ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
--------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỈ TITAN
THỪA THIÊN HUẾ
TRẦN THỊ LAN
Khóa học: 2012 - 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
--------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỈ TITAN
THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Lan
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Đào Duy Minh
Trần Thị Lan
3
MỤC LỤC
4
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BEP
Điểm hòa vốn (Break Even Point)
CN
Công nghiệp
CP
Chi phí
DT
Doanh thu
DTT
Dòng tiền thuần
Một thành viên
NPV
Chỉ tiêu lợi nhuận thuần (Net Present Value)
NPT
Nợ phải trả
NHTM
Ngân hàng thương mại
SPQĐ
Sản phẩm quy đổi
ST
Sau thuế
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
SVTH: Trần Thị Lan
GVHD: Th.S Đào Duy Minh
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Duy Minh
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và phát triển ngành công
nghiệp khai thác đặc biệt là khai thác nguồn khoáng sản, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu và
mục tiêu phát triển kinh tế đất nước từng thời kỳ. Việt Nam nằm ở vị trí giao nhau của
hai vành đai sinh khoáng: vành đai Tây Thái Bình Dương và vành đai Địa Trung Hải,
vì vậy tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đa dạng về chủng loại và tương đối phong
phú, theo kết quả thăm dò khoáng sản ở nước ta đến nay đã phát hiện được trên 5.000
mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau. Trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều loại khoáng sản được khai thác và chế biến để phục
vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu.
Trên thực tế, khai thác khoáng sản của Việt Nam đang bị khai thác bừa bãi, lãng
phí và chủ yếu để xuất khẩu thô. Hiện nay Việt nam vẫn chưa có chiến lược lưu trữ
TNKS cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tình trạng hiện nay khá phổ
biến là ở đâu có khoáng sản, ở đó có khai thác, khai thác tối đa và khai thác bất kỳ loại
khoáng sản nào để xuất khẩu. Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản đã và đang bộc
lộ nhiều bất cập và thiếu bền vững.
Ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng thì nguồn khoáng sản
có trữ lượng đáng kể, đặc biệt là nguồn quặng Titan đã được khai thác phục vụ cho
Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng nhà máy Xỉ Titan Thừa Thiên Huế từ
đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vào xây dựng nhà máy Xỉ
Titan Thừa Thiên Huế.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả đầu tư xây dựng
nhà máy Xỉ Titan Thừa Thiên Huế;
- Phân tích đánh giá những hiệu quả về tài chính, kinh tế và xã hội của dự án đầu
tư xây dựng nhà máy Xỉ Titan Thừa Thiên Huế;
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng nhà máy Xỉ
Titan Thừa Thiên Huế.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp liên quan đến việc đầu tư xây dựng nhà máy Xỉ
Titan được cung cấp từ công ty. Các số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu bao gồm:
số liệu thống kê về nguồn vốn, chi phí, báo cáo kết quả kinh doanh,... qua các năm của
đoạt động đầu tư xây dựng nhà máy. Ngoài ra tiến hành thu thập thông tin từ bên ngoài
doanh nghiệp thông qua các phương tiện truyền thông như internet, các website,...
SVTH: Trần Thị Lan
9
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Duy Minh
3.2. Phương pháp phân tích
Thông qua các thông tin, số liệu thu thập được tiến hành xử lý thông tin, phân
tích và đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỈ TITAN THỪA THIÊN HUẾ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Tổng quan về dự án đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm về dự án và dự án đầu tư
a. Khái niệm dự án
Có rất nhiều cách định nghĩa dự án. Tùy thuộc vào từng trường hợp hoặc mục
đích để nhấn mạnh vào khía cạnh nào đó.
Theo từ điển mở Wikipedia: “Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan
đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã
được giới hạn, nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được những mục tiêu cụ thể,
rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến. Thực chất, dự án
là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế
nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định”
Ngoài ra theo ThS. Hồ Tú Linh – Trường ĐH Kinh Tế Huế cũng có thể định
nghĩa: “Dự án là việc sử dụng các nguồn lực hữu hạn để thực hiện nhiều công việc
khác nhau, những có liên quan với nhau và cùng hướng tới một mục tiêu chung nhằm
đạt các lợi ích cụ thể”
Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lịch vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ
cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch
tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Theo luật đầu tư năm 2005 (Luật số 59/2005/QH11) giải thích: “Dự án đầu tư là
tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên
địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”
Trong đó, “Hoạt động đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại đẻ
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó”.
SVTH: Trần Thị Lan
dự án khác, không có dự án nghiên cứu phát triển hay dự án xây dựng, dự án sản xuất
nào hoàn toàn giống nhau. Mỗi dự án đề phải được tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ, thiết kế
kỹ thuật cụ thể, việc quản lý và khai thác vận hành cũng có những đặc thù khác nhau.
Mỗi dự án là duy nhất, trước và sau nó không có dự án thứ hai giống hệt vậy.
- Tính không chắc chắn của dự án: Dự án thường luôn đi kèm với nhiều rủi ro,
nhiều yếu tố biến động khó lường, do quá trình thực hiện dự án kéo dài, đòi hỏi nguồn
vốn, vật tư và lao động rất lớn, chịu sự tác động của môi trường kinh tế, xã hội, pháp
SVTH: Trần Thị Lan
12
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Duy Minh
luật và các bên liên quan. Các rủi ro tiềm ẩn này có thể xuất hiện và tác động đến mục
tiêu và kết quả của dự án. Do vậy, có thể nói rủi ro luôn song hành cùng dự án.
- Tính phụ thuộc, xung đột và va chạm: Mỗi dự án có mối quan hệ tác động qua
lại với các dự án khác và mâu thuẫn với các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như mâu
thuẫn với các dự án khác về nguồn lực, đồng thời trong bản thân dự án cũng chứa
đựng nhiều mâu thuẫn giữa các bộ phận thực hiện dự án, giữa nhiệm vụ và nguồn lực
thực hiện. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm
của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác
về tiền vốn, nhân lực, thiết bị,... Trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban
quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp
trên trực tiếp nào nếu hai lệnh lại mâu thuẫn nhau. Do đó, môi trường quản lý dự án có
nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động.
- Dự án là tạm thời và có chu kỳ sống: Dự án mang bản chất tạm thời, tức là có
thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc cụ thể (dự án có một điểm xuất phát và đích
vấn đề chất lượng, chính xác của kết quả nghiên cứu. Tổng chi phí giai đoạn chuẩn bị
đầu tư chiếm từ 0.5 – 15% vốn đầu tư chảy vào dự án. Làm tốt công tác chuẩn bị đầu
tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt phần vốn còn lại, tạo cơ sở cho quá trình hành
động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư là có lãi, nhanh chóng
phát huy hết nguồn lực phục vụ dự kiến.
+ Nghiên cứu cơ hội đầu tư: Công việc nghiên cứu cơ hội đầu tư là công việc
quan trọng nhất, nó dẫn đến định hướng đầu tư và tính khả thi của việc đầu tư.
+ Nghiên cứu tiền khả thi: Chỉ thực hiện với dự án có quy mô lớn và phức tạp về
mặt kỹ thuật công nghệ. Sau khi dự án tiền khả thi được chấp nhận, tiến hành lập dự
án khả thi.
+ Nghiên cứu khả thi: Đây là giai đoạn cuối cùng để sàng lọc và lựa chọn cơ hội
đầu tư khả thi nhất, hiệu quả nhất hoàn thành văn bản dự án để trình cấp có thẩm
quyền thẩm định.
+ Thẩm định dự án: Tùy theo quy mô của dự án mà Nhà nước có phân cấp cho
hội đồng thẩm định của bộ, ngành của địa phương tiến hành thẩm định.
- Giai đoạn thực hiện đầu tư: Vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, 85 –
99.5% vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt những năm thực hiện đầu tư.
Đây là những năm vốn không sinh lời, thời hạn thực hiện đầu tư cũng kéo dài, vốn ứ
đọng càng nhiều thì tổn thất càng lớn. Thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc vào chất
lượng công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quá trình thực hiện những hoạt động khác có
liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện những hoạt động khác có
liên quan trực tiếp các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự
án đầu tư.
SVTH: Trần Thị Lan
14
Khóa luận tốt nghiệp
+ Chu kỳ dự án thông thường: Hầu hết các dự án cần phải trải quan các giai đoạn
giống nhau, từ lúc khởi quay cho đến khi hoàn thành.
SVTH: Trần Thị Lan
15
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Duy Minh
+ Chu kỳ dự án kết thúc nhanh: Đối với loại dự án này, mặc dù có thời kỳ bắt
đầu chậm và tăng trưởng nhanh, nhưng thời kỳ kết thúc dự án lại không kéo dài. Dự án
không bị kéo dài ở giai đoạn cuối cùng bởi sau khi thực hiện dự án xong thì dự án
cũng gần như hoàn thành.
1.1.1.4. Vai trò của dự án đầu tư
Dự án đầu tư có những vai trò quan trọng như sau:
- Là phương diện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư.
- Là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài
trợ cho vay vốn.
- Là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi đôn đốc quá trình
thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện dự án.
- Là văn kiện cơ bản để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt, cấp
giấy phép đầu tư.
- Là căn cứ quan trọng nhất để theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời những
tồn đọng và vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình.
- Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) có tác dụng tích cực để giải quyết những
vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các bên có liên quan đến thực hiện dự án.
- Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) là căn cứ quan trọng để xem xét, xử lý hài
- Dự án đầu tư theo chiều rộng: vốn lớn, thời gian thực hiện đàu tư và thời gian
cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao.
- Dự án đầu tư theo chiều sâu: vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu,
độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng.
Căn cứ vào nguồn vốn:
- Dự án đầu tư có nguồn vốn huy động từ nước ngoài.
- Dự án đầu tư có nguồn vốn huy động trong nước.
Căn cứ theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn đã bỏ ra:
- Dự án đầu tư ngắn hạn.
- Dự án đầu tư dài hạn.
Căn cứ theo vùng lãnh thổ
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế, người ta còn phân
chia đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mô và theo nhiều tiêu thức khác.
1.1.1.6. Yêu cầu đối với dự án đầu tư
Một dự án đầu tư để bảo đảm tính khả thi cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Tính khoa học và hệ thống: Đòi hỏi những người soạn thảo dự án phải có một
quá trình nghiên cứu thật tỉ mỉ và kỹ càng, tính toán chính xác cẩn thận từng nội dung
cụ thể của dự án (phân tích tài chính, phân tích kỹ thuật). Đồng thời rất cần sự tư vấn
của các cơ quan chuyên môn về dịch vụ đầu tư giúp đỡ.
- Tính pháp lý: Các dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc, tức là phải phù
hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước. Do đó trong quá trình soạn thảo dự án
phải nghiên cứu kỹ chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước và các văn bản quy
chế liên quan đến hoạt động đầu tư.
SVTH: Trần Thị Lan
17
- Lợi ích kinh tế - chính trị;
- Lợi ích trực tiếp, lợi ích gián tiếp, lợi ích trong ngành, lợi ích ngoài ngành;
- Lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài;
SVTH: Trần Thị Lan
18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Duy Minh
Nếu chủ đầu tư là tư nhân hoặc tổ chức sản xuất kinh doanh thì mục đích của đầu
tư mang lợi ích kinh tế. Nếu chủ đầu tư là Nhà nước thì lợi ích kinh tế - xã hội chính là
mục đích của việc đầu tư, đôi khi mục đích đầu tư lấy lợi ích xã hội là mục đích chính.
1.1.2.3. Phân loại đầu tư
Có nhiều cách phân loại đầu tư. Ở đây nhằm phục vụ dự án đầu tư, cần quan tâm
đến các loại đầu tư sau:
a. Đầu tư trực tiếp: Đầu tư trực tiếp là đầu tư mà người bỏ vốn và người quản lý
sử dụng vốn là một chủ thể. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước hoặc đầu tư
nước ngoài tại Việt nam.
b. Đầu tư gián tiếp: Đầu tư gián tiếp là đầu tư mà người bỏ vốn và người quản lý
sử dụng vốn không phải là một chủ thể.
c. Đầu tư trong nước: Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh
tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt nam, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam.
d. Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Là đầu tư trực tiếp của người nước ngoài tại
Việt Nam, là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ
tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư theo luật định của Luật đầu tư nước
nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp
luật.
Nếu vốn đầu tư của dự án là doanh nghiệp Nhà nước, của các tổ chức sử dụng vốn
ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước thì chủ đầu tư do người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định.
b. Các tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng
Các tổ chức này là các tổ chức chuyên làm các công việc lập dự án đầu tư, khảo
sát, thiết kế, quản lý việc thực hiện dự án đầu tư. Các tổ chức này làm việc theo chế độ
hợp đồng với chủ đầu tư.
c. Các doanh nghiệp xây dựng
Các doanh nghiệp xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng và lắp đặt máy
móc vào công trình theo hợp đồng đã ký với chủ đầu tư.
d. Các doanh nghiệp và tổ chức cung cấp các yếu tố đầu vào cho dự án đầu tư ở
mọi giai đoạn của quá trình đầu tư
e. Các tổ chức cung cấp và tài trợ vốn cho dự án đầu tư
f. Các khách hành tiêu thụ sản phẩm đầu ra của dự án
g. Các cơ quan của Nhà nước có liên quan đến đầu tư, như: Chính phủ, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ
chức năng khác của Nhà nước có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố
trực thuộc Trung ương.
h. Các tổ chức xã hội, các hiệp hội có liên quan đến đầu tư, nhất là Hội Xây
dựng, Hội Kinh tế, Hội Bảo vệ môi trường và nhân dân ở địa phương đặt dự án.
SVTH: Trần Thị Lan
20
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trần Thị Lan
động lên quá trình đầu tư.
1.1.3.3. Nâng cao hiệu quả đầu tư.
Để dễ dàng hơn trong việc đưa ra các phương án nâng cao hiệu quả đầu tư, ở đây ta
xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư theo từng giai đoạn của quá trình đầu tư.
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Việc xác định đường lối và chiến lược đầu tư ở giai đoạn này mang một ý nghĩa
rất quan trọng. Ở bước lập kế hoạch đầu tư phải đặc biệt chú ý giải quyết hợp lý vấn
đề cơ cấu đầu tư, phải tiến hành sắp xếp trình tự xây dựng các công trình cụ thể và
phải xác định mức độ ưu tiên cho các lĩnh vực, các ngành mũi nhọn, các công trình
trọng điểm.
SVTH: Trần Thị Lan
22
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S Đào Duy Minh
Các công trình được thiết kế sẽ là biểu hiện cụ thể của đường lối phát triển kinh
tế, khoa học kỹ thuật của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy mà bước khảo sát thiết kế
là công việc có tầm quan trọng đặc biệt. Ở bước này cần nâng cao chất lượng thăm dò,
khảo sát bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ các cán
bộ của các cơ quan thiết kế
Ở bước thiết kế cần lựa chọn các giải pháp thiết kế về quy hoạch mặt bằng, về
dây chuyền công nghệ có tính kinh tế cao. Trong bước này, để nâng cao hiệu quả vốn
đầu tư cần tăng cường áp dụng thiết kế mẫu điển hình và hoàn thiện định mức giá cả.
Giai đoạn thực hiện đầu tư
Bt: thu nhập đầu tư của năm t
Ct: chi phí đầu tư của năm t
n: số năm đầu tư
r: tỷ suất chiết khấu
t: thời gian
Ý nghĩa của NPV:
NPV > 0: Cho thấy quy mô thu nhập ở hiện tại có được sau khi đã bù đắp chi phí
sử dựng vốn và chi phí đầu tư ban đầu.
NPV = 0: Thu nhập có được vừa đủ bù đắp chi phí đầu tư ban đầu kể cả chi phí
sử dụng vốn.
NPV < 0: Thu nhập có được sau khi bù đắp chi phí sử dụng vốn không đủ bù đắp
chi phí đầu tư ban đầu.
Nguyên tắc chấp nhận dự án theo NPV
Các dự án độc lập: Chỉ được chấp nhận khi NPV ≥ 0
Lựa chọn một số dự án loại trừ: chúng ta sẽ chọn trong số các dự án có NPV ≥ )
và tổng NPV lớn nhất.
Lựa chọn một trong số các dự án loại trừ lẫn nhau: Chúng ta phải chọn dự án có
NPV ≥ 0 và lớn nhất.
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp NPV
- Ưu điểm:
Cho biết quy mô số tiền lãi có thể thu được từ dự án. NPV là một tiêu chuẩn hiệu
quả tuyệt đối tính đầy đủ đến giá trị theo thời gian của dòng tiền, tính đầy đủ mọi
khoản thu và chi trong cả thời kỳ hoạt động và phân tích dự án.
- Hạn chế:
+ Chỉ tiêu NPV chỉ phụ thuộc vào tỉ suất chiết khấu được chọn, tỉ suất này càng
n: thời gian Thv cần tìm
Ý nghĩa: Một dự án có thời gian hoàn vốn dài thường đi liền với rủi ro cao. Do đó, nhà
đầu tư muốn thu hồi nhanh vốn đã bỏ ra, những dự án có thời gian thu hồi vốn ngắn
thường được ưu tiên lựa chọn.
Đánh giá chỉ tiêu Thv trong đầu tư dự án.
- Các dự án trong lĩnh vực công nghiệp:
+ Các dự án ngành công nghiệp nhẹ: Thv ≤ 5 – 7 năm
+ Các dự án ngành công nghiệp nặng, các dự án cây công nghiệp, trồng rừng,...:
Thv ≤ 10 năm.
- Các dự án công trình hạ tầng: Thv ≤ 7 – 10 – 15 năm
Ưu điểm và nhược điểm
- Ưu điểm:
Dễ sử dụng và dễ hiểu, có thể được sử dụng để đo lường độ thanh khoản của dự
án. Chỉ tiêu này giúp các nhà đầu tư thấy được đến bao giờ thì vốn có thể được thu hồi
SVTH: Trần Thị Lan
25