phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi nsnn trên địa bàn thành phố đà nẵng, thực trạng và giải pháp - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN VIẾT NHÃN
PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Trọng Thản
ĐÀ NẴNG – 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

NGUYỄN VIẾT NHÃN

ii
MỤC LỤC
MỤC NỘI DUNG Trang
Chương 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
4
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
1.1.1. Khái niệm về ngân sách nhà nước 4
1.1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước 5
1.1.3. Chức năng của ngân sách nhà nước 6

ĐỊA BÀN TỈNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
55
3.1. QUAN ĐIỂM, CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
55
3.1.1. Quan điểm phát triển 55
iii
3.1.2 . Mục tiêu tổng quát 55
3.1.3. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 55
3.2. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÂN CẤP
NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN Ở TP. ĐÀ NẴNG
56
3.2.1. Mục tiêu 56
3.2.2. Quan điểm 57
3.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÂN CẤP NGUỒN THU
NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG
57
3.3.1. Đề xuất và kiến nghị sửa đổi bổ sung Luật NSNN 57
3.3.2. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi thành phố Đà Nẵng giai đoạn
2011-2015
58
3.3.3. Một số giải pháp có tính bổ trợ 90
3.3.4. Các điều kiện thực hiện nhằm hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn
thu, nhiệm vụ chi NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai
đoạn 2011-2015
91
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

6
Bảng 2.6. Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2004-2006 40
7 Bảng 2.7. Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2004-2006 41
8
Bảng 2.8. Tỷ trọng chi ngân sách các cấp thời kỳ 2004-2006 42
9 Bảng 2.9. Tổng hợp thu NSNN trên địa bàn TP Đà Nẵng 2004-2006 46
10 Bảng 2.10. Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2009-2011 47
11 Bảng 2.11. Tỷ trọng chi ngân sách các cấp giai đoạn 2009-2011
48
12 Bảng 3.1. Định mức phân bổ Ngân sách cấp phường/xã 71
13
Bảng 3.2. Định mức phân bổ chi sự nghiệp đào tạo và dạy nghề
72
14 Bảng 3.3. Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 75
15 Bảng 3.4. Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 75
16 Bảng 3.5. Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 76
17 Bảng 3.6. Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 76
18 Bảng 3.7. Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 77
19 Bảng 3.8. Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 77
20 Bảng 3.9. Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 78
21 Bảng 3.10. Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 78
22
Bảng 3.11. Định mức phân bổ chi quản lý hành chính
79
23
Bảng 3.12. Định mức phân bổ ngân sách theo tiêu chí dân số cấp quận/huyện
83
24 Bảng 3.13. Định mức phân bổ ngân sách theo tiêu chí dân số cấp xã/phường
83
25 Bảng 3.14. Định mức phân bổ ngân sách theo tiêu chí dân số cấp quận/huyện

quản lý ngân sách đòi hỏi phải thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về
NSNN.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân
sách của thành phố Đà Nẵng hiện nay vẫn bộc lộ những mặt hạn chế cần được khắc
phục. Một số khoản thu phần lớn điều tiết cho cấp xã hưởng nhưng cấp xã chưa
phát huy hết việc khai thác triệt để nguồn thu trên địa bàn, dẫn đến thất thu. Một số
nhiệm vụ chi chưa được phân cấp đồng bộ….Mặt khác do chế độ chính sách thu
ngân sách thay đổi, một số nguồn thu của cấp huyện, cấp xã giảm đã ảnh hưởng đến
cân đối các khoản chi của cấp huyện, cấp xã. Để góp phần giải quyết những hạn
chế, tồn tại nêu trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài "Phân cấp nguồn thu, nhiệm
vụ chi NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, thực trạng và giải pháp" cho
Luận văn Thạc sỹ của mình, với mong muốn tìm những định hướng, giải pháp thích
hợp trong phân cấp quản lý NSNN, góp phần vào sự phát triển của nền tài chính
1
quốc gia và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá vấn đề lý luận về NSNN. Thông qua việc phân tích đánh giá
thực trạng phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để rút
ra những thành công, tồn tại và làm rõ nguyên nhân. Mục đích nghiên cứu của đề tài
là đề xuất quan điểm, các giải pháp nhằm xây dựng khung lý luận cơ bản, cần thiết
về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa
phương, đáp ứng yêu cầu của quản lý NSNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, thúc đẩy cải cách hành chính công, tạo điều kiện thu hút đầu tư, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn NSNN, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XVII,
nhiệm kỳ 2010- 2015 đã đề ra.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và cơ chế, chính
sách, luật pháp cũng như thực tiễn có liên quan đến phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ

NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm về ngân sách nhà nước
Tài chính nhà nước là một phạm trù kinh tế- lịch sử, gắn liền với sự ra đời
của nhà nước và nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước sử dụng quyền lực của
mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như
thuế bằng tiền, vay nợ để phục vụ cho hoạt động của mình hình thành nên ngân
sách nhà nước (NSNN), bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước.
Tuy nhiên thuật ngữ "ngân sách nhà nước" chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất xã
hội phát triển đến một giai đoạn nhất định. Lúc này các khoản thu, chi của nhà nước
được thể chế hoá bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNN
thuộc về Quốc hội và quyền hành pháp về NSNN giao cho Chính phủ điều hành.
Khi nghiên cứu về NSNN cần được xem xét cả biểu hiện bên ngoài và thực
chất bên trong của nó:
Căn cứ vào biểu hiện bên ngoài thì NSNN là một bảng dự toán thu, chi bằng
tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc
một số năm. Hàng năm Chính phủ dự toán các khoản thu vào quỹ NSNN, đồng thời
dự toán các khoản chi cho sự nghiệp kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, quản lý
hành chính từ quỹ NSNN và bảng dự toán này phải được Quốc hội phê chuẩn.
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ
của Nhà nước. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chính
luôn vận động giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thể kinh tế xã hội.
Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa Nhà nước với các chủ
thể khác, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước chuyển
dịch của một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của nhà
nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng để thực

Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về NSNN thông qua các đặc điểm của nó, đó là:
- Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn chặt với quyền lực kinh
tế, chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước. Nói một
cách cụ thể hơn, quyền lực của nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố
quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi của NSNN.
5
- Các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất
định. Đó là các Luật thuế, các chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu do Nhà
nước ban hành. Việc dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức các hoạt động thu, chi của
NSNN là một yếu tố có tính khách quan, bắt nguồn từ phạm vi hoạt động của NSNN
được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động tới mọi chủ thể kinh tế, xã hội.
Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN, quỹ tiền tệ tập trung lớn
nhất của nhà nước là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành
chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến.
Sau các hoạt động thu, chi NSNN là việc xử lý các mối quan hệ kinh tế, quan hệ
lợi ích trong xã hội khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia.
Xuất phát từ đặc điểm trên, ngân sách nhà nước nổi lên 2 đặc trưng cơ bản
đó là:
+ Một là, tính cưỡng chế, tức là các khoản thu có tính bắt buộc được quy
định bởi pháp luật (trừ các khoản thu ngoài thuế và phí), các khoản chi chịu sự giám
sát của pháp luật.
+ Hai là, tính không hoàn lại, tức là Nhà nước không mắc nợ khi thu và
không được hoàn trả khi chi (trừ các khoản ngân sách cho vay).
1.1.3. Chức năng của ngân sách nhà nước
Trong sự vận động và phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, với những
diễn biến kinh tế, vai trò của nhà nước được thay đổi, thì chức năng của ngân sách
nhà nước cũng cần được nhìn nhận lại cho phù hợp với tình hình mới.
Một là, cùng với các công cụ khác của Nhà nước, ngân sách nhà nước là một
công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chống lạm phát và
giảm thất nghiệp.

sách nhà nước ở nước ta, khái quát hoá kết quả nghiên cứu, khảo sát và đánh giá
thực tiễn đã đưa ra một số nguyên tắc như sau:
Một là, Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Điều 6 Hiến pháp nước cộng
hoà XHCN Việt nam năm 1992 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ
quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Hai là, Nguyên tắc công khai minh bạch: Công khai là để mọi người đều được
biết, Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu. Quản lý ngân sách phải
công khai minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân với tư cách là người
nộp thuế cho nhà nước. Quy tắc chung về tính minh bạch gồm các nội dung chủ yếu là:
7
- Ngân sách phải đảm bảo tính toàn diện. Điều này có nghĩa là các hoạt động
trong và ngoài ngân sách đều được phản ánh vào tài liệu trình cấp có thẩm quyền
xem xét quyết định.
- Đảm bảo tính khách quan độc lập. Các cấp, các đơn vị dự toán, các tổ chức
cá nhân được NSNN hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách, Nội
dung công khai theo các biểu mẫu quy định, thời gian công khai được quy định rõ
đối với từng cấp ngân sách.
Ba là, Nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Nhà nước phải đảm bảo trách nhiệm
trước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách. Chịu trách nhiệm hữu hiệu
bao gồm khả năng điều trần và gánh chịu hậu quả.
Bốn là, Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN: Cân đối NSNN ngoài sự cân bằng
về thu, chi còn là sự hài hoà hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; các
lĩnh vực, các ngành; các cấp chính quyền thậm chí ngay cả giữa các thế hệ (ví dụ: vay
nợ). Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ vai trò nhà
nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả và công
bằng. Vì vậy tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rất
quan trọng. Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn bù đắp.
1.1.5. Vai trò của ngân sách nhà nước
Thứ nhất, NSNN là kế hoạch tài chính vĩ mô trong các kế hoạch tài chính
của Nhà nước để quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, nó có vị trí quan trọng góp

- Ngân sách cấp xã, phường, (gọi chung là ngân sách cấp xã).
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống ngân sách nhà nước
NS CẤP TỈNH
NS CẤP HUYỆN
NGÂN SÁCH
CẤP HUYỆN
NGÂN SÁCH
CẤP XÃ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
9
1.2. PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp và mỗi cấp
đều được phân giao những nhiệm vụ nhất định. Để thực hiện những nhiệm vụ đó,
mỗi cấp lại được phân giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự, kinh tế, hành chính
và ngân sách. Việc hình thành hệ thống ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp thì việc
phân cấp ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan. Bởi vì mỗi cấp ngân sách
nhà nước đều có nhiệm vụ thu, chi mang tính độc lập. Trong việc tổ chức quản lý
tài chính nhà nước nếu cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thiết lập
phù hợp thì tình hình quản lý tài chính và ngân sách nhà nước sẽ được cải thiện góp
phần thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền kinh tế - xã hội.
Sự phân giao về ngân sách cho các cấp chính quyền làm nảy sinh khái niệm về
phân cấp quản lý ngân sách. Có thể hiểu về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước như sau:
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân định phạm vi trách nhiệm,
quyền hạn của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương tới địa phương trong
quá trình tổ chức tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ cho việc thực thi
chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chỉ xảy ra khi ở đó có nhiều cấp ngân sách,
phân cấp ngân sách thể hiện mối quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương.

cấp không hợp lý sẽ gây cản trở, khó khăn đối với quá trình quản lý của các cấp
hành chính nhà nước.
Hai là, Đối với điều hành vĩ mô nền kinh tế: Phân cấp quản lý ngân sách nhà
nước hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì phát triển
hoạt động của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến các địa phương mà
còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng địa phương
trong cả nước. Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá ngân sách nhà nước tốt hơn,
điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như mối quan hệ giữa các
cấp ngân sách để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô ngân sách nhà nước.
Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước có tác động quan trọng đến
hoạt động điều hành vĩ mô nền kinh tế của nhà nước thông qua chính sách tài khoá,
vì mức độ phân cấp giữa trung ương và địa phương có tác động lớn đối với mục tiêu
điều chỉnh kinh tế bằng chính sách tài khoá của nhà nước. Chính sách tài khoá là
11
công cụ quan trọng nhất trong tay nhà nước để điều hành kinh tế vĩ mô. Chủ trương
và định hướng thu, chi ngân sách nhà nước theo hướng “nới lỏng” hay “thắt chặt” là
những biện pháp cốt yếu của Chính phủ để ứng phó với những diễn biến của nền
kinh tế nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng, ổn định và phát triển bền vững. Nếu
mức độ phân cấp tập trung về phía trung ương lớn thì quá trình điều chỉnh được
thực thi nhanh hơn và ngược lại nếu mức độ phân cấp tập trung về phía địa phương
nhiều hơn sẽ dẫn đến thời gian điều chỉnh chậm hơn bởi vì khi địa phương được
phân cấp mạnh thì quyền hạn trong thu, chi ngân sách địa phương được mở rộng và
linh hoạt hơn. Chính vì vậy cần xây dựng một phương án phân cấp hợp lý để vừa
đảm bảo thực hiện được mục tiêu của chính sách tài khoá vừa tránh được việc tập
trung quá cao.
1.2.4. Nguyên tắc cơ bản trong phân cấp quản lý NSNN
Để đảm bảo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đem lại kết quả tốt cần
quán triệt đầy đủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn

phương, nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng không đáp ứng được yêu cầu
chi của địa phương thì sẽ áp dụng phương pháp bổ sung cân đối.
Phân cấp nhiệm vụ chi phải gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là những vấn đề liên quan mật
thiết đến đời sống dân cư trên địa bàn.
- Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào ngân sách cấp đó đảm bảo; việc ban
hành và thực hiện chính sách, chế độ làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp đảm
bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp.
- Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý
nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ
ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ.
- Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền
địa phương do Hội đồng nhân dân cấp thành phố quyết định, thời gian thực hiện
phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xã
được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách để
quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp.
13
Hai là, Đảm bảo vai trò chủ đạo của Trung ương và vị trí độc lập của ngân
sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất. Trong nền kinh tế thị trường,
ngân sách trung ương ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ lớn, quan trọng như quốc
phòng, an ninh, ngoại giao, đầu tư phát triển còn phải tổ chức quản lý và điều tiết
mọi hoạt động kinh tế, thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô. Chính quyền cấp trên cũng
có nhiệm vụ quan trọng lớn hơn chính quyền cấp dưới. Để thực hiện nhiệm vụ, mỗi
cấp chính quyền cần có trong tay nguồn lực tài chính nhất định, chính quyền cấp
trên cần có nguồn lực tài chính lớn hơn cấp dưới nhưng phải đảm nhận cấp kinh phí
đáp ứng cho các nhiệm vụ, yêu cầu to lớn và trọng đại có liên quan đến quốc gia
hoặc phạm vi lãnh thổ rộng lớn hơn. Ngân sách các cấp chính quyền địa phương
phải nâng cao tính chủ động sáng tạo trong việc phân bổ, khai thác tiềm năng thế
mạnh của địa phương, làm cho nguồn lực tài chính quốc gia thêm dồi dào. Muốn
vậy ngân sách các cấp chính quyền ở địa phương phải có vị trí độc lập trong hệ

phương án được cấp thẩm quyền phê duyệt.
+ Hỗ trợ một phần để xử lý khó khăn đột xuất: khắc phục thiên tai, hoả hoạn,
tai nạn trên diện rộng với mức độ nghiêm trọng, sau khi ngân sách cấp dưới đã sử
dụng dự phòng, một phần quỹ dự trữ tài chính của địa phương nhưng chưa đáp ứng
được nhu cầu.
+ Hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết, cấp bách khác, mức bổ sung
theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
+ Số bổ sung theo mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
được xác định hàng năm. Mức bổ sung cụ thể được căn cứ khả năng cân đối ngân
sách cấp trên và yêu cầu về mục tiêu cụ thể của cấp dưới. Việc sử dụng vốn, kinh
phí bổ sung theo mục tiêu phải theo đúng mục tiêu quy định.
Ngoài ra, việc thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền qua chi
ngân sách cấp trên vào đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cũng được sử dụng như
biện pháp bổ trợ cho hai phương thức trên.
1.2.5. Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ giữa các
cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của ngân
sách nhà nước, từ đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực
về quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính quyền. Vì vậy nội dung phân cấp
quản lý ngân sách nhà nước về cơ bản bao gồm 3 nội dung chủ yếu sau:
15
Một là, Về quyền lực: Phân cấp ban hành chế độ, chính sách, tiêu chuẩn,
định mức:
Trong quản lý ngân sách nhà nước, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức có vai
trò và vị trí hết sức quan trọng. Đó không chỉ là một trong những căn cứ quan trọng để xây
dựng dự toán, phân bổ ngân sách và kiểm soát chi tiêu, mà còn là một trong những tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng quản lý và điều hành ngân sách của các cấp chính quyền.
Thông qua việc phân cấp nhằm làm rõ vấn đề cơ quan nhà nước nào có thẩm
quyền ban hành ra các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, phạm vi, mức độ
của mỗi cấp chính quyền. Cơ sở pháp lý này được xây dựng dựa trên hiến pháp

xã hội, quốc phòng, an ninh do địa phương trực tiếp quản lý. Việc đẩy mạnh phân
cấp quản lý ngân sách trong điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ quản lý ở các
vùng, miền khác nhau là động lực quan trọng để khơi dậy các khả năng của địa
phương, xử lý kịp thời các nhiệm vụ của Nhà nước trên phạm vi từng địa phương.
Ngân sách cấp trên thực hiện nhiệm vụ bổ sung ngân sách cho ngân sách cấp
dưới dưới hai hình thức: Bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu.
Nội dung phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp được quy
định cụ thể tại các điều 30, 31, 32, 33, 34 Luật NSNN năm 2002. Trong đó quy định
nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương như sau:
1.2.5.1. Nguồn thu của ngân sách địa phương
- Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%: Theo cơ chế phân cấp
hiện tại, các khoản thu mà NSĐP được hưởng 100% gồm các khoản thu như: thuế,
phí, lệ phí và các khoản thu nộp ngân sách khác, Cụ thể
+ Thu từ thuế: Thuế nhà đất, thuế tài nguyên (không kể thuế tài nguyên hoạt động
dầu khí); Thuế môn bài; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp;
+ Thu từ phí và lệ phí: Lệ phí trước bạ; phần nộp ngân sách theo quy định
của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan đơn vị thuộc địa phương tổ
chức thu, không kể phí xăng dầu;
+ Các khoản thu ngoài thuế: Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt
nước, không kể tiền thu thuê mặt nước thu từ hoạt động dầu khí; Tiền đền bù thiệt
hại khi nhà nước thu hồi đất; tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
Thu nhập từ vốn góp của NSĐP; Tiền thu hồi vốn của NSĐP tại các cơ sở kinh tế,
thu từ quỹ dự trữ của cấp thành phố; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức cá
nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo quy định của pháp luật; thu từ quỹ
17
đất công ích và hoa lợi công sản khác; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp
luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do địa phương quản lý;
+ Các khoản thu khác: Huy động từ các tổ chức cá nhân theo quy định của
pháp luật; Đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước;
Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; Thu kết dư NSĐP;

+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện các chính sách xã hội đối với đối tượng do địa phương quản lý;
+ Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý;
+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư;
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp thành phố;
- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
Ngân sách địa phương được sử dụng nguồn thu hưởng 100%, số thu được
phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia và số bổ sung
cân đối từ ngân sách cấp trên để cân đối thu, chi ngân sách cấp mình, bảo đảm các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh được giao.
- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính
quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp thành phố quyết định. Các khoản thu
phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:
+ Các khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác ngân sách địa
phương hưởng 100% theo quy định tại Điểm 1.3.1 phần II của Thông tư
59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003;
+ Các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương phần ngân sách địa phương được hưởng theo quy định tại Điểm 1.1.2 phần
II của Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003;
- Số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới ở địa
phương được xác định theo nguyên tắc xác định số chênh lệch giữa số chi và nguồn
thu ngân sách các cấp dưới (thu 100% và phần được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%)
từ các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách chính quyền địa phương).
Ba là, phân cấp về quản lý chu trình ngân sách, tức là phân công, phân định
trách nhiệm, quyền hạn trong lập, chấp hành và quyết toán NSNN:
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status