PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, không phải các nguồn tài nguyên thiên
nhiên là yếu tố quyếtđịnh mà nguồn lực con người mới là chìa khóa quyết định phát triển
kinh tế. Các quốc gia đang phát triển ngày càng gặp khó khăn trong việc xây dựng đội
ngũ chuyên gia và công nhân kỹ thuật có tay nghề để nâng cao chất lượng, năng suất lao
động cũng như trong việc xây dựng các chính sách công hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước và phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ.
Vì thế, để đẩy mạnh công nghiệp – hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế tri thức thì các
quốc gia, các địa phương cần xác định nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trình
độ cao là khâu đột phá cho quá trình phát triển
Hiện nay, số lượng các nhà khoa học đang làm việc tại Thành phố vẫn còn thiếu,
nhất là các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực nghiên cứu - phát triển, khoa học - kỹ
thuật - công nghệ. Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu trở thành thành phố công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trước năm 2020, Đà Nẵng cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực do
đó việc hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực trình độ cao trong thời gian tới là
hết sức cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trình độ cao của thành phố Đà Nẵng.
- Khảo sát nhu cầu nhân lực trình độ cao của Thành phố trong giai đoạn 20112015, định hướng đến năm 2020.
- Đề xuất các giải pháp nâng caotrình độ nguồn nhân lực cho Thành phố Đà Nẵng.
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt một số tiêu chí xác định nguồn nhân lực trình độ cao.
Bảng 2.2 : Tỉ lệ lực lượng thanh niên năm 2010-2014.
Bảng 2.3: Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo.
Bảng 2.4: Số Học sinh tốt nghiệp các trường Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
và công nhân kỹ thuật.
nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá
nhân và của đất nước”.
Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm
thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở đây nguồn lực con
người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công
nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo tổ chức lao động quốc tế thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ
4
những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”.
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có
vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất
còn hạn hẹp”.
Dù có nhiều định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung, khi nói đến
nguồn nhân lực là chúng ta nói đến con người với toàn bộ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ
năng,... của mình, có thể tham gia vào quá trình lao động xã hội.
1.2. Khái niệm nguồn nhân lực trình độ cao
Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động-Xã hội PGS.TS
Nguyễn Tiệp :Nguồn nhân lực trình độ cao là nhân lực có kiến thức, kỹ năng, ý tưởng
chuyên môn, kỹ thuật, làm việc độc lập,sáng tạo; có năng lực tổ chức, quản lý các quá
trình lao động;có các phẩm chất khác (đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm nghề
nghiệp…) ở mức độ cao và bao gồm các loại: Công nhân bậc cao(công nhân lành nghề
cao);chuyên gia, nghệ nhân;trí thức;lao động kỹ thuật cấp cao;lao động quản lý cấp cao.
Dựa trên hiệu quả, năng suất của người lao động: Lao động trình độ cao có khả
năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc; từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả
cao trong công việc
Dựa trên trình độ được đào tạo của nguồn lao động: Theo Mac, Lao động trình độ
cao đòi hỏi chi phí đào tạo cao hơn; theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD),
độ cao”, để chỉ “những người đã đạt được một trình độ đào tạo nhất định thuộc hệ
thống giáo dục đại học, nắm vững chuyên môn nghề nghiệp, có khả năng làm việc độc
lập, tổ chức triển khai những công trình quan trọng với phương pháp khoa học, công
nghệ tiên tiến”. Như Các Mác đã nói “một lao động được coi là cao hơn, phức tạp hơn
so với lao động xã hội trung bình là biểu hiện của một sức lao động đòi hỏi những chi
phí đào tạo cao hơn, người ta phải tốn nhiều thời gian lao động để tạo ra nó và vì vậy,
nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn”.
6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH
ĐỘ CAO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.Tiêu chí xác định nguồn nhân lực trình độ cao tại thành phố Đà Nẵng
Trình độ đào tạo: Thông thường, những người có trình độ đại học thì đã được xem
là được đào tạo và có chuyên môn nghề nghiệp. Vậy cho nên bằng cấp tối thiểu của
nguồn nhân lực trình độ cao phải là bằng Đại học. Những người tốt nghiệp hạng giỏi, xuất
sắc sẽ được ưu tiên, tuy nhiên đối với một số công việc hoặc lĩnh vực nghề nghiệp đặc thù
thì người tốt nghiệp hạng khá nhưng có kinh nghiệm làm việc với hiệu quả công việc cao
vẫn có thể được xem xét (dù chính sách đãi ngộ có khác nhau). Tương tự như vậy, cũng
có những lĩnh vực nghề nghiệp và vị trí tuyển dụng cụ thể mà người có trình độ cao phải
là thạc sĩ trở lên (như nghiên cứu khoa học, giảng viên các trường đại học, cao đẳng,
trường trung học phổ thông chuyên,...).
Các kỹ năng tin học, ngoại ngữ:Trong thời đại phát triể bùng nổ công nghệ thông
tin và xu thế toàn cầu hóa, các kỹ năng tin học và ngoại ngữ là những tiêu chí quan trọng
để xác định nguồn nhân lực trình độ cao. Đây là những công cụ để người lao động tiếp
cận tri thức và vận dụng tri thức hiệu quả trong công việc. Cũng như tiêu chí trình độ
chuyên môn, các kỹ năng tin học và ngoại ngữ cần được tiêu chuẩn hóa để đảm bảo rằng
ứng viên có khả năng đọc hiểu các tài liệu chuyên ngành, khả năng giao tiếp, khả năng
tìm kiếm sử dụng thông tin, tri thức hiệu quả.
2
3
4
5
Đối tượng
độ Giáo
chuyên
Phó
môn
sư
Trình
sư,
Giáo
Tiến
sĩ
hoặc
đương
độ
Bác sĩ, dược sĩ, kỹ
Các
công Các
công Có
công
Ít nhất 02 năm
kinh nghiệm phù
hợp vị trí tuyển
dụng
trình Có công
trình
8
nghiên cứu khoa nghiên cứu khoa
(Tham
khen, bằng khen, khen, bằng khen,
giá, nghiên cứu nghiên cứu giải
tuyển
hoặc
chất
đạo đức
tác có hiệu quả cao
Trung thực, yêu thích làm việc trong khu vực công
(*): trong một số trường hợp đặc biệt có thể tốt nghiệp loại khá nhưng có kinh nghiệm hoặc thành
tích công tác tốt)
2.2. Thực trạng nguồn nhân lực trình độ cao tại thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Thực trạng nguồn nhân lực trình độ cao tại Đà Nẵng
Theo kết quả điều tra dân số 1-4-2009, Đà Nẵng có “cơ cấu dân số vàng” (tỷ số độ
tuổi phụ thuộc chỉ 28,9%), có tỷ trọng dân số thành thị đứng đầu cả nước (86,9%) và trình
độ học rất vấn cao (84,2% dân số có bằng từ tiểu học trở lên, trong đó 44,6% có bằng
THPT) và 94,6% phường, xã đạt chuẩn phổ cập Trung học phổ thông… Đây là những
tiền đề hết sức thuận lợi để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trình độ
cao.
Lực lượng lao động thanh niên (15 đến 24 tuổi) chiếm 14,1% trong tổng số lực
lượng lao động, tăng 2,1 điểm phần trăm so năm 2010 nhưng hiện vẫn thấp hơn so mức
quyết việc làm tại chổ, tăng cường công tác tuyên truyền và tích cực tổ chức các hoạt
động kết nối để giải quyết việc làm. Kết quả, trong năm 2015 các thành phần kinh tế trên
địa bàn thành phố tạo việc làm cho 31.500 lao động đạt 100% kế hoạch năm; tăng 1,61%
so với năm 2014. Tổ chức 34 phiên giao dịch việc làm, có 2.760 đơn vị tham gia tuyển
lao động, số lượt lao động cần tuyển 51.716 lao động. Kết quả sơ tuyển, phỏng vấn đã có
9.148 lao động được giải quyết việc làm. Số lao động được kết nối có trình độ đại học cao
đẳng 5.204 người, trung học chuyên nghiệp 577 người, công nhân kỹ thuật 48 người và
lao động phổ thông 1.271 người.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 45%; giải quyết Bảo hiểm thất nghiệp cho
10.179 trường hợp. Trong năm 2015, các cơ sở đào tạo nghề đã tuyển sinh và dạy nghề
cho 45.000 người, đạt 100% kế hoạch.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo và trình độ nguồn nhân lực được nâng lên rõ rệt. Năm
1997, lực lượng lao động qua đào tạo chiếm 21,81%, trong đó cao đẳng, đại học là 9,12%;
đến năm 2014 tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên 64,87%, trong đó cao đẳng, đại học là
38,57%. Cơ cấu lao động các ngành kinh tế cũng thay đổi: Lao động khu vực nông nghiệp
năm 1997 là 33,0% lao động chung xã hội, năm 2005 chiếm 19,39%, năm 2012 còn
10
8,2%; lao động khu vực công nghiệp năm 1997 là 29,8%, năm 2005 là 37,16%, năm 2013
ở mức 22,9% , lao động khu vực dịch vụ năm 1997 là 37,83%, năm 2005 lên 43,45% và
năm 2012 ở mức 68,9%.
Đà Nẵng hiện có 174 trường phổ thông với 79,8 nghìn giáo viên cơ hữu giảng dạy
161,7 nghìn học sinh (gấp 2 lần số học sinh năm 1997); có 26 trường: công nhân kỹ
thuật(CNKT), trung học chuyên nghiệp(THCN), Cao đẳng, Đại học trên địa bàn, với 4,5
nghìn giảng viên giảng dạy trên 150 nghìn sinh viên (tăng 40% so năm 2001) và đào tạo
ra trường hàng năm hơn 33 nghìn sinh viên (gần gấp đôi số sinh viên tốt nghiệp năm
2001.
Bảng 2.3: Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo
Công nhân kỹ thuật
36,0
97,0
82,1
88,0
90,2
36,3
37,1
Trung học
15,0
29,0
33,0
34,3
37,5
24,9
302,2
309,0
Cơ cấu (%)
100,0
0
100,0
0
100,0
0
100,0
0
100,0
0
100,0
0
100,0
0
Công nhân kỹ thuật
Cao đẳng, đại học trở lên
8,98
14,50
16,02
18,15
18,72
17,95
18,03
75,61
52,89
54,27
51,23
49,84
68,25
68,15
Đơn vị tính :người
2000
2002
2003
2004
2005
Tổng số
15.342
22.362
24.511
27.339
40.698
Đại học
3.450
5.185
CNKT
7.128
9.893
7.786
7.466
14.580
(Nguồn :Niên giám thống kê Thành phố Đà Nẵng năm 2005)
12
Chất lượng đào tạo cán bộ KH&CN còn hạn chế, cơ cấu ngành nghề chưa cân đối ;
thiếu nhiều cán bộ khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là chuyên gia về công
nghệ
Đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ cao, chất lượng cao là vấn đề khó khăn và
phức tạp, song sử dụng một cách có hiệu quả lại càng không dễ, vấn đề sử dụng nguồn
nhân lực chất lượng cao ở thành phố Đà Nẵng còn rất lãng phí , tức là chưa khai thác một
cách có hiệu quả. Ở thành phố Đà Nẵng hiện nay, tỷ lệ được đào tạo chiếm một phần
quan trọng trong nguồn nhân lực của thành phố, song vẫn còn tồn tại nạn thất nghiệp
Bảng 2.5: Trình độ nguồn nhân lực của thành phố
Đơn vị tính :Người
2001
97.000
Trung học
17.700
20.000
23.333
26.154
29.027
CĐ-ĐH
36.830
40.000
42.667
41.179
56.048
233.530
228.997
2001
1
0,48
1,37
2002
1
0,50
1,50
2003
1
0,55
1,56
2004
1
trung cấp, 2,3% cao đẳng, 10,8% đại học và trên đại học. Nhờ đó, về cơ bản nguồn nhân
lực đã đáp ứng tốt nhu cầu và trở thành yếu tố quyết định những thành tựu phát triển kinh
tế thành phố.
Tuy nhiên, trong điều kiện mới, xuất hiện một số bất cập có thể cần lưu tâm. Đó là,
chưa thể hiện rõ và xuyên suốt tầm nhìn dài hạn trong quá trình phát triển nguồn nhân
14
lực; chưa cụ thể hóa mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ giữa chiến lược phát triển nhuồn nhân
lực với chiến lược phát triển kinh tế, giữa nguồn nhân lực với các nguồn lực khác trong
xây dựng các dự án, chương trình kinh tế; cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ và theo
ngành-nghề chưa hợp lý (theo số liệu Cục Thống kê, năm 2009 tương quan giữa cao
đẳng, đại học/trung học/công nhân kỹ thuật là 1: 0,31: 0,45) và chậm có giải pháp xử lý
hiệu quả; nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng đang còn rất thiếu so với
nhu cầu của doanh nghiệp và nền kinh tế v.v...
2.2.4.Khảo sát nhu cầu nhân lực trình độ cao trong giai đoạn 2011-2015
Lĩnh vực y tế
Theo nhận định của lãnh đạo Sở Y tế, nhu cầu nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực
y tế của Thành phố trong 5 năm tới là khoảng 1.048 người, trong khi đó, theo ý kiến của
các đơn vị trực thuộc Sở như các bệnh viện, trung tâm y tế quận - huyện, các trung tâm y
tế cấp thành phố thì con số này cao hơn rất nhiều: khoảng 2.188 người với trình độ và
ngành nghề . Đối tượng được các cơ quan, đơn vị xác định có nhu cầu cao là bác sĩ có ít
nhất 3 năm kinh nghiệm, kế đến là các thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, bác sĩ nội trú.
Bảng 2.7: Nhu cầu nhân lực trình độ cao của các đơn vị thuộc lĩnh vực y tế
Đơn vị trực
Sở Y tế
TT
20
Tiến sĩ, bác sĩ –
2
dược sĩ chuyên khoa
3
Các chuyên ngành
Sản, nhi, nội hồi sức,
20
5
130
75 quản lý y tế, phục hồi
cấp II
Thạc
Ngành nghề
chức năng.
sĩ,
bác
0
150
189
141 Lâm sàn, bác sĩ đa khoa
150
250
265
162
nghiệm
5
Bác sĩ giỏi, xuất sắc,
chưa có kinh nghiệm
Bác sĩ TB, khá và
6
>=
3
năm
Nhân viên kỹ thuật
9
Cộng
50
50
205
108
370
678
1.334
854
Đối tượng khảo sát là lãnh đạo 15 cơ quan, đơn vị trong lĩnh vực xây dựng, tài
nguyên – môi trường (các sở, công ty, trung tâm, văn phòng, ban quản lý dự án). Kết quả
là trong giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2020, các cơ quan, đơn vị trong
lĩnh vực xây dựng, tài nguyên – môi trường cần khoảng 474 người có trình độ cao, trong
đó nhu cầu thu hút là 273 người, tập trung chủ yếu ở các ngành quy hoạch đô thị, kiến
trúc, xây dựng, quản lý đất đai và nông học.
Bảng 2.8: Nhu cầu nhân lực trình độ cao của các đơn vị thuộc lĩnh vực xây
dựng, tài nguyên môi trường
Quy hoạch đô thị
16
Kiến trúc, xây dựng, cấp
2
Tiến sĩ
18
20
38
8,02
nước, quản lý đất đai, quy
hoạch đô thị, quy hoạch
môi trường.
3
Thạc sĩ
60
33
xuất
sắc,
chưa có kinh
30
44
74
15,61
Nông học, kiến trúc, xây
dựng, quản lý đất đai
nghiệm
Kỹ sư khá
6
và >= 2 năm
Tự động hóa, kiến trúc, xây
30
57
87
Nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao trong các cơ quan, đơn vị thuộc lĩnh vực
khoa học công nghệ của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2015 là 146 người, trong đó
nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ chiếm tỉ trọng khá
lớn (23,97%), tập trung chủ yếu vào các ngành nghiên cứu vật liệu mới, năng lượng, môi
trường, sinh học, kinh tế, luật - hành chính..
17
Bảng 2.9: Nhu cầu nhân lực trình độ cao của các đơn vị thuộc lĩnh vực khoa
học công nghệ
Số lượng
TT
1
Đối tượng
Giáo sư, Phó
Giáo sư
Đào
Thu
tạo
hút
7
Thạc sĩ
16
15
31
20,95 trường, sinh học, kinh tế, xã
hội, hành chính
Cử nhân giỏi,
4
xuất sắc và >=
2 năm kinh
Tự động hóa vật chất, vật liệu
22
21
43
29,05 mới, kinh tế, xã hội, hành
chính
nghiệm
Cử nhân giỏi,
6
và >= 2 năm
kinh nghiệm
7
Cán bộ quản lý
Tự động hóa, vật liệu mới,
công nghệ, kinh tế
Vật liệu mới, an toàn bức xạ,
sinh học môi trường
Chuyển giao công nghệ, quản
lý khoa học
Lĩnh vực giáo dục
Theo nhận định của một đại diện lãnh đạo Sở Giáo dục – Đào tạo, trong giai đoạn
2011 – 2015, lĩnh vực giáo dục của Thành phố cần đào tạo và thu hút thêm khoảng 10 tiến
18
sĩ, 100 thạc sĩ và 100 cán bộ quản lý giáo dục, nhu cầu giáo viên có trình độ cử nhân
không được xác định rõ. Các phiếu trả lời khác trong lĩnh vực giáo dục có độ phân tán lớn
nên không được tổng hợp để xử lý.
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGUỒN
NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAOTẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1.Một số giải pháp nâng cao nguồn nhân lực tại thành phố Đà Nẵng
thì đội ngũ cán bộ, công chức sẽ thiếu động lực; tâm huyết bị san sẻ. Nếu ý thức được
nhiệm vụ Chính trị, mỗi người tự rèn luyện, tự học tập cố gắng và trong một môi trường
thuận lợi của tổ chức thì hiệu quả nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực sẽ
tốt hơn.
(Theo Đặng Công Ngữ - Tạp chí Tổ chức Nhà nước 5/2008)
“Xây dựng chiến phá t triển nguồn nhân lực trình độ cao... và đội ngũ doanh nhân
và lao động lành nghề” là cần thiết và đúng đắn. Khi xây dựng chiến lược này cần căn
cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đến 2020 để nghiên cứu,
dự báo nhu cầu nguồn nhân lực về số lượng, chất lượng và cơ cấu theo trình độ - ngành
nghề có phân kỳ theo giai đoạn. Xác lập chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu cho từng ngành nghề, chú trọng công nghệ thông tin, công nghệ tự động
hóa, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, tài chính ngân hàng, dịch vụdulịch…
Cần xác lập chuẩn đầu ra và chương trình khung đào tạo đại học và trên đại học
cho một số ngành kinh tế trọng yếu của thành phố để kiểm định chất lượng đào tạo. Mở
rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt trên đại học và đào tạo nghề; chống
tình trạng chạy theo bằng cấp. Tăng cường kỹ năng chuyên sâu cho từng loại lao động,
ngành nghề; đào tạo theo địa chỉ, theo hợp đồng, liên kết chủ thể đào tạo với doanh
20
nghiệp và với nhà tuyển dụng. Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ (kể cả quan hệ lợi ích) với
các chủ thể đào tạo và nghiên cứu khoa học (trường, viện,…) trong nước, trên địa bàn.
Mở rộng hợp tác, liên kết với các chủ thể đào tạo có uy tín nước ngoài; sớm hình thành
trường Đại học quốc tế tại Đà Nẵng. Hoạt động bồi dưỡng và đào tạo lại kết hợp với đào
tạo nâng cao trình độ, kỹ năng luôn được coi trọng. Khuyến khích tự học tập chuyên môn,
tự rèn luyện kỹ năng của người lao động để công việc ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn.
Kế thừa và phát huy kết quả chính sách thu hút nhân tài, quan tâm hơn đến việc
xác định nhu cầu và tiêu chuẩn cán bộ cần thu hút. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế đãi ngộ
tuyển dụng. Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ (kể cả quan hệ lợi ích) với các chủ thể đào
tạo và nghiên cứu khoa học (trường, viện,…) trong nước, trên địa bàn. Mở rộng hợp tác,
liên kết với các chủ thể đào tạo có uy tín nước ngoài; sớm hình thành trường Đại học
quốc tế tại Đà Nẵng. Hoạt động bồi dưỡng và đào tạo lại kết hợp với đào tạo nâng cao
trình độ, kỹ năng luôn được coi trọng. Khuyến khích tự học tập chuyên môn, tự rèn luyện
kỹ năng của người lao động để công việc ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn.
Kế thừa và phát huy kết quả chính sách thu hút nhân tài, quan tâm hơn đến việc
xác định nhu cầu và tiêu chuẩn cán bộ cần thu hút. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế đãi ngộ
tương xứng và tạo môi trường thuận lợi nhất để khuyến khích họ phát huy hết tài năng và
cống hiến nhiều hơn cho thành phố. Hoàn thiện chính sách đầu tư tài chính của thành phố
đi đôi với khuyến khích và tạo điều kiện để huy động tối đa các nguồn lực xã hội cho sự
nghiệp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu lập Quỹ hỗ trợ phát triển
nguồnnhânlực.
Nâng tầm và đổi mới hoạt động của Trung tâm phát triển nguồn nhân lực trình độ
cao Đà Nẵng theo hướng hoạt động chuyên nghiệp như Viện nghiên cứu phát triển nguồn
nhân lực với chức năng tham mưu thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực của
thành phố. Nơi đây sẽ làm đầu mối kết nối quan hệ giữa thành phố với các chủ thể đào
tạo và tuyển dụng; tư vấn, phản biện cho mọi đối tượng về các vấn đề phát triển nguồn
nhân lực.
22
PHẦN KẾT LUẬN
Trong thời đại hiện nay,việc đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH thành phố Đà Nẵng
phải gắn liền với kinh tế tri thức và quá trình hội nhập quốc tế và hội nhập. Nền kinh tế tri
thức với những yêu cầu cao về tiềm lực trí tuệ và khoa học công nghệ đang đặt ra những
thử thách lớn đối với phát triển nguồn nhân lực, trong đó nguồn nhân lực trình độ cao
chiếm vị trí hàng đầu.Nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất đối với sự phát
triển bền vững và ổn định của các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực được coi là nguồn "tài
/> /> /> /> />
24