Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2012 – 2015 và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 tại xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định - Pdf 36

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung trong đồ án này là do em thực hiện dưới sự
hướng dẫn của T.S Phạm Anh Tuấn.
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân mình, các số
liệu, kết quả nêu trong đồ án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Em xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong đồ án đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Sinh viên

Bùi Thị Thảo

1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, em đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các tập thể và cá nhân.
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, lòng biết ơn chân thành đến giảng
viên – TS. Phạm Anh Tuấn, người đã hướng dẫn chu đáo tận tình, chỉ bảo, giúp đỡ em
trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp và hoàn thành đồ án.
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tân, huyện
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, các cán bộ địa chính xã, các phòng ban và nhân dân tại các
tiểu vùng điều tra đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện
đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai và các
thầy cô trong trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội đã nhiệt tình dạy bảo
và trang bị cho em những kiến thức quý báu trong suốt những năm học vừa qua.
Với tấm lòng chân thành, em xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Sinh viên


Rau cải
Cây ăn quả
Nuôi trồng thủy sản
Triệu đồng


MỤC LỤC

4


DANH MỤC CÁC BẢNG

5


MỞ ĐẦU
I

Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho

con người. Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế,
xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay
thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp. Đất là yếu tố đầu vào có tác
động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy
nhất sản xuất ra những lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Việc sử dụng đất
có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy
trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về

-

hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Mỹ Tân.
Định hướng và đề xuất giải pháp hợp lý nhằm sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả đáp

-

ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nông nghiệp, nông thôn.
III Yêu cầu của đề tài
Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Mỹ Tân.
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với những chỉ tiêu phù hợp với điều kiện

II

-

cụ thể của xã Mỹ Tân.
Các đề xuất và giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
IV Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho

-

sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá

-

trình thực hiện đề tài.
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó đề xuất được những giải

thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự
nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người [10].
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: “Đất
là phần trên mặt của vỏ Trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” [2] và đất đai được
hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất
cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm:
khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng
với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con
người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [2].
8


Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân
tố sinh thái. Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự
nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng
đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng,
thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự
nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người.
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: “Đất
là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai được hiểu
theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả
các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí
hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với
nước ngầm và khoáng sản trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con
người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại”.
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của
các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, hoặc sử dụng
vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất nông nghiệp người ta
nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có
trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của ngành. Trong trường

nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này.
Chính vì vậy có thể nói rằng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong
nông nghiệp.
1.2.Sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
1.2.1.Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.2.1.1.Sử dụng đất là gì?
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người –
đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào quy
luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững về
mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là
tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái,
kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của
nhân loại. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu
của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Với vai trò là
nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện ở
khía cạnh sau :

-

Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiêu quả kinh tế không gian sử dụng đất.
Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu

-

kinh tế sử dụng đất.
Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng
đất.

10


và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng vùng.
Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 – 23,5 0C, lượng mưa trung bình từ 1.500 – 2.400
mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 – 1.750 giờ/năm. Trong khi đó, ở miền nam, khí hậu
mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 – 27,5 0C, lượng mưa trung bình
1.400 – 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm.
Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên chúng ta
có thể đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi. Chính vì thế, sử dụng đất cũng đa dạng
11


và giảm được rủi ro vì có thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt
đới và cả ôn đới.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây
trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu như ở trung du và
miền núi phía Bắc có thể trồng mận, đào, chuối, súp lơ xanh,… ở đồng bằng sông
Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới…thì ở đồng bằng sông
Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt…hay miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
có thể trồng chôm chôm, trái bơ, thanh long…là những cây nhiệt đới điển hình [5].
Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp với mức độ khác nhau. Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc trung bộ, nhiệt độ thấp
vụ đông và thời kỳ đầu vu xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh sáng làm hạn
chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho
cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới. Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho
sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng.
• Yếu tố đất trồng

Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng. Đất trồng với các
đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì…có vai trò quan trọng
đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp.

bảo. Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì
tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu
quả cao hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài
nguyên đất kém hơn [6]. Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành
vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân số
vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao
động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có thị
trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra [6]. Đặc biệt, đối với một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hóa thì điều này lại càng trở nên quan trọng.
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động
sản xuất nông nghiệp. Nếu người dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có ý thức trong sản
xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.
• Yếu tố kinh tế

Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng
lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và
ngược lại. Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả
cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng.
13


• Cơ chế chính sách

Do có tầm quan trọng đặc biệt nên nông nghiệp, nông thôn luôn giành được
những ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trong mỗi nền kinh tế,
người nông dân tiến hành sản xuất, kinh doanh ở những điều kiện khác nhau, đặc biệt
là các điều kiện về tự nhiên và kinh tế, gây ra bất bình đẳng về thu nhập. Mặt khác, thị

phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền. Thưc tế cho thấy, chính sách
về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như
thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản
xuất cây trồng có giá trị hàng hóa cao. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông
nghiệp cũng là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một
cách đầy đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến
hành tập trung hóa, chuyên môn hóa, hiện đại hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp.
c. Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng,
vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành,
phân bố và tích lũy năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối
tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông
minh của người sản xuất. Lựa chọn các động tác kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách
sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các
mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Theo Frank Elli
và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật,
giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức
sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất
cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất. Cho
đến giữa thế kỷ 20, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến
30% của năng suất kinh tế [3]. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp.
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về
hàng hóa nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế. Áp dụng khoa học (kiến thức),
kỹ thuật (công cụ), công nghệ (kỹ năng) để tăng năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh
doanh, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn một cách bền vững [9]. Thông qua

ăn và mặc thích hợp cho hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội gắn với việc tăng phúc
lợi trên đầu người. Đáp ứng nhu cầu là một phần quan trọng, vì một phần sản lượng
nông nghiệp cần thiết phải được tăng trưởng trong những thập kỉ tới.
Các quan điểm trên về nông nghiệp bền vững có nhiều cách biểu thi khác nhau,
song về nội dung thường gồm 3 thành phần cơ bản:
-

Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp

-

phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại đến môi trường .
Bền vững về tổ chức quản lí , hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ con

-

người hiện tại và cả cho đời sau .
Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp quản lí .
16


Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng , nhiều khi có tính
quyết định trong sự phát triển chung của xã hội . Điều cơ bản nhất của phát triển nông
nghiệp bền vững cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi
trường để giữ gìn tài nguyên đất đai cho thế hệ sau và điều quan trọng nhất là phải biết
sử dụng hợp lí tài nguyên đất đai, giữ vững, cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu
qur kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng trưởng chất lượng cuộc sống, bình đẳng các
thế hệ và hạn chế rủi ro .
• Các nguyên tắc về sử dụng đất nông nghiệp bền vững :
Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất ;


Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất, nước (bảo vệ)
- Có hiệu quả lâu dài (bền vững)
- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)
1.2.3.Hiệu quả sử dụng đất
• Khái niệm về hiệu quả

Khái niệm về hiệu quả được sử dụng trong đời sống xã hội, nói đến hiệu quả
người ta sẽ hiểu là công việc đạt kết quả tốt. Như vậy, hiệu quả là kết quả mong muốn,
cái sinh ra kết quả mà con người mong đợi và hướng tới. Nó có nội dung khác nhau ở
lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là năng suất, hiệu suất. Trong
kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận, trong lao động hiệu quả là năng suất lao
động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
Trong xã hội, hiệu quả xã hội là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào
đó.
• Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế.
Theo ngành thống kê định nghĩa thì hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, biểu hiện
của sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực
và sự chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một
tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, yêu cầu của công tác quản lý kinh tế buộc phải
nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.
Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phát triển theo hai chiều: chiều rộng và chiều
sâu, phát triển theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng đầu tư
chii phí vật chất, lao động, kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm
nhiều nhà máy, xí nghiệp… Phát triển theo chiều sâu là đẩy mạnh việc áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến hành hiện đại hóa, tăng cường
chuyên môn hóa và hợp tác hóa, nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng

Từ những quan niệm trên cho thấy giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có
mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống
nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với các lợi ích xã hội mà nó mang
lại. Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng
đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm.
• Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là xem xét sự phản ứng của môi trường đối với hoạt động
sản xuất. Từ các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đều ảnh hưởng
không nhỏ đến môi trường. Đó có thể là ảnh hưởng tích cực đồng thời có thể là ảnh
hưởng tiêu cực. Thông thường hiệu quả kinh tế thường mâu thuẫn với hiệu quả môi
trường. Chính vì vây, khi xem xét cần phải đảm bảo tính cân bằng với phát triển kinh
tế, nếu không thường sẽ bị thiên lệch và có những kết luận không tích cực.
19


Xét về khía cạnh hiệu quả môi trường, đó là việc đảm bảo chất lượng đất không
bị thoái hóa, bạc màu và nhiễm các chất hóa học trong canh tác. Bên cạnh đó còn có
các yếu tố như độ che phủ, hệ số sử dụng đất, mối quan hệ giữa các hệ thống phụ trợ
trong sản xuất nông nghiệp như chế độ thủy văn, bảo quản chế biến, tiêu thụ hàng hóa.
1.3.Sơ lược về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng. Trên thế
giới, mặc dù sự phát triển của sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau
nhưng tầm quan trọng của nó đối với xã hội thì quốc gia nào cũng thừa nhận. Hầu hết
các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân
số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn.
Trong khi đó, đất đai có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do
chuyển sang mục đích phi nông nghiệp.Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người
phải tăng cường các biện pháp khác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông
nghiệp. Vì vậy, đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp

đặc biệt được chú trọng.
Trên thế giới đất đai phân bổ ở các châu lục không đều. Tuy có diện tích đất
nông nghiệp khá cao so với các châu khác nhưng châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông
nghiệp trên diện tích tự nhiên thấp và lại là khu vực có tỷ lệ dân số đông trên thế giới.
Có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới như: Trung Quốc. Ấn Độ, Indonexia. Ở
châu Á đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích, tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời là
khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt.
Theo tài liệu của FAO/UNESCO: trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện
tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó suy thoái vì xói mòn do
nước chiếm khoảng 55,7 % diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do
rửa trôi 12,2% diện tích. Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha,
chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha
đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy. Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương có
khoảng 860 ha đất đã bị hoang mạc hóa làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu
người. Theo kết quả điều tra của FAO, 1992, do chế độ canh tác không tốt đã gây xói
mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất
dốc. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: châu Âu, châu Úc, châu Phi: 5
– 10 tấn/ha, châu Mỹ: 10 – 20 tấn/ha, châu Á: 30 tấn/ha.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt, từ số liệu của UNDP năm 1995 cho ta
thấy đây là khu vực dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích canh tác thấp: bình
quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia
0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha. Như vậy, chỉ có Thái

21


Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất và Việt Nam là quốc gia đứng
vào hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN.
Những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầy và được phân thành 2
loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hóa và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây


phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội. Việc sử dụng đất dựa trên nguyên
tắc là ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp.
1.5.Thực trạng về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp tại địa bàn xã Mỹ Tân
Diện tích đất nông nghiệp toàn xã là 554,94 ha, chiếm 54,00% tổng diện tích
đất tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp ở đây mới chỉ quan tâm đến vấn đề hiệu quả kinh
tế đối với sản xuất nông nghiệp mà chưa nhìn nhận, quan tâm đến những khả năng bền
vững trong sử dụng đất, trình độ thâm canh sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa có
biện pháp bảo vệ môi trường nên các hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm đất bị
suy thoái. Việc xác định và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao và bền
vững là rất cần thiết cho mục đích sản xuất nông nghiệp lâu dài của xã.

23


CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ đất nông nghiệp và các yếu tố
liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã.
- Các yếu tố kinh tế - xã hội, môi trường có liên quan tác động đến sử dụng đất
nông nghiệp của xã.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên đại bàn xã bao gồm các loại đất nông
nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình địa mạo, thủy văn,
nguồn nước;
- Điều kiện kinh tế - xã hội: tình hình kinh tế nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, trình

- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý, tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá
hiệu quả kinh tế.
2.4.3. Phương pháp minh họa bằng các bảng, biểu đồ
- Phương pháp biểu đồ, bảng được ứng dụng để thể hiện một số kết quả
nghiên cứu.
- Phương pháp bản đồ được ứng dụng để thể hiện các kết quả nghiên cứu
thông qua bản đồ hiện trạng sử dụng đất thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1:5.000.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status