng, là tấm gương mẫu mực cho quần chúng noi theo.
V.I.Lênin viết: “Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải là việc riêng
của Đảng cộng sản… mà là việc của tất cả quần chúng lao động”8. Sức mạnh
của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. Vì thế, “chỉ trông vào
bàn tay của những người cộng sản để xây dựng xã hội cộng sản, đó là một tư
tưởng hết sức ngây thơ. Những người cộng sản chỉ là một giọt nước trong đại
dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân”9. Song, họ có thể lãnh đạo
nhân dân đi theo con đường của mình nhờ họ vạch ra được và gương mẫu thực
hiện đường lối, chính sách đúng đắn, gắn bó mật thiết với quần chúng, tuyên
truyền, giáo dục cho quần chúng hiểu và tổ chức quần chúng thực hiện thắng
lợi đường lối, chính sách ấy. Trong quá trình đó, đảng viên phải nêu tấm gương
mẫu mực về lòng trunh thành với chủ nghĩa cộng sản, về ý thức tổ chức kỷ luật,
phẩm chất đạo đức và lối sống, nhất là học tập và công tác. Trong quan hệ với
quần chúng, đảng viên phải tìm hiểu, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng và các
sáng kiến của họ, phải giải quyết các nhu cầu chính đáng của nhân dân, nhưng
không được hạ thấp trình độ của mình xuống ngang với quần chúng, không
được mị dân, theo đuôi quần chúng.
7
Sđd, 1979,t 41, tr 34.
Sđd, 1978, t 45, tr 110-111.
9
Sđd, t45, tr 117
8
– hội của mình thì người ấy sẽ mắc cái bệnh của Manilốp và “chủ nghĩa theo
đuôi”. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, ngay cả tổ chức công đoàn (…) cũng
không đủ sức bao hàm gần hết hay toàn bộ giai cấp công nhân
Là đội tiên phong, Đảng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp của giai cấp
công nhân, có lý luận tiên phong và có tổ chức chặn chẽ.
10
V.I.Lê-Nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1919, t.8, tr.289
9
Thứ hai, Đảng là bộ phận có tổ chức của giai cấp công nhân
Trong tác phẩm “Làm gì”, Lê-Nin đã chỉ rõ: “… chỉ đảng nào được một
lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên
phong”11. Trong tác phẩm này, để chống lại phái Mensêvích với chủ trương là
mọi người bãi công, mọi giáo sư và học sinh đều có thể tự tuyên bố vào Đảng.
Lê- Nin khẳng định lại: Đảng là một đội tiên phong của giai cấp thì phải có tổ
chức. Đảng chỉ nên thu nhận những phần tử ít nhất cũng phải chấp nhận một
tính tổ chức tối thiểu.
Lê-Nin cho rằng: Đảng là bộ phận có tổ chức, điều đó có nghĩa. Đảng là
một chính thể có cố kết vững chắc, có kỷ luật nghiêm minh chặt chẽ, quy định
rõ những mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức, giữa bộ phận này với bộ phận
khác, giữa bộ phận với toàn bộ,v.v…
Lê-Nin còn nhấn mạnh rằng, trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản,
giai cấp vô sản không có vũ khí nào tốt hơn là sự tổ chức; Rằng tổ chức quả là
một vũ khí nhờ đó mà giai cấp vô sản sẽ tự giải phóng; rằng, đối với giai cấp
vô sản thì tổ chức là vũ khí đấu tranh giai cấp.
Thứ ba, Đảng là hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân
trung, là một đặc điểm có tính nguyên tắc của chủ nghĩa cơ hội trong các vẫn
đề tổ chức. Người chỉ ra biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân của những phần tử trí
thức tham gia phong trào xã hội dân chủ là: “Cái tâm lý của người trí thức tư
sản của mình là ở trong số “những người được lựa chọn” đứng trên tổ chức
quần chúng và kỷ luật quần chúng”13. Lê-Nin cũng nhấn mạnh tập trung không
có nghĩa là xem nhẹ dân chủ, tập trung phải đi đôi với dân chủ, tập trung và dân
chủ là hai mặt không thể tách rời trong chế độ tổ chức của Đảng Mác-xít.
Thứ năm, Đảng là hiện thân của sự liên lạc giữa đội tiên phong của
giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nhân dân lao động
Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân chứ không phải bao gồm
hết toàn bộ giai cấp. Vậy đội tiên phong đó muốn tồn tại, phát triển và có đủ
lực lượng, sức mạnh hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình thì phải liên hệ
chặn chẽ với quần chúng. Lê-Nin viết; “Muốn trở thành một Đảng dân chủ xã
hội thì cần phải được sự ủng hộ của chính giai cấp…”14
Trong mối liên hệ với quần chúng, Đảng phải khắc phục khuynh hương
lêch lạc, vượt quá xa trình độ của quần chúng, xa rời quần chúng, đồng thời
13
14
V.I.Lê-Nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1919, t.8, tr.415
V.I.Lê-Nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1919, t.8, tr.293
11
cũng đề phòng khuynh hướng theo đuôi, hạ thấp trình độ Đảng ngang trình độ
quần chúng. Lê-Nin viết: “Chúng ta sẽ chỉ tự lừa dối mình, nhắm mắt trước
những nhiệm vụ bao la của chúng ta, thu hẹp những nhiệm vụ đó lại, nếu
chúng ta quên mất sự khác nhau giữa đội tiền phong và tất cả số quần chúng
12
kết, rút kinh nghiệm, tức Đảng phải coi trọng tự phê bình và phê bình, trước hết
là tự phê bình.
V.I.Lênin cho rằng: “Thái độ của một chính đảng trước những sai lầm
của mình là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để
xem xét đảng ấy có nghiêm túc không và có thật sự làm tròn nghĩa vụ của mình
đối với giai cấp mình và đối với quần chúng lao động không. Công khai thừa
nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai
lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, - đó là dấu
hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của
mình, đó là giáo dục và huấn luyện giai cấp, rồi đấn quần chúng”18, và
“Chúng ta không nên che giấu những sai lầm của chúng ta trước kẻ thù. Ai sợ
điều đó, người ấy không phải người cách mạng. trái lại, nếu chúng ta tuyên bố
công khai với công nhân: “Phải, chúng tôi đã phạm sai lầm”, như thế có nghĩa
là từ nay về sau chúng ta không tái phạm những sai lầm đó nữa và chúng ta sẽ
biết lực chọn thời cơ một cách tốt hơn”19, “Nếu cứ giữ mãi sai lầm, đi sâu thêm
để bào chữa cho nó, “đưa nó đến chổ tột cùng” thì từ một sai lầm chỏ, người
ta luôn luôn có thể làm cho nó thành một sai lầm ghê gớm”20. Hơn nữa, “…
Những sai lầm thường khi lại bổ ích, nếu người ta học tập được những sai lầm
đó, nếu những sai lầm đó tôi luyện con người”21.
CHƯƠNG 3: SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN VỀ
ĐẢNG VIÊN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC ĐẢNG CỦA ĐẢNG TA
3.1. Sự vận dụng của Đảng ta về tư tưởng đảng viên của Lênin
18
Sđd, 1977, t 41, tr 51
Người đảng viên cộng sản phải là người:
- Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênnin; kiên trì phấn đấu vì sự nghiệp
cách mạng của dân tộc và của nhân loại; kết hợp tinh thần yêu nước, độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa
quốc tế trong sáng.
- Vừa có tài, vừa có đức, đức là gốc; tích cực rèn luyện, nâng cao đạo
đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.
14
- Gắn bó mật thiết với nhân dân; luôn lấy dân làm gốc; vừa là người lãnh
đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; thống nhất lời nói với
vịêc làm; thực hiện “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, đặt lợi ích của
nhân dân lên trên hết, trước hết.
- Luôn giữ gìn đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.
- Kiên quyết đấu tranh chống các tư tưởng và hành động sai trái, phản
động, trước hết là chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, bệnh giáo điều.
- Chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước.
Vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của Người, Đảng ta đã đề ra
chuẩn mực về tư cách người đảng viên cộng sản phù hợp với yêu cầu của giai
đoạn cách mạng hiện nay. Điều I, Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ X, Đảng ta ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là
chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,
suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của tổ quốc,
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân, chấp
hành nghiêm chỉnh cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng, các nghị quyết của
Đảng và pháp luật của Nhà nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo
đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức,
Qua hơn 20 năm đổi mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam, nhân dân có những bước phát triển đáng kể. công cuộc đổi mới ở nước ta
đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh
vực: kinh tể tăng trưởng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa với nhiều loại hình thị trường. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ
rệt, những vấn đề về phát triển nền văn hóa, xã hội, con người có nhiều tiến bộ.
Chính trị xã hội ổn định. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
được củng cố và tăng cường. Quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới và ngày
càng mở rộng trong khu vực và trên thế giới. Nhận thức về lý luận và tổng kết
thực tiễn được đẩy mạnh. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao,
không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, Xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh v.v. Nhờ đạt được những thành tựu trên là do chúng thực hiện tốt sự lãnh
đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, đặc biệt là chúng ta đã thực hiện tốt các
23
V.I.Lê-Nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1919, t.8, tr.428-429
16
nguyên tắc trong xây dựng đảng. Đó là nguyên tắc: Tập trung dân chủ. Tự phê
bình và phê bình. Đoàn kết thống nhất trong Đảng. Mối liên hệ giữa Đảng và
nhân dân. Hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
Ngày nay, các thế lực phản động vẫn đang tấn công điên cuồng vào chủ
nghĩa Mác. Đối với nước ta để tiến lên chủ nghĩa cộng sản thì phải kiên quyết
chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch nhằm phủ
nhận đường lối đổi mới của Đảng ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và
con đường XHCN. Càng ngày sự chống phá của các thế lực thù địch càng tinh
vi hơn, bọn cơ hội chính trị ở trong nước đưa ra các luận điệu xuyên tạc và phát
tán các tài liệu có quan điểm chống đối tuyên truyền nói xấu chế độ và Đảng ta,
thuyền cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng
KẾT LUẬN
18
Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của V.I.Lênin giúp chúng ta
nhận thức đầy đủ và đúng đắn vai trò lịch sử và sự cống hiến vĩ đại của
ông đối với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, và càng khẳng
định không có học thuyết nào có thể thay thế được. Nhất là những tư
tưởng về đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và các nguyên tắc tổ chức của
Đảng được V.I.Lênin đề cập trong các tác phẩm viết sau cách mạng
Tháng Mười cho đến nay vẫn còn giá trị cả lý luận và thực tiễn đối với
công tác xây dựng Đảng ta trong điều kiện cầm quyền hiện nay. Qua các
tác phẩm V.I.Lênin đã chỉ cho Đảng ta thấy được rằng: trong công tác
đảng viên, công tác tổ chức, công tác cán bộ phải giữ vững nguyên tắc,
không thoả hiệp, phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, nhất
là các bộ chủ chốt. Để phát triển các tổ chức đảng, điều cốt lõi là phải tổ
chức giác ngộ giai cấp công nhân, đồng thời chăm lo đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ cho Đảng. Phải thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình,
phê bình phải kịp thời, đúng lúc, đúng chổ, có lý luận sắc bén.
Từ khi khởi xướng sự nghiệp đổi mới, với quan điểm nhìn thẳng
vào sự thật, nói rõ sự thật, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, thẳng thắn
chỉ ra được ưu điểm, khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân, đề ra giải phát
thiết thực để phát huy tích cực, hạn chế tiêu cực. Nhờ đó mà “sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân được phát huy, công tác xây dựng Đảng đạt
được kết quả tích cực”24.
24
19. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1996.
20. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện hội nghị lần thứ VI (lần 2)
BCHTW, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1999.
20
MỤC LỤC
21