Việc làm và ảnh hưởng của việc làm ở nông thôn tới phát triển kinh tế xã hội ở nước ta - Pdf 22

Lời nói đầu
Nền kinh tế nớc ta trong những năm qua đã đạt đợc những thành tích đáng
kể, nhất là kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Đời sống kinh tế xã hội ở nông
thôn nớc ta đã có nhiều thay đổi. Bên cạnh những thành quả đạt đợc đó, một
trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất vẫn là giải quyết việc làm cho ngời lao
động nông thôn.
Không có việc làm, nguồn nhân lực sẽ bị lãng phí, tăng trởng kinh tế bị
kìm hãm, thu nhập của ngời lao động giảm sút, tệ nạn xã hội và tội phạm phát
triển dẫn đến mất ổn định về kinh tế xã hội.
Chính vì vậy, đề án này không có tham vọng trình bày tất cả các khía cạnh
liên quan đến phát triển nông thôn nói chung mà chỉ có ý định trình bày một số
vấn đề liên quan đến lao động và việc làm cho ngời lao động ở nông thôn nớc ta
hiện nay.
Chơng I
Những vấn đề cơ bản về việc làm và ảnh hởng
của việc làm ở nông thôn tới phát triển
kinh tế xã hội nớc ta
I-/ Một số khái niệm cơ bản:
1-/ Việc làm:
Việc làm theo quy định của Bộ Luật lao động là những hoạt động có ích
không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho ngời lao động (Điều 13 -
Chơng II - Bộ Luật lao động).
2-/ Dân số hoạt động kinh tế:
Là những ngời đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm
nhng có nhu cầu làm việc.
1
3-/ Ngời có việc làm:
Là những ngời đang hoạt động trong nền kinh tế quốc dân để nhận tiền
công - tiền lơng, lợi nhuận; Ngời có việc làm nhng không có thu nhập, lợi
nhuận đó là những ngời làm việc trong gia đình mình và những ngời trớc đó có
việc làm nhng trong tuần lễ điều tra không có việc làm.

còn thấp, sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, song nhờ phát huy nội lực cùng với
tranh thủ sự hợp tác quốc tế nên nông nghiệp Việt Nam đã đạt đợc những thành
tựu quan trọng:
Sản lợng toàn ngành nông - lâm - ng nghiệp tăng trởng nhanh và ổn định,
đạt bình quân 4,3%/năm. Sản lợng lơng thực tăng bình quân 1,3 triệu tấn/năm
(tăng 5,7%/năm). Lơng thực bình quân đầu ngời tăng từ 281 kg (1987) lên 398
kg (1997), tạo khả năng đảm bảo an ninh lơng thực quốc gia và đa Việt Nam
thành một nớc xuất khẩu gạo lớn trên thế giới (xuất khẩu trên 3 triệu tấn
gạo/năm, đứng thứ 2 trên thế giới)
1
.
Để có đợc những thành tựu quan trọng đó thì vấn đề phân công và sử dụng
lao động nông thôn đóng vai trò vô cùng to lớn. Trong những năm qua chúng ta
đã từng bớc giải phóng tiềm năng lao động, ngời lao động trở thành ngời chủ
thực sự trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên cơ sở lấy hộ gia
đình làm đơn vị kinh tế tự chủ sự thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế
nhiều thành phần đã tạo ra động lực to lớn để phát triển kinh tế, giúp cho quá
trình giải quyết việc làm, sử dụng lao động có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó chúng
ta luôn khuyến khích ngời lao động nông thôn lực chọn các công việc, ngành
nghề phù hợp với khả năng của họ. Điều này giúp cho chuyên môn hoá trong
lao động ngày càng sâu sắc, ai thạo việc gì làm việc ấy. Tất cả những hoạt động
đó đã giúp cho kinh tế nông thôn ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy nền
kinh tế xã hội cả nớc phát triển.
1
Tham khảo số liệu của Tiến sĩ Nguyễn Lê Minh - Bộ Lao động thơng binh và xã hội.
3
chơng II
thực trạng lao động - việc làm ở nông thôn
nớc ta hiện nay
Việc Nam là một nớc nông nghiệp. Hiện nay vẫn còn gần 80% dân số sinh

2
).
Các số liệu thống kê cho ta thấy số liệu sau:
Lực lợng
lao động
nông thôn
Lực lợng lao động
nông thôn trong độ
tuổi lao động
Số ngời thiếu việc làm ở nông thôn
Tổng
Từ 15-24 tuổi Từ 25-34 tuổi
Số lợng Tỉ lệ Số lợng Tỉ lệ
32 tr 27 tr 7,2 tr 2,63 tr 36-37 (%) 2 tr 27-28 (%)
Nguồn: Số liệu ở bảng này tham khảo từ bài viết: Phát triển dạy nghề
cho thanh niên nông thôn nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn của Lê Doãn Khải - Tạp chí lao động xã hội, 3/1999.
Các tỉ lệ này cho thấy tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn hiện nay khá
trầm trọng và chủ yếu lại ở vào lứa tuổi thanh niên là số lao động khoẻ mạnh,
nhanh nhạy và có khả năng tiếp thu nhanh các kiến thức mới.
Bên cạnh vấn đề số lợng dân số bớc vào độ tuổi lao động tăng nhanh gây
ra hiện tợng d thừa lao động, hơn nửa triệu lao động dôi d phải trở về làm
ruộng, trong những năm qua do tinh giảm biên chế ở khu vực Nhà nớc cũng đợc
coi là một lý do đáng kể gây ra sức ép lớn đối với vấn đề việc làm ở nông thôn.
Ngày nay quá trình đô thị hoá diễn ra rất mạnh, đất nông nghiệp mất dần nhất
là ở các vùng ven đô, ven đờng giao thông. Theo báo cáo điều tra của Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp năm 1996 cho thấy diện tích đất canh tác tính
bình quân cho một lao động nông thôn Việt Nam rất thấp (0,3 ha/1 lao động)
thời gian làm việc nông nghiệp thấp (khoảng 4-7 tiếng/ngày). Chỉ có khoảng
18% lao động nông nghiệp làm 210 ngày/năm còn lại làm dới 200 ngày/năm.

tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động trong chơng trình KX03 do Trung
tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia chủ trì cho thấy: Chiều cao trung bình
của lao động nông thôn là 156 cm, trọng lợng trung bình là 48 kg, trẻ, khoẻ.
Tuy nhiên chỉ có 10% số lao động có trình độ trung học, cao đẳng và đại học
trở lên trong khu vực nông thôn là đợc đào tạo về lĩnh vực nông - lâm - ng
nghiệp. Về trình độ văn hoá, các số liệu ở chơng trình KX03 này cho thấy: Tỷ
6
lệ tốt nghiệp PTTH là 59%, tốt nghiệp PTCS là 10%, tốt nghiệp tiểu học là
10%; biết đọc, biết viết là 4,5% cha biết chữ là 1,5%.
Xã hội ngày càng phát triển với trình độ khoa học công nghệ hiện đại đòi
hỏi phải có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn hoá cao, biết phát triển và
hoàn thiện mình. Thế nhng trong các cơ sở sản xuất có tới 55% số lao động
đang làm việc cha qua đào tạo nghề, trong các hộ ngành nghề tỷ lệ là 84% riêng
lao động trẻ thì tỷ lệ này là 65,4%. Với chất lợng lao động nh vậy thì quả là một
thách thức lớn cho nớc ta nếu muốn nông nghiệp và nông thôn phát triển.
Do trong một thời gian dài chúng ta cha có một chiến lợc đào tạo nghề cho
lao động nông thôn nên phần lớn lao động nông thôn nói chung và lao động trẻ
nông thôn nói riêng hiện đang làm việc trong tình trạng không đợc đào tạo nghề
một cách hệ thống. Tình trạng này đã cho thấy một bức tranh rất đáng lo ngại ở
nông thôn là: có tới 95,6% lao động trẻ làm việc chủ yếu bằng cơ bắp, lao động
trí óc và kỹ thuật chỉ chiếm 4,4% (Nguồn: tham khảo từ bài viết: Phát triển
và dạy nghề cho thanh niên nông thôn nhằm công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn - Lê Doãn Khải - Tạp chí lao động xã hội, tháng
3/1999).
Rõ ràng, đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản của việc chậm
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hớng CNH-HĐH trong nông nghiệp nông thôn
và đây cũng là một thách thức lớn trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc.
3-/ Về cơ cấu kinh tế, phân bố và sử dụng nguồn lao động:
Mặc dù trong mấy thập niên qua chúng ta đã đẩy mạnh công tác phân bố
lại lao động dân c trên phạm vi toàn quốc song sự chênh lệch mật độ dân c giữa

Đông Nam Bộ 2.320.972 1.287.482 55,47 359.594 15,49 673.896 29,04
Đồng bằng sông Cửu Long 6.400.057 4.587.266 71,68 492.647 7,69 1.320.144 20,63
Nguồn: Điều tra lao động việc làm toàn quốc năm 1997 (Bộ LĐ - TB và xã hội và Tổng cục thống kê)
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status