LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
Hình 1.1: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Bảng 2.1: Báo cáo nhanh đầu tư trực tiếp nước ngoài 2014-2015
Biểu đồ 2.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2014 theo lĩnh vực đầu tư
Biểu đồ 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2015 theo lĩnh vực đầu tư
Biểu đồ 2.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2014 theo đối tác đầu tư
Biểu đồ 2.4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2015 theo đối tác đầu tư
Biểu đồ 2.5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2014 theo địa phương
Biểu đồ 2.6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2015 theo địa phương
Bảng 2.2: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ ASEAN năm 2014
Bảng 2.3: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ ASEAN năm 2015
Biểu đồ 2.7: Số dự án đầu tư cấp mới của các quốc gia ASEAN vào Việt Nam
giai đoạn 2014-2015
Biểu đồ 2.8: Vốn đăng ký đầu tư cấp mới của các quốc gia ASEAN vào Việt
Nam giai đoạn 2014-2015 (Đơn vị: triệu USD)
Biểu đồ 2.9: Số lượt dự án đầu tư tăng vốn của các quốc gia ASEAN vào Việt
Nam giai đoạn 2014-2015
Biểu đồ 2.10: Vốn đăng ký tăng thêm của các quốc gia ASEAN vào Việt Nam
giai đoạn 2014-2015(Đơn vị: triệu USD)
Biểu đồ 2.12: Số quốc gia ASEAN đầu tư vào Việt Nam qua các giai đoạn
Biểu đồ 2.12: Số dự án từ ASEAN vào Việt Nam qua các giai đoạn
AFAS
ASEAN Framework Agreement on Services
AFEED
ASEAN Framework for Equitable Economic Development
AIA
ASEAN Investment Area
AICO
ASEAN Industrial Cooperation
AIFTA
ASEAN – India Free Trade Agreement
AJCEP
ASEAN – Japan Comprehensive Economic Partnership
AKFTA
ASEAN – Korea Free Trade Agreement
AMCAP
FAF
Food, Agriculture and Forestry
FDI
Foreign Direct Investment
FTA
Free Trade Agreement
GDP
Gross Domestic Product
GRTKTCE
Genetic Resources, Traditional Knowledge, and Traditional
Cultural Expressions
GVC
Global Value Chains
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 3
MPAC
Master Plan on ASEAN Connectivity
MRAs
Mutual Recognition Arrangement
NAFTA
North American Free Trade Agreement
NT
National Treatment
PR
Performance Requirements
RCEP
Regional Comprehensive Economic Partnership
SRL
Single Reservation List
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Chương 2: Ảnh hưởng của việc gia nhập AEC tới tình hình thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài từ ASEAN vào Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài từ ASEAN vào Việt Nam
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ AEC VÀ CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT
NAM KHI THAM GIA AEC TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
1.1. Các khái niệm
- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN): là một liên minh chính
trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
- Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): là một liên kết kinh tế của ASEAN,
hình thành trên cơ sở một hệ thống thể chế và thiết chế pháp lý, nhằm xây dựng
ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính cạnh
tranh cao, phát triển đồng đều giữa các thành viên và hội nhập hoàn toàn vào
nền kinh tế toàn cầu.
- Đầu tư: là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công
nghệ, đất đai,… vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều
sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận. Người bỏ ra một số lượng tài sản được
gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và
cũng có thể là nhà nước.
- Đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như
vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh
nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu.
1.2. Đôi nét về AEC
Mã sinh viên: 46771
Trang 7
giới.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Diện tích: 4.464.322 km2
- Dân số: 626.000.000 người (Ước lượng 2010)
- Mật độ dân số: 135 người/km2
- GDP (sức mua tương đương): Ước lượng 2010
Tổng số: 3.084.000 triệu USD
Bình quân đầu người: 5.131 USD/người
- GDP (danh nghĩa): Ước lượng 2010
Tổng số: 1.800.000 triệu USD
Bình quân đầu người: 2.995 USD/người
- Tổng giá trị thương mại: 2.113.658 triệu USD
- Tổng giá trị đầu tư: 74.277 triệu USD
- Các đối tác thương mại chính: China, EU, Japan, USA, Korea, India,...
1.2.2. Quá trình hình thành AEC
Tại tầm nhìn ASEAN 2020 được thông qua vào tháng 12 năm 1997, các
nhà lãnh đạo cấp cao của ASEAN đã có ý định thành lập lên một Cộng đồng
trong ASEAN, trong đó sẽ thiết lập một Khu vực Kinh tế ASEAN ổn định, phát
triển phồn thịnh, có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu
tư, vốn và lao động được lưu chuyển thông thoáng hơn, kinh tế phát triển đồng
đều, nghèo đói và phân hóa kinh tế - xã hội giảm bớt, thu hẹp khoảng cách giàu
nghèo.
Tuyên bố đó được khẳng định lại tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 9
(Bali, Indonesia, tháng 10/2003), thể hiện trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II
Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập SME
nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham
vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới
cung cấp toàn cầu.” (Trung tâm WTO, 2015)
1.2.3.1. Một thị trường đơn nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất
Để hướng đến mục tiêu xây dựng một thị trường đơn nhất và một cơ sở
sản xuất thống nhất, ASEAN đã đưa ra các biện pháp và nghiêm túc thực hiện
theo như: gỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; tạo điều kiện thuận lợi
cho thương mại phát triển, các tiêu chuẩn sản phẩm và các quy chế được hài
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
hòa, hợp chuẩn; đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết nhanh chóng thủ tục xuất
khẩu nói chung và thủ tục hải quan nói riêng; hoàn chỉnh và thực hiện nghiêm
túc các quy tắc về xuất xứ; các lĩnh vự dịch vụ, đầu tư cũng được cân nhắc tạo
điều kiện; tăng cường phát triển thị trường vốn của ASEAN đồng thời giúp cho
hàng hóa, vốn, lao động có tay nghề dịch chuyển được tự do, dễ dàng hơn trong
nội khối ASEAN song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông
qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng
lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát
triển các kỹ năng thích hợp.
Các biện pháp thực hiện AEC đã và đang được các nước thành viên
ASEAN triển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như
Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại
nghiệp được lưu chuyển tự do trong ASEAN là cam kết về các thỏa thuận công
nhận lẫn nhau (MRAs) về tiêu chuẩn, kỹ năng, chuyên môn, trình độ… Các
quốc gia thành viên ASEAN hiện nay đã có những thỏa thuận công nhận lẫn
nhau trong các ngành dịch vụ kiến trúc, cơ khí, kế toán, y tá và du lịch.
Về tự do hóa đầu tư, trong khuôn khổ Hiệp định Đầu tư toàn diện
ASEAN (ACIA), ASEAN sẽ biến mình trở thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn
trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. ACIA tiếp nối và phát huy thế mạnh từ
các hiệp định đầu tư trước đó, hứa hẹn sẽ mang tới một môi trường đầu tư thông
thoáng và tự do hơn. Năm lĩnh vực chính của Hiệp định ACIA là sản xuất – chế
tạo, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai khoáng và các dịch vụ phụ trợ
cho các ngành này. Trong thời gian tới, ACIA sẽ nghiên cứu và đưa ra thêm
nhiều hơn nữa các lĩnh vực mở cửa cho đầu tư. Điều này giúp cho vị thế của
ASEAN được nâng cao hơn, khiến ASEAN hấp dẫn hơn từ đó luồng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài sẽ đổ vào ASEAN nhiều hơn.
1.2.3.2. Một khu vực cạnh tranh về kinh tế
ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh công bằng, bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ , bảo hộ người tiêu dùng trong khu vực, phát triển thương mại điện tử,
phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay,
năng lượng, …
1.2.3.3. Mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
AFEED, hay còn gọi là Khuôn khổ ASEAN về phát triển kinh tế đồng
đều là một cách để ASEAN hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Trung tâm WTO, 2014)
- AEC thực chất không phải một thỏa thuận hay hiệp định được quy định
bằng các cam kết ràng buộc mà nó là một tiến trình, quá trình hình thành AEC
phải mất một khoảng thời gian, và sau khi hình thành các quốc gia ASEAN vẫn
phải tiếp tục hội nhập vào kinh tế khu vực bằng việc ký kết với nhau rất nhiều
các hiệp định, thỏa thuận, tuyên bố… mà có thể ràng buộc thực thi hoặc có thể
mang tính chất tham khảo, tự nguyện áp dụng.
Để đi đến hình thành lên AEC ngày nay, các quốc gia thành viên ASEAN
đã phải trải qua một quá trình thông qua việc thực hiện các cam kết đã được ký
kết trước đây (tiếp tục thực hiện theo lộ trình trong thời gian tới)
Thực thi từ phía Chính phủ: Theo thông tin của Bộ Công Thương, trong
các đợt rà soát hàng năm về lộ trình tổng thể cho việc thành lập AEC, Việt Nam
thường đạt được kết quả rà soát là đã hoàn thành được 85-90% khối lượng công
việc, tỷ lệ này là cao so với các nước trong khu vực. Trong kỳ rà soát tháng
10/2014, Việt Nam và Singapore đạt tỷ lệ hoàn thành 90% các biện pháp, trong
khi bình quân chung của các nước ASEAN là 82,1%.
1.2.5. Các khuôn khổ và lĩnh vực hợp tác trong AEC
- Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM)
- Hội đồng AFTA và các FTA ASEAN và các nước đối tác
+ Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – China (ACFTA)
+ Hiệp định Khung về Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Japan
(AJCEP)
+ Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Korea (AKFTA)
+ Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - India (AIFTA)
+ Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Australia – New Zealand
(AANFTA)
+ Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – EU
Hiệp định hợp tác về đầu tư đầu tiên của ASEAN. Hiệp định này ban đầu có tên
là Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư (IGA), chính thức có hiệu lực thực
thì vào ngày 02 tháng 08 năm 1988. Vào năm 1996, Hiệp định này được sửa đổi
bổ sung, tuy nhiên nhìn chung thì nội dung của Hiệp định còn hạn chế, chỉ bao
gồm 13 điều khoản chung nhất nhằm bảo hộ và khuyến khích đầu tư như “đảm
bảo đối xử công bằng, bình đẳng trong đầu tư, các quy định về quốc hữu hóa và
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
bồi thường, quyền chuyển vốn và lợi nhuận về nước của nhà đầu tư, thế quyền,
cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của hiệp định” (Bùi Thị Ngọc
Lan & Đoàn Quỳnh Thương, 2016).
Vào những năm 90, tình hinh kinh tế chính trị của thế giới nói chung và
của khu vực ASEAN nói riêng có nhiều biến động lớn, điển hình nhất là sự kết
thúc của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai thái cực Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ
nghĩa trên thế giới. “Đối với khu vực Đông Nam Á nói riêng, sự kiện này đã
làm giảm bớt các cam kết an ninh mà đi kèm với nó là những giúp đỡ về kinh tế
của USA và China đối với các quốc gia thành viên ASEAN, khiến các nước
trong khối bắt đầu phải tự mình đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về kinh tế từ
một số nước có nền kinh tế mới nổi như China, India và một số tổ chức quốc tế
khu vực đang ngày một lớn mạnh như Liên minh Châu Âu (EU), NAFTA,
MERCOSUR” (Bùi Thị Ngọc Lan & Đoàn Quỳnh Thương, 2016).
Thêm vào đó, hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế khu
vực nói riêng diễn ra ngày càng sôi động, các nước tích cực mở cửa giao thương
và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài rót vào nước mình. Dần dần, vốn đầu
tư nước ngoài trở thành chiếc chìa khóa vàng cho sự phát triển kinh tế của các
IGA và AIA đã thực hiện rất tốt vai trò của mình trong việc thúc đẩy
lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào ASEAN trong thời kỳ trước.
Năm 1970, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN là 460 triệu USD
và đến năm 1997 thì con số này đã tăng lên 34100 triệu USD, tức là trong còn
27 năm, tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng lên gấp 74 lần.
Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây nhất bắt nguồn từ cuộc
khủng hoảng tài chính USA, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nội khối vẫn
tăng mạnh mẽ, tăng 74,4 triệu USD so với dự đoán của giới chuyên môn. Tuy
vậy, hiệp định AIA vẫn chưa thực sự hấp dẫn những nhà đầu tư khó tính vì vẫn
còn tồn tại những mặt hạn chế.
Năm 2003, các nhà lãnh đạo cấp cao của ASEAN đã có những đề xuất
đầu tiên về ý tưởng thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN. “Tuyên bố Bali 2 ghi
nhận rằng hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN, ASEAN sẽ xây dựng cơ chế và
các biện pháp mới để tăng cường thực hiện các sáng kiến kinh tế hiện có bao
gồm Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về
dịch vụ (AFAS) và Khu vực đầu tư ASEAN (AIA); thúc đẩy hội nhập khu vực
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
các lĩnh vực ưu tiên; tạo điều kiện cho sự di chuyển của thể nhân, lao động lành
nghề và nhân tài; củng cố các thể chế của ASEAN, bao gồm cả việc cơ chế giải
quyết tranh chấp hiện có để giải quyết các tranh chấp về kinh tế nhanh chóng và
ràng buộc về mặt pháp lý; hướng tới mục tổng thể là tạo lập một khu vực kinh
tế ASEAN phát triển ổn định, thịnh vượng, đồng đều, có tính cạnh tranh cao và
hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Với những mục tiêu mới của AEC, nhiều
điều khoản trong AIA và IGA không đáp ứng được mục tiêu mà AEC đặt ra như
định liên quan tới các yếu tố về bảo hộ đầu tư và xúc tiến đầu tư. Cụ thể,theo
qui định tại Khoản 1 Điều IV “Mỗi bên kí kết trong phạm vi lãnh thổ của mình
sẽ đảm bảo bảo hộ đầy đủ đối với các khoản đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu
tư của bên kí kết khác theo qui định của bên kí kết đó”. Tiếp theo các qui định
tại Điều VI, VII, VIII, IX, X lần lượt ghi nhận các qui định liên quan tới bảo hộ
đầu tư như: tịch biên và bồi thường, chuyển tiền, thế quyền và giải quyết tranh
chấp. Nếu như IGA tập trung vào hai nội dung bảo hộ đầu tư và xúc tiến đầu tư
thì AIA ghi nhận những qui định liên quan tới các thành tố của hoạt động tự do
hóa đầu tư, thuận lợi hóa đầu tư và xúc tiến dầu tư. Theo qui định tại Khoản 1
Điều 6 các quốc gia thành viên cùng cam kết xây dựng và thực hiện các chương
trình sau: hợp tác và thuận lợi hóa, xúc tiến đầu tư và tăng cường hiểu biết,
thuận lợi hóa đầu tư. Như vậy, những nội dung được qui định trong IGA và AIA
không mang tính toàn diện như ACIA, bởi lẽ xét đến bối cảnh IGA được ban
hành xuất phát từ những nỗ lực ban đầu của ASEAN nhằm khuyến khích và
bảo hộ nguồn di chuyển vốn trong nội bộ ASEAN cho nên văn bản này chỉ tập
trung vào hai nội dung chính là bảo hộ và xúc tiến đầu tư.
Trong khi đó, với bối cảnh như đã được trình bày tại phần 1 nhằm thiết
lập Khu vực đầu tư ASEAN cho nên những nội dung pháp lý được ghi nhận
trong AIA ở phạm vi rộng hơn so với IGA. Tuy nhiên văn bản này vẫn chưa bao
quát hết được những nội dung pháp lý cần thiết để khuyến khích hoạt động đầu
tư trong ASEAN một cách hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN nói chung và Cộng
đồng kinh tế ASEAN nói riêng, ACIA được ban hành trên cơ sở tích hợp những
qui định của hai văn bản trước đồng thời bổ sung thêm những qui định mới. Nói
cách khác, các nội dung pháp lý của ACIA mang tính toàn diện hơn và theo đó
hoạt động đầu tư của ASEAN bao gồm 4 trụ cột: tự do hóa đầu tư, bảo hộ đầu
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 18
vi chủ thể nhà đầu tư theo IGA tương đối hẹp chỉ dừng lại công dân của quốc
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
gia thành viên và công ty dưới các loại hình công ty cổ phần, công ty hợp danh
và hiệp hội kinh doanh khác. AIA có sự mở rộng về phạm vi nhà đầu tư theo đó
nhà đầu tư bao gồm công dân của quốc gia thành viên và pháp nhân. Tuy nhiên
đến khi ACIA được ban hành, định nghĩa về nhà đầu tư được mở rộng hơn rất
nhiều và phù hợp với các qui định hiện hành trong các hiệp định đa phương
cũng như mục tiêu hoàn thành việc xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN vào
năm 2015. Theo qui định tại Khoản d Điều 4 nhà đầu tư bao gồm thể nhân và
pháp nhân của quốc gia thành viên đang hoặc đã tiến hành hoạt động đầu tư
trong lãnh thổ của quốc gia thành viên khác. Thể nhân được hiểu là người mang
quốc tịch hoặc quyền công dân hoặc quyền thường trú trên lãnh thổ của quốc
gia thành viên theo qui định của pháp luật quốc gia đó. Như vậy không chỉ dừng
lại ở chủ thể là công dân của quốc gia thành viên, ACIA còn mở rộng những ưu
đãi cho nhà đầu tư được quyền thường trú theo luật định của quốc gia thành
viên. Đối với chủ thể tiếp theo là pháp nhân được hiểu là bất cứ thực thể pháp lí
nào được thành lập hoặc tổ chức theo pháp luật của một quốc gia thành viên vì
lợi nhuận hay phi lợi nhuận, thuộc sở hữu tư nhân hay sở hữu nhà nước bao
gồm công ty, tập đoàn, liên danh, liên doanh, doanh nghiệp một chủ, hiệp hội
hoặc tổ chức. Bên cạnh đó pháp nhân theo qui định của ACIA còn mở rộng đối
với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nếu mang quốc tịch của một quốc gia
thành viên ASEAN, khi đầu tư sang quốc gia thành viên khác sẽ đương nhiên là
nhà đầu tư ASEAN.
Thứ hai, bên cạnh giải thích chi tiết một số thuật ngữ đã được qui định ở
tranh chấp làm cơ sở để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên về
hoạt động đầu tư, nhưng chỉ dừng lại ở phạm vi các tranh chấp liên quan tới
việc giải thích và áp dụng AIA hoặc bất kì thỏa thuận nào khác phát sinh từ
AIA thì ACIA qui định một phần riêng về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư
và quốc gia thành viên từ Điều 28 đến Điều 41. Phạm vi giải quyết tranh chấp là
những tranh chấp ảnh hưởng đến quyền lợi cơ bản của các bên liên quan cụ thể
những tranh chấp về đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, quản trị cấp cao và
Hội đồng quản trị, đối xử đầu tư, bồi thường trong trường hợp xung đột; chuyền
tiền; quản lý, điều hành, bán hoặc hủy bỏ một khoản đầu tư được cơ quan có
thẩm quyền của quốc gia thành viên có tranh chấp xác nhận bằng văn bản;
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
khoản đầu tư của nhà đầu tư được xác nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của quốc gia thành viên bị thiệt hại di hành vi vi phạm gây ra.
Có thể thấy rằng đây không phải là qui định hoàn toàn mới mà còn là một
điểm tiến bộ trong các qui định của ACIA. Tranh chấp, xung đột xảy ra trong
lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là hoạt động đầu tư là một điều không thể tránh khỏi
trên thực tế. Cho nên để hạn chế tối đa những thiệt hại đối với nhà đầu tư
ASEAN đã có những nỗ lực trong việc ban hành những qui định về giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực này một cách thống nhất, tiến bộ và phù hợp với đặc
thù riêng của ASEAN.
1.3. Những cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư trong khuôn khổ
AEC
Việt Nam cùng chung quan điểm với các nước thành viên ASEAN khác
được tự do đầu tư vào các lĩnh vực còn lại ngoài các lĩnh vực cấm đầu tư và lĩnh
vực đầu tư có điều kiện.
Ngày 26/11/2014, Luật Đầu tư 2014 số 67/2014/QH13 được Quốc hội
khóa XIII ban hành sửa đổi một số điều của Luật Đầu tư 2005, có hiệu lực từ
ngày 01/07/2015. Luật sửa đổi với 6 điểm cải cách quan trọng nhất. Bảo đảm
thực hiện nguyên tắc Hiến định về quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dân
trong các ngành, nghề mà Luật không cấm, trong đó, việc tập hợp, rà soát và
quy định cụ thể hai Danh mục nêu trên tại Luật này theo phương pháp loại trừ
(chọn bỏ) đã góp phần đổi mới căn bản nguyên tắc áp dụng pháp luật, từ việc
nhà đầu tư chỉ được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh những ngành
nghề mà pháp luật cho phép sang nguyên tắc được tự do đầu tư kinh doanh tẩt
cả các ngành nghề mà Luật không cấm hoặc quy định phải có điều kiện. Củng
cố, hoàn thiện cơ chế bảo đảm đầu tư phù hợp với quy định của Hiến pháp và
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hoàn thiện các quy định về ngành,
nghề ưu đãi đầu tư cũng như các nguyên tắc, điều kiện áp dụng ưu đãi nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút đầu tư. Tiếp tục cải cách thủ tục hành
chính gắn liền với việc nâng cao trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc triển
khai thực hiện dự án đầu tư, trong đó, bỏ thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư đối với tất cả các dự án đầu tư trong nước, đơn giản hoá hồ sơ, trình tự,
thủ tục và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư đối với nhà đầu tư nước ngoài (xuống còn 15 ngày). Hoàn thiện chế độ phân
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hà
Mã sinh viên: 46771
Trang 23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
cấp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư giúp giảm
đáng kể thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Hoàn thiện các quy định về hoạt
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trong Quyết định 66/2014/QĐ-TTg nêu trên cũng quy đinh đối với các
công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao không nằm trong Danh công nghệ
cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được
khuyến khích phát triển, nhưng thuộc trường hợp cấp thiết phục vụ nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội thì Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các
Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết
định.
- Ngày 15/5/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2015/NĐ-CP quy
định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp. Trong đó quy định rõ
về thời gian, vốn đầu tư, điều kiện cơ sở vật chất để hoạt động đối với các cơ sở
giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Ngày 18/8/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 123/2015/TT-BTC
hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam,
thay thế Thông tư số 213/2012/TT-BTC ngày 06/12/2012 của Bộ Tài chính
hướng dẫn hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán
Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2015. Thông tư nhấn mạnh
không hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại tổ chức kinh doanh chứng khoán.
- Ngày 30/09/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2015/NĐ-CP về
hoạt động giám sát và đánh giá đầu tư, thay thế cho Nghị định 113/2009/NĐ-CP
ngày 15/12/2009. Nghị định 84/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày
20/11/2015. Nghị định này quy định về giám sát, đánh giá chương trình, dự án
đầu tư, giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư và giám sát đầu tư của cộng đồng đối
với hoạt động đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; chi phí
giám sát, đánh giá đầu tư, điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện tư
vấn giám sát, đánh giá dự án đầu tư; điều kiện năng lực của cơ sở đào tạo đánh
giá dự án đầu tư; quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư.