Điều tra các vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn thành phố Hồ ChíMinh - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả - Pdf 32

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ANTT
BLHS
CA
CAND
CSĐ T
CSKV
CSND
NS
QLHC
TTXH
TP
TW
XHCN

An ninh trật tự.
Bộ luật hình sự.
Công an.
Công an nhân dân.
Cảnh sát điều tra.
Cảnh sát khu vực.
Cảnh sát nhân dân.
Năm sinh.
Quản lý hành chính.
Trật tự xã hội.
Thành phố.
Trung ương.
Xã hội chủ nghĩa.

1



2


Đảng và Nhà nước, Nghị quyết của Đảng ủy CATW về nhiệm vụ công tác Công
an năm 2005, số 04/ NQ/ ĐU CATW (VP) ngày 29 tháng 12 năm 2004 đã xác
định mục tiêu, yêu cầu của công tác Công an năm 2005 là: “ Tiếp tục kiềm chế
hoạt động của các loại tội phạm, phát hiện triệt phá hết các băng, nhóm tội phạm
có tổ chức, các tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội”[25].
Địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội lớn của cả nước và khu vực phía Nam. Với dân số hơn 6 triệu
người, gồm 24 quận, huyện; 318 phường, xã, thị trấn; là địa phương có số dân
tạm trú biến động lớn ( hơn 1,5 triệu người tạm trú) và là thành phố nằm trung
tâm khu kinh tế trọng điểm phía Nam được bao bọc xung quanh bởi các tỉnh
Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu và Long An nên tốc độ phát triển kinh
tế, phát triển công nghiệp và quá trình đô thị hóa rất nhanh. Tuy vậy, cùng với xu
thế chung của cả nước và chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều nguyên nhân thời
kinh tế mở cửa, lại là địa bàn trọng điểm về ANTT cho nên tình hình phạm pháp
hình sự và tệ nạn xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh luôn diễn biến hết sức phức
tạp. Tính trung bình hàng năm có khoảng 7.500 vụ phạm pháp hình sự xảy ra,
trong đó hơn 550 là các vụ án cố ý gây thương tích. Tính riêng trong năm 2004 đã
có 6.958 vụ phạm pháp hình sự và 455 vụ cố ý gây thương tích, để lại thương tật
cho nhiều người, tiêu hao nhiều thời gian, tiền bạc của nhân dân, gây tâm lý
hoang mang, lo sợ cho một bộ phận cộng đồng dân cư. Trong khi đó, công tác
điều tra, xử lý các vụ án cố ý gây thương tích của lực lượng CSĐT Công an thành
phố Hồ Chí Minh còn gặp nhiều vướng mắc, nhất là việc truy bắt đối tượng gây
án; xác định và lấy lời khai người làm chứng; xác định mức thương tật của người
bị hại, xác định khung tội danh đối với kẻ gây án... dẫn đến tình trạng có nhiều vụ
án để kéo dài không giải quyết dứt điểm, nhiều vụ phải xét xử nhiều lần, qua
nhiều cấp hoặc bị khiếu kiện nhiều nơi, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành

Thanh Huyền- năm 2002).
- Đặc điểm hình sự tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn thành phố
Hải Phòng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra. ( tác giả: Trần
Nguyên Quân- năm 2003).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích :
+ Củng cố lý luận về hoạt động điều tra các vụ án cố ý gây thương tích.

4


+ Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt
động điều tra các vụ án cố ý gây thương tích do lực lượng CSĐT Công an thành
phố Hồ Chí Minh tiến hành trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động điều tra các vụ án cố
ý gây thương tích do lực lượng CSĐT tiến hành.
- Làm rõ thực trạng hoạt động điều tra các vụ án cố ý gây thương tích do lực
lượng CSĐT tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến tháng 6 năm
2005.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều
tra các vụ án cố ý gây thương tích do lực lượng CSĐT tiến hành trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh thời gian tới.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Hoạt động điều tra các vụ án cố ý gây
thương tích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.

- Phần nội dung: Gồm 3 chương
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động điều tra các vụ
án cố ý gây thương tích do lực lượng CSĐT tiến hành.
+ Chương 2: Thực trạng hoạt động điều tra các vụ án cố ý gây thương tích
do lực lượng CSĐT tiến hành tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ 2001
đến tháng 6/ 2005.
+ Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều
tra các vụ án cố ý gây thương tích do lực lượng CSĐT tiến hành tại địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh thời gian tới.
- Kết luận.
- Phần phụ lục.
- Danh mục tài liệu tham khảo.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH DO LỰC LƯỢNG CSĐT
TIẾN HÀNH.
1.1. Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích.
1.1.1. Khái niệm tội phạm cố ý gây thương tích.
Trong hoạt động điều tra tội phạm, để giải quyết vụ án một cách nhanh
chóng, chính xác thì một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra đó là phải hiểu rõ
về bản chất của hành vi phạm tội cũng như những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của
loại tội phạm đó. Chính vì vậy, để đấu tranh phòng chống tội phạm cố ý gây
thương tích có hiệu quả, vấn đề đầu tiên đặt ra là phải xác định rõ khái niệm cũng
như những dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này. Thực tiễn đấu tranh phòng,
chống tội phạm nói chung và loại tội phạm cố ý gây thương tích ở nước ta hiện
nay càng thể hiện rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề nhận thức trên.

hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến
60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật
nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của
người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù
từ sáu tháng đến hai năm.”
* Tại khoản 1, Điều 106- BLHS quy định: “ Người nào cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên
hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt
cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một
năm.”[6]
Từ các quy định trên của Bộ luật hình sự cho thấy: Cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do lỗi cố ý là dấu hiệu bắt buộc của
loại tội phạm này.
Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
được hiểu là:
+ Gây thương tích cho người khác: Là hành vi mà người phạm tội dùng sức
mạnh vật chất tác động lên thân thể người khác làm cho người đó có những
thương tích nhất định (để lại dấu vết). Việc dùng sức mạnh vất chất có thể bằng
chân tay hoặc các công cụ phương tiện hỗ trợ như dao, súng, gậy.... làm cho nạn
nhân mất đi một hay nhiều bộ phận trên thân thể.
+ Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Là hành vi mà người phạm tội
dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể người khác làm cho sức khỏe của
nạn nhân yếu đi, không còn nguyên vẹn như trước mặc dù không để lại dấu vết
trên thân thể họ.

8


Người khác nói ở đây được hiểu là trường hợp không phải gây thiệt hại cho
sức khỏe của chính bản thân mình. Nếu trường hợp gây thiệt hại cho sức khỏe



* Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Trên cơ sở Điều 104- Bộ luật hình sự 1999, các yếu tố cấu thành tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thể hiện như sau:
- Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm vào quyền bảo hộ về sức
khỏe của con người.
- Mặt khách quan của tội phạm:
+ Gây thương tích cho người khác;
+ Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
+ Về dấu hiệu hậu quả của tội phạm này được xác định ở mức độ thương
tích, hoặc mức độ tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân từ 11% trở lên đến 30%.
Nếu mức thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe từ 31% trở lên thì được coi là tình
tiết định khung tăng nặng khi quyết định hình phạt. Tỷ lệ % thương tích là
kết quả giám định của Hội đồng giám định y khoa.
Ngoài ra tại Điều 104- BLHS còn quy định 10 trường hợp cụ thể từ điểm a
đến điểm k khoản 1 làm cơ sở để tăng nặng khung hình phạt hoặc áp dụng trong
trường hợp tỷ lệ thương tích dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp
được quy định từ điểm a đến điểm k, khoản 1, Điều 104- BLHS, người có hành
vi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi
cố ý.
- Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.
- Về hình phạt:
Tại khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt cải tạo không giam giữ
đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.
Trong khoản 2, quy định hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm cho trường hợp
phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ
thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các

Tình trạng đã đưa người phạm tội không thể hoàn toàn tự chủ, không thể
kìm chế hành vi phạm tội của mình. Nếu người phạm tội chỉ bị kích động, sự
kích động chưa mạnh thì không thỏa mãn dấu hiệu này. Việc xác định tình tiết
bị kích động mạnh hay chưa mạnh cần dựa vào từng vụ án cụ thể.

11


Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội phải do hành vi
trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên đối với người phạm tội hoặc
đối với người thân của người phạm tội. Hành vi trái pháp luật nói chung của nạn
nhân phải là nghiêm trọng. Về mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào từng trường
hợp cụ thể của hành vi trái pháp luật dẫn đến tình trạng thần kinh của người phạm
tội bị kích động mạnh.
- Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện do người có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên.
- Về hình phạt:
Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định khung hình phạt cảnh cáo, cải
tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm.
Trong khoản 2, quy định hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm cho các trường
hợp phạm tội đối với nhiều người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người
hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.
* Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Theo quy định tại Điều 106- Bộ luật hình sự, cấu thành tội phạm của tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng được thể hiện như sau:
- Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm vào quyền bảo hộ về sức
khỏe của con người.

1.1.3. Phân biệt tội cố ý gây thương tích với tội giết người (trong trường phạm
tội chưa đạt).
Trong thực tế hoạt động điều tra, đây là hai trường hợp thường gây ra sự
nhầm lẫn, vì ranh giới giữa hai tội danh trên rất gần nhau, chính vì thế việc phân
biệt và xác định đúng tội danh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tiến
hành các hoạt động điều tra vụ án cũng như quá trình xử lý sau này.
Để phân biệt được chính xác hai trường hợp trên, cần chú ý một số vấn đề
sau đây:
* Những vấn đề giống nhau và yêu cầu đặt ra để phân biệt.
Trên thực tế, hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích và tội giết
người (trong trường phạm tội chưa đạt) cũng tương tự nhau, đó là dùng sức mạnh

13


vật chất để tác động vào thân thể người khác bằng các hình thức khác nhau. Ở tội
cố ý gây thương tích hậu quả của nó là thương tích hoặc các tổn thương khác.
Còn ở tội giết người (trong trường phạm tội chưa đạt) cũng vậy, chỉ khác là do
yếu tố khách quan nên người phạm tội chưa thực hiện hết hành vi như mong
muốn là tước đoạt sinh mạng của nạn nhân, vì vậy cũng chỉ dừng lại ở mức độ
thương tích hoặc tổn thương khác cho nạn nhân. Ví dụ: A cố ý gây thương tích,
bằng cách dùng dao đâm vào B, hậu quả là B bị thương tích là 35%. Trường hợp
khác M định giết N cũng bằng cách dùng dao đâm vào N, nhưng mới đâm được
một nhát thì bị E ngăn lại, nên chưa đâm đúng chỗ có thể làm cho N chết mà chỉ
để lại thương tích cho N là 25%. Trong 2 trường hợp trên, A coi như đã thỏa mãn
ý định gây thương tích cho B, Còn mục đích của M không phải chỉ dừng lại là
làm cho N bị thương nhưng vì có E ngăn chặn nên M không thực hiện được ý
định là tước đoạt tính mạng của N.
Như vậy, cả 2 trường hợp trên dấu hiệu về mặt khách quan đều có những
điểm tương tự nhau như: đâm, chém....do đó, dấu hiệu duy nhất để phân biệt là ý

D mà chỉ muốn gây thương tích cho D.
- Vị trí trên cơ thể nạn nhân mà người phạm tội lựa chọn để tấn công.
Đây cũng là một tình tiết khá quan trọng để xác định mục đích của người
phạm tội. Thông thường, muốn cho nạn nhân chết, người phạm tội phải tấn công
vào những nơi xung yếu trên cơ thể nạn nhân như: Vùng đầu, vùng ngực, vùng
cổ, vùng bụng.... Còn trường hợp người phạm tội chỉ tấn công vào những nơi
không xung yếu trên cơ thể của nạn nhân chứng tỏ họ không muốn tước đoạt tính
mạng của nạn nhân.
Khi xem xét phương tiện mà người phạm tội sử dụng phải kết hợp với vị trí
trên thân thể nạn nhân mà người phạm tội lựa chọn để tấn công. Nếu người phạm
tội sử dụng phương tiện có tính chất nguy hiểm cao lại nhắm vào nơi xung yếu
trên cơ thể nạn nhân để tấn công như: Dùng súng bắn, dao đâm vào ngực; dùng
thuốc độc bỏ vào miệng.... chứng tỏ người phạm tội muốn tước đoạt tính mạng
của nạn nhân. Như vậy, việc xem xét phương tiện sử dụng và vị trí tấn công trên
cơ thể nạn nhân chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong một trường hợp cụ thể.
- Cường độ tấn công và sự tương quan lực lượng giữa hai bên.
Đây cũng là một trong các yếu tố quan trọng để xác định mục đích của
người phạm tội. Cường độ tấn công càng mạnh gây nguy hiểm càng lớn, chứng tỏ
người phạm tội mong muốn cho nạn nhân chết. Ví dụ: A và B đánh nhau, A đánh

15


B trúng vào mặt, B đang choáng váng, lảo đảo ( cho thấy B mất khả năng tấn
công) nhưng A vẫn nhào tới dùng thanh sắt đánh liên tục nhiều phát vào đầu của
B, lúc đó có C nhìn thấy nên nhảy vào can thiệp và đưa B đi cấp cứu, hậu quả B
bị thương tật 61% vĩnh viễn. Rõ ràng trong trường hợp này A cố ý tước đoạt sinh
mạng của B.
Riêng vấn đề tương quan lực lượng chỉ mang tính chất tương đối, không
phải đơn thuần dựa trên trọng lượng cơ thể của hai bên để đánh giá mà còn phải

các yếu tố nêu trên vẫn rất khó khăn trong việc xác định đúng tội danh.
1.2. Đặc điểm hình sự và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án cố ý gây
thương tích.
1.2.1. Đặc điểm hình sự tội phạm cố ý gây thương tích.
Theo lý luận của Khoa học điều tra hình sự thì: “Đặc điểm hình sự tội phạm
là hệ thống những đặc điểm của những tội phạm và những tình tiết có liên quan
đến những tội phạm đó có ý nghĩa để điều tra và khám phá tội phạm”[32-515].
Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm hình sự tội phạm cố ý gây thương tích có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định phương hướng, cách thức, phương pháp tiến hành
hoạt động điều tra nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.
Quá trình nghiên cứu đặc điểm hình sự của tội phạm cố ý gây thương tích
cần tập trung vào những vấn đề sau:
* Về thủ đoạn gây án.
Nói đến thủ đoạn gây án tức là muốn nói đến cách thức mà thủ phạm sử
dụng trong quá trình gây án, nó bao gồm cả công việc chuẩn bị gây án, cách thức
khi gây án và cả những cách thức che dấu tội phạm sau khi gây án. Là một loại tội
phạm mang tính bạo lực, do vậy tội phạm cố ý gây thương tích thường có nhiều
thủ đoạn gây án khác nhau nhưng về cơ bản thủ phạm trong các vụ án cố ý gây
thương tích thường gây án nhanh, hành vi thường táo bạo và liều lĩnh. Hầu hết
các vụ án cố ý gây thương tích xảy ra thường gắn với mâu thuẫn giữa nạn nhân và
đối tượng gây án là đã có từ trước hay do mới bột phát.
Trong các vụ án mà đối tượng gây án và người bị hại có mâu thuẫn từ trước
thì phần lớn trước khi gây án đối tượng đều đã có sự chuẩn bị. Ở giai đoạn này,
thủ phạm từ chỗ nảy sinh ý định (chuẩn bị tư tưởng) thăm dò, nghiên cứu quy luật
sinh hoạt, đi lại của nạn nhân, nghiên cứu điểm mạnh, điểm yếu và các mối quan
hệ của họ để xác định hình thức, địa điểm, công cụ phương tiện và lực lượng gây
án.

17



18


tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt
quá giới hạn phòng vệ chính đáng (theo Điều 106- BLHS).
* Thời gian và địa điểm gây án.
Thời gian và địa điểm gây án của loại tội phạm cố ý gây thương tích cũng
thường phụ thuộc vào dạng tồn tại mâu thuẫn và nguyên nhân tồn tại mâu thuẫn
giữa đối tượng gây án và nạn nhân. Thông thường trong thực tế các vụ án xảy ra
do mâu thuẫn bột phát giữa đối tượng và nạn nhân, thì thời gian và địa điểm gây
án gắn liền với thời gian và địa điểm phát sinh mâu thuẫn. Trong trường hợp này
đối tượng không có sự tính toán, chuẩn bị trước. Do đó có thể xảy ra ở mọi nơi,
mọi lúc như trong nhà, ngoài đường, nơi công cộng, bến tàu, bến xe, chợ, nơi vui
chơi giải trí.v.v.... Có thể nói nơi nào xảy ra mâu thuẫn và việc giải quyết mâu
thuẫn đó bằng bạo lực hay có sự va chạm, xung đột xảy ra thì nơi đó xảy ra án
cố ý gây thương tích.
Đối với những vụ cố ý gây thương tích mà giữa đối tượng và nạn nhân có
mâu thuẫn từ trước thì đối tượng đều có chuẩn bị trước cho nên thời gian và địa
điểm gây án phụ thuộc vào ý thức chủ quan của kẻ phạm tội. Trong thực tế thủ
phạm thường chọn thời gian thích hợp để tấn công nạn nhân hoặc bí mật dùng
một lý do hợp lý điều nạn nhân đến một địa điểm mà chúng đã chuẩn bị để gây án
hoặc phục sẵn ở một nơi nào đó trên đường đi lại của nạn nhân để gây án một
cách bất ngờ và đạt được mục đích.
* Vũ khí và phương tiện gây án.
Trên thực tế, vũ khí và phương tiện trong các vụ án cố ý gây thương tích
rất phong phú và đa dạng. Những trường hợp vụ án xảy ra do mâu thuẫn từ
trước, đối tượng gây án có sự chuẩn bị trước thì chúng thường tính toán, lựa chọn
những vũ khí, phương tiện gọn nhẹ, dễ cất giấu, có tác dụng gây thương tích cho
nạn nhân để sử dụng như: Côn, gậy, lưỡi lê, lưỡi dao cạo, axít, các loại dao nhọn,

Đặc điểm khá rõ của đối tượng gây thương tích là: Nông nổi, hiếu thắng,
thiếu tự trọng, thích bạo lực, nhiều đối tượng ỷ thế cậy quyền hoặc dựa vào số
đông anh em, dòng họ; dựa vào thế lực của gia đình, cha mẹ, nhóm xã hội .v.v...
để gây án.
Như vậy: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động điều tra tội phạm cố ý
gây thương tích, khi nghiên cứu về đặc điểm hình sự tội phạm, chúng ta có thể
hiểu rằng: Đặc điểm hình sự của tội phạm cố ý gây thương tích là tập hợp những

20


thông tin điển hình, phổ biến phản ánh về đặc tính, những vấn đề có tính chất qui
luật về hoạt động của lọai tội phạm này.
Việc nghiên cứu nắm vững và vận dụng đúng đắn, khoa học các nội dung
của đặc điểm hình sự luôn có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động điều tra vụ
án hình sự nói chung, các vụ án cố ý gây thương tích nói riêng. Bởi vì nội dung
đặc điểm hình sự có mối liên hệ tác động lẫn nhau, quy định lẫn nhau. Chính
những yếu tố của đặc điểm hình sự tác động trực tiếp đến việc tồn tại ở hiện
trường, ở người bị hại, ở thủ phạm, người làm chứng và ở những dấu vết, đồ vật,
tài liệu.v.v… điều đó giúp cho điều tra viên và cơ quan điều tra thu thập tài liệu,
chứng cứ về vụ án; vạch định phương hướng, biện pháp điều tra cũng như các
biện pháp trinh sát phối hợp thích ứng trong quá trình điều tra làm rõ vụ án cố ý
gây thương tích.
1.2.2. Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án cố ý gây thương tích.
Trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra, việc xác định cụ thể và chính
xác những vấn đề cần chứng minh trong vụ án cố ý gây thương tích không những
giúp cho điều tra viên lập kế hoạch điều tra được đúng đắn, chính xác mà còn tạo
điều kiện giải quyết vụ án, xử lý người phạm tội được khách quan, đúng người,
đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả các tình tiết, các vấn đề


và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4.

Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra”.[7-54]
Việc chứng minh những vấn đề nêu trên phải được tiến hành thông qua hệ

thống chứng cứ.
Tại Điều 10, Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng
không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.[7-12]
Như vậy, căn cứ vào các Điều 104, 105, 106 của Bộ luật hình sự; Điều 63 và
Điều 10 của Bộ luật tố tụng hình sự- 2003. Căn cứ vào thực tiễn hoạt động điều
tra các vụ án cố ý gây thương tích, trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra
cần thu thập tài liệu để chứng minh làm rõ những vấn đề sau đây:
* Có tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên thực tế hay không?
Để có tài liệu, chứng cứ chứng minh có tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra
hay không, phải chứng minh được hành vi đã xảy ra có đủ dấu hiệu và yếu tố cấu
thành tội cố ý gây thương tích hay không. Để chứng minh điều này, phải
làm rõ những nội dung sau:
Có người nào bị thương tích hay không? Điều này có nghĩa là khi nhận được
tin báo về tội phạm cố ý gây thương tích, phải tiến hành xác minh làm rõ có việc
cố ý gây thương tích trên thực tế hay không?
Sau khi đã xác định được vụ việc cố ý gây thương tích là có thật, phải chứng
minh được ai bị thương tích, thương tích như thế nào, đã có đủ cấu thành tội
phạm cố ý gây thương tích hay chưa? Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên cần phải
làm rõ. Vì trên thực tế, có những trường hợp không có vụ án cố ý gây thương tích

22


có sự chuẩn bị trước hay do bột phát tức thời; khi gây án thủ phạm thực hiện như

23


thế nào; thương tích để lại cho nạn nhân nặng hay nhẹ; gây án xong thủ phạm có
ý thức tạo hiện trường giả, đánh lạc hướng cơ quan điều tra hay không.v.v... Mức
độ nguy hiểm của tội phạm được xác định trên cơ sở nghiên cứu tính chất của
hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra khi thực hiện hành vi đó. Do vậy, việc làm rõ
thủ đoạn gây án sẽ tạo ra cơ sở quan trọng để phân biệt rõ giữa tội phạm cố ý gây
thương tích với tội giết người, từ đó phục vụ cho hoạt động điều tra tiến hành
được thuận lợi, đúng pháp luật.
* Công cụ, phương tiện gây án.
Trong vụ án cố ý gây thương tích, hung khí, công cụ, phương tiện gây án là
những vật chứng quan trọng để chứng minh sự thật vụ án, góp phần giải quyết vụ
án được khách quan và chính xác.
Việc làm rõ hung khí, công cụ, phương tiện gây án là phải chứng minh làm
rõ thủ phạm đã sử dụng hung khí, công cụ, phương tiện gì để gây án, những loại
đó có thuộc hung khí nguy hiểm không (súng, dao găm, dao mổ lợn, axit ...);
nguồn gốc của hung khí, công cụ, phương tiện đó; thủ phạm tự làm hay mua sắm,
mang theo hay thu nhặt ở hiện trường để gây án.
Việc làm rõ hung khí, công cụ, phương tiện gây án là cơ sở rất quan trọng để
xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của vụ án. Thông thường, nếu thủ phạm sử
dụng hung khí nguy hiểm, lại chuẩn bị sẳn hoặc mang theo trong người phần nào
đã phản ánh được ý thức chủ quan của hung thủ. Trong nhiều trường hợp điều
này còn là cơ sở để định tội danh được chính xác, đúng pháp luật như để phân
biệt giữa tội cố ý gây thương tích với tội giết người trong trường hợp chưa đạt.
* Đặc điểm cá nhân của người bị hại.
Đối với vụ án cố ý gây thương tích việc làm rõ đặc điểm cá nhân của người
bị hại là một yêu cầu rất cần thiết và có ý nghĩa trong quá trình tiến hành hoạt

và người bị hại là như thế nào. Trong đó đặc biệt lưu ý các mối quan hệ được quy
định tại điểm đ và điểm k, khoản 1, Điều 104- BLHS.
+ Làm rõ thủ phạm có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; đạt độ tuổi
theo luật định hay chưa. Để xác định chính xác độ tuổi của thủ phạm phải căn cứ
vào một trong các giấy tờ sau: Giấy khai sinh, chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ
khẩu. Trường hợp không có các giấy tờ trên phải nhờ cơ quan chuyên môn xác
định về độ tuổi.

25


Trích đoạn Đặc tính xã hội: Khái niệm, phân loại và ý nghĩa tác dụng của dự báo tội phạm. Phương pháp dự báo tội phạm Nhận thức chung về kế hoạch phòng ngừa tội phạm. Phương pháp xây dựng kế hoạch phòng ngừa tội phạm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status