Đảng bộ huyện mỹ đức ( hà nội ) thực hiện nhiệm vụ xây dựng đảng từ năm 2008 đến năm 2014 - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------

LÊ THỊ LOAN

§¶NG Bé HUYÖN Mü §øC (Hµ NéI)
THùC HIÖN NHIÖM Vô X¢Y DùNG §¶NG
Tõ N¡M 2008 §ÕN N¡M 2014
Chuyên ngành

: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số

: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri

HÀ NỘI - 2015


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Một trong những đóng góp to lớn và vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin
đó là chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác – Lênin
cũng đặt ra yêu cầu đối với giai cấp công nhân muốn hoàn thành đƣợc sứ
mệnh lịch sử của mình, đƣa cách mạng đi đến thành công thì phải thành lập
đƣợc một chính đảng của giai cấp công nhân, chính đảng đó là Đảng Cộng

nhiều nghị quyết cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng, coi đây là “một
nhiệm vụ then chốt”, đặc biệt, vấn đề này càng đƣợc nhấn mạnh hơn trong
thời kỳ đổi mới, thời kỳ cả nƣớc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội với những
điều kiện lịch sử mới. Những nghị quyết quan trọng về công tác xây dựng
Đảng nhƣ Nghị quyết Trung ƣơng 3 (khóa VII), Nghị quyết Trung ƣơng 6
(lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Trung ƣơng 9 (khóa IX, X), Nghị quyết Trung
ƣơng 4 (khóa XI),... đã đặt nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng là rất quan
trọng, thực hiện toàn diện từ chính trị, tƣ tƣởng và tổ chức tốt công tác cán bộ,
xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên kết quả thu đƣợc là có ý
nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao sức chiến đấu và năng lực
lãnh đạo của Đảng ta.
Tình hình Đảng có một số những chuyển biến tích cực, tuy nhiên việc
thực hiện chƣa đạt đƣợc những hiệu quả nhƣ mong muốn. Vì vậy, vấn đề là
phải làm theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh “nói phải đi đôi với làm”, phải làm cho
bằng đƣợc các nghị quyết đã đề ra. Đảng phải tự chỉnh đốn, không ngừng rèn
luyện, phấn đấu nâng cao phẩm chất và năng lực để lãnh đạo thành công sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta.
Đảng bộ huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội hơn 60 năm xây dựng và
trƣởng thành đã lãnh đạo các chi bộ Đảng địa phƣơng và nhân dân trong
huyện tiến hành sự nghiệp cách mạng chung giành đƣợc nhiều thắng lợi.
Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh về cả số
lƣợng và chất lƣợng đảng viên. Đảng bộ đã không ngừng đƣợc tăng cƣờng và
củng cố. Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã lãnh đạo nhân dân trong huyện giành
đƣợc những thành tựu to lớn không chỉ trong thời kỳ đấu tranh cách mạng mà
cả trong thời kỳ đất nƣớc đổi mới, cả nƣớc quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa

2


xã hội hiện nay. Các cán bộ đảng viên thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ



đƣợc đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ Mỹ Đức và hứa hẹn
những kết quả tốt đẹp, đầy triển vọng, đặc biệt trong việc thực hiện nhiệm vụ
xây dựng Đảng hiện nay.
Chính vì vậy, tác giả chọn luận văn: “Đảng bộ huyện Mỹ Đức (Hà
Nội) thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2008 đến năm 2014” để
nghiên cứu nhằm góp phần khẳng định giá trị to lớn của sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và của Đảng bộ huyện Mỹ Đức nói
riêng về công tác xây dựng Đảng giai đoạn 2008 – 2014. Đồng thời, khẳng
định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định sự thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng, nhiệm vụ xây dựng Đảng là một yêu cầu bức thiết.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng Đảng là mảng đề tài đã đƣợc nhiều tác giả, tổ chức hoặc các
cơ quan ngôn luận nghiên cứu. Trên cơ sở kế thừa những nội dung đã đƣợc đề
cập trƣớc đó giúp tôi tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày vấn đề một cách hệ
thống, cụ thể hơn đối với Đảng bộ huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội (2008
– 2014), đặc biệt là vận dụng Nghị quyết Đại hội Đảng XI và Nghị quyết Hội
nghị Trung ƣơng 4 khóa XI (12/2011) của Đảng ta.
Những công trình nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng đã đƣợc công
bố là rất nhiều và có những đóng góp quan trọng về cả lí luận và thực tiễn đối
với Đảng ta, góp phần chỉ ra thực trạng, nguyên nhân và đƣa ra những giải
pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta. Trong
đó không thể không kể đến những tác phẩm lí luận xuất sắc về vấn đề này của
các nhà lãnh đạo Đảng nhƣ:
Hội thảo lí luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản
Trung Quốc (2004): Xây dựng Đảng cầm quyền – Kinh nghiệm của Việt Nam,
kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hội thảo đã khẳng định vị trí then chốt của Đảng cách mạng trong sự
nghiệp xây dựng xã hội mới; khẳng định sự cần thiết khách quan phải tăng

Đây là một cuốn sách mới đƣợc xuất bản do Tổng Bí thƣ Đảng Cộng
sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng viết. Trong tác phẩm này, đồng chí Tổng Bí
thƣ đã tổng kết các công tác xây dựng Đảng của Đảng ta kể từ khi ra đời cho
đến nay. Trong đó, Tổng Bí thƣ đã đƣa ra những lí luận của các nhà kinh điển

5


của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng nhƣ các lãnh tụ của các Đảng Cộng sản nhƣ
quan điểm của Mao Trạch Đông,… về xây dựng Đảng. Bên cạnh mặt lí luận
là những bài học thành công và thất bại từ thực tiễn của công tác xây dựng
Đảng của Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc cũng nhƣ của thực tiễn nƣớc ta. Từ
đó, chỉ ra những vấn đề mang tính chất quyết định đối với sự tồn tại và phát
triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nội dung cuốn sách đề cập nhiều vấn đề phong phú về lý luận và thực
tiễn gồm bốn phần:
Phần thứ nhất: Một số vấn đề chung về Đảng và công tác xây dựng Đảng.
Phần thứ hai: Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng.
Phần thứ ba: Xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ.
Phần thứ tƣ: Rèn luyện đạo đức, lối sống.
Ngoài ra, còn có rất nhiều các tác phẩm, các tài liệu, các công trình nghiên
cứu hay các hội thảo đề cập tới vấn đề xây dựng Đảng trên những khía cạnh cụ
thể theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam đƣợc đăng trên các
tạp chí Thông tin lý luận, tạp chí Cộng sản, tạp chí Xây dựng Đảng, tạp chí Lịch
sử quân sự,... Một số các bài viết nhƣ: Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ then chốt
tạo chuyển biến cơ bản trong công tác xây dựng Đảng của tác giả Nguyễn Đức
Hạt đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng (2006), Kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ
thống chính trị là một nhiệm vụ trong toàn bộ cuộc vận động xây dựng, chỉnh
đốn Đảng của đồng chí Lê Khả Phiêu đăng trên Tạp chí xây dựng Đảng
(1999),...

các nghành khác với những biện pháp cụ thể, linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp.
3.Mục đích, nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Tìm hiểu sự nhận thức, các chủ trƣơng, biện pháp, kết quả tổ chức thực
hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Mỹ Đức (Hà Nội) từ năm
2008 đến năm 2014 là mục đích nghiên cứu chính của đề tài. Từ đó, nhằm
làm rõ thêm lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Đức thời kỳ này. Những bài học kinh
nghiệm đƣợc rút ra từ việc nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Đức (Hà
Nội) thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2008 đến năm 2014 sẽ là
những kiến nghị, đề xuất, giải pháp để Đảng bộ huyện Mỹ Đức đạt đƣợc

7


những kết quả tốt hơn nữa trong lĩnh vực xây dựng Đảng thời gian tới
3.2. Nhiệm vụ
Luận văn có nhiệm vụ thu thập, bổ sung và xử lí những nguồn tƣ liệu về
đề tài một cách khoa học để phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Trình bày một
cách hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Đức thực hiện các nhiệm vụ của
công tác xây dựng Đảng từ năm 2008 đến năm 2014. Từ đó, rút ra đƣợc những
nhận xét về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm
của quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Đức thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ
năm 2008 đến năm 2014.
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Những chủ trƣơng, kế hoạch, biện pháp của Đảng bộ huyện Mỹ Đức
trong công tác xây dựng chính Đảng và những kết quả, ý nghĩa của việc thực
hiện những chủ trƣơng trên.
4.2. Phạm vi
- Về nội dung: Tìm hiểu quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Đức thực hiện

VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC

TƢ̀ NĂM

2008 ĐẾN NĂM 2010
Chƣơng 2: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM
VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐƢ́C TƢ̀ NĂM
2011 ĐẾN NĂM 2014
Chƣơng 3: NHẬN XÉ T VÀ KINH NGHIỆM

9


Chương 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ
XÂY DƢ̣NG ĐẢNG CỦ A ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐƢ́C
TƢ̀ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010
1.1 Chủ trƣơng xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Mỹ Đức
(2008 – 2010)
1.1.1 Các yếu tố tác động, chi phối và tình hình thực hiện nhiệm vụ
xây dựng Đảng ở huyê ̣n Mỹ Đức đến năm 2008
* Các yếu tố tác động, chi phối đến việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Đảng ở Đảng bộ huyện Mỹ Đức
Về tự nhiên: Huyện Mỹ Đức nằm ở phía tây nam của thành phố Hà
Nội, cách trung tâm Hà Nội gần 50 km; gồm 22 xã, thị trấn, trong đó có 21
xã, thị trấn đồng bằng dọc sông Đáy, một xã miền núi có dân tộc Mƣờng.
Huyện có hai tôn giáo là Phật giáo và Thiên Chúa giáo. “Phía Bắc giáp huyện
Chƣơng Mỹ, phía Đông giáp huyện Ứng Hoà (ranh giới tự nhiên là sông
Đáy), phía Tây giáp huyện Lƣơng Sơn, Kim Bôi và Lạc Thuỷ tỉnh Hoà Bình,
phía Nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam”[07; 05].

sản xuất, trong chiến đấu và trong cuộc sống. Tiếp tục phát huy những kết quả
đạt đƣợc sau những năm thực hiện đƣờng lối đổi mới do Đảng khởi xƣớng và
lãnh đạo, trong những năm qua, Đảng bộ huyện xác định phát triển kinh tế
nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm. Mặc dù là một huyện nông nghiệp, xuất
phát điểm thấp, dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện, nhân dân trong
huyện đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vƣơn lên và giành đƣợc nhiều kết quả đáng
khích lệ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc
phòng,… Tốc độ tăng trƣởng kinh tế hàng năm đạt 9,5 %. Bình quân thu nhập
đầu ngƣời năm 2008 là 5,9 triệu đồng, năm 2010 là 10,40 triệu đồng [13; 03].
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Tính đến năm 2008 tỷ trọng nônglâm nghiệp 57,9% ; tiểu thủ công nghiệp- xây dựng 18,8%; dịch vụ- du lịch là
23,3% [13; 03].
Công tác đầu tƣ xây dựng cơ bản giao thông – thủy lợi và các công

11


trình phúc lợi xã hội phục vụ cho đời sống dân sinh, thúc đẩy cho kinh tế phát
triển đƣợc huyện chủ động và có nhiều cố gắng. Đầu tƣ xây dựng cơ bản tăng
bình quân 30,3%/năm. Huyện đã chủ trƣơng tranh thủ sự hỗ trợ vốn của Nhà
nƣớc, của thành phố và huy động nguồn lực trong nhân dân để xây dựng:
điện, đƣờng, trƣờng, trạm, trụ sở làm việc, nhà văn hóa thôn, công trình thủy
lợi, vệ sinh môi trƣờng,… Các công trình này đều đƣợc đẩy mạnh và triển
khai thực hiện tốt. Đến nay hệ thống đƣờng giao thông trong huyện, nhất là hệ
thống giao thông nông thôn đã cơ bản đƣợc bê tông hóa, nhựa hóa đảm bảo
đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển cho nhân dân.
Về chính trị
Mỹ Đức là huyện sớm có phong trào cách mạng ở phía nam thành phố,
với hai chi bộ Đốc Tín và Vĩnh Lạc từng giữ vai trò lãnh đạo cách mạng trên
địa bàn huyện trong cuộc vận động giải phóng dân tộc thời kỳ 1939 - 1945.
Tháng 9/1945, Chi bộ Đảng huyện Mỹ Đức ra đời. Trong bối cảnh sau cách

Mỹ Đức đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở
huyện, tạo điều kiện cho huyện phát triển về các mặt kinh tế chính trị, văn
hóa, xã hội; đồng thời cũng bộc lộ một số hạn chế. Điều đó đã phản ánh qua
kết quả và những hạn chế chất lƣợng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thị trấn
của huyện Mỹ Đức.
Về văn hóa- xã hội, giáo dục, y tế
Sự nghiệp giáo dục – y tế đƣợc đầu tƣ xây dựng kiên cố, phát triển
mạnh. “Cả 22/22 trạm y tế xã, thị trấn đã đạt chuẩn quốc gia và đều có bác sỹ.
Hiện nay toàn huyện Mỹ Đức có 83 trƣờng học các cấp (trong đó 5 trƣờng
phổ thông trung học và trung tâm hƣớng nghiệp dạy nghề, trung tâm giáo dục
thƣờng xuyên; 23 trƣờng trung học cơ sở, 29 trƣờng tiểu học, và 24 trƣờng
mầm non). Chất lƣợng giáo dục và chất lƣợng khám chữa bệnh ngày càng
đƣợc nâng cao. Năm 2000, huyện đã đƣợc công nhận hoàn thành phổ cập giáo
dục tiểu học đúng độ tuổi; năm 2001 huyện đƣợc công nhận hoàn thành phổ
cập giáo dục trung học cơ sở và đang tích cực triển khai phổ cập giáo dục bậc
trung học phổ thông. Đội ngũ giáo viên từ mầm non đến trung học phổ thông
100% đã đạt chuẩn (trong đó trên 45% vƣợt chuẩn). Bình quân mỗi năm Mỹ
Đức có 150 đến 200 em học sinh thi đỗ vào các trƣờng cao đẳng, đại học”

13


[30; 46].Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và Nghị quyết TW10
(khóa IX) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc gắn với phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở
khu dân cư”, xây dựng “người Hà Nội thanh lịch, văn minh,” đƣợc các tầng
lớp nhân dân trong huyện tích cực hƣởng ứng và đẩy mạnh.
Toàn huyện có 2820 Anh hùng liệt sỹ (trong đó liệt sỹ chống Pháp 553,
liệt sỹ chống Mỹ 1906, liệt sỹ bảo vệ tổ quốc 361), ghi nhận những thành tích
to lớn đó, năm 2000, huyện vinh dự đƣợc Nhà nƣớc trao tặng danh hiệu đơn vị

Có sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, phong trào cách mạng và công tác
xây dựng Đảng ở huyện Mỹ Đức vẫn giữ đƣợc mỗi quan hệ với Ứng Hòa, với
các cơ sở cách mạng ở vùng Kim Bảng (Hà Nam). Một số cán bộ ở Ứng Hòa
và Kim Bảng qua lại giúp đỡ phong trào cách mạng ở Đốc Tín và tuyên
truyền gây nhân mối ở một số các nơi khác trong địa bàn huyện.
Từ giữa năm 1939, tình hình thế giới ngày càng trở nên phức tạp. Nguy
cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới thứ hai do trục phát xít Đức – Ý –
Nhật gây ra ngày một đến gần. Chính phủ Pháp nghiêng dần về phía hữu, bọn
phản động thuộc địa của Pháp ở Đông Dƣơng cũng ngày càng trắng trợn
khủng bố, uy hiếp phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong tình
hình đó, Tỉnh ủy Hà Đông chỉ đạo phong trào ở vũng nam Mỹ Đức tranh thủ
điều kiện còn thuận lợi tiếp tục mở rộng Mặt trận dân chủ, tập hợp lực lƣợng
quần chúng, đồng thời chú ý củng cố phong trào, chuẩn bị đề phòng khi cuộc
chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, bọn thống trị sẽ trở mặt đàn áp. Chiến
tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phong trào cách mạng và công tác xây dựng
Đảng ở Mỹ Đức chuyển sang thời kỳ mới. Đầu năm 1940, phong trào cách
mạng và công tác xây dựng Đảng ở Mỹ Đức bị tổn thất nghiêm trọng do
khủng bố ở Cao Mật (Hà Nam).
Tháng 8/1941, Tỉnh ủy Hà Đông đề ra kế hoạch chỉ đạo các cơ sở thành
lập Mặt trận Việt Minh. Ban Tỉnh ủy phân công cán bộ về các vùng chỉ đạo
và giúp đỡ các cơ sở thành lập Mặt trận Việt Minh, chuyển các đoàn thể phản
đế thành các đoàn thể cứu quốc, truyền đạt Nghị quyết Trung ƣơng lần thứ 8
và chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phƣơng.
Đến giữa 1942, trên địa bàn huyện Mỹ Đức, phong trào và cơ sở cách

15


mạng đã hình thành ở cả ba khu vực: Bắc, Trung và Nam huyện. Trong đó,
Đốc Tín có chi bộ Đảng, là trung tâm của các cơ sở phía nam và khu vực


bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ, phát triển đảng viên mới và xây dựng củng cố tổ
chức Đảng trên phạm vi toàn huyện. Công tác xây dựng Đảng đƣợc đặc biệt
chú trọng nhất là về chính trị tƣ tƣởng và xây dựng tổ chức Đảng từ huyện
đến các xã” [27; 47].
Để làm công tác phát triển Đảng, chi bộ đội công tác huyện thành lập
Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở các tiểu khu, chọn lọc những quần chúng
tiên tiến, tích cực ở các thôn, xã đƣa vào Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác để
giáo dục, bồi dƣỡng về Đảng, về đƣờng lối và nhiệm vụ cách mạng, khi đủ
điều kiện thì kết nạp và sinh hoạt ở chi bộ ghép.
Theo phƣơng hƣớng đó, những cán bộ đảng viên của chi bộ đội công
tác huyện phụ trách các tiểu khu vừa lãnh đạo phong trào, vừa làm công tác
phát triển đảng viên mới và xây dựng tổ chức Đảng. Công tác xây dựng Đảng
ở huyện Mỹ Đức trong năm 1946 đƣợc đẩy mạnh. Cho đến giữa 1946, toàn
huyện có năm chi bộ ghép tiểu khu và hai chi bộ là: Chi bộ Đội công tác
huyện và chi bộ Vĩnh Lạc.
Đƣợc sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, tháng 6/1946, Ban cán sự Đảng huyện
Mỹ Đức đƣợc thành lập. Chi bộ Đội công tác huyện đã hoàn thành sứ mệnh
và không giữ vai trò lãnh đạo cách mạng nhƣ trƣớc, là chi bộ cơ quan huyện.
Tháng 9/1946, Ban Cán sự Đảng huyện Mỹ Đức chuyển thành Ban
huyện ủy. Công tác xây dựng Đảng ở các tiểu khu tiếp tục đƣợc đẩy mạnh.
Huyện ủy lãnh đạo các xã, ngành tích cực làm công việc chuẩn bị kháng
chiến, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, phát triển đảng viên mới, tiến tới mỗi xã
thành lập một chi bộ Đảng.
Công tác phát triển đảng viên mới ở các tiểu khu tiếp tục đƣợc đẩy
mạnh. Thực hiện chủ trƣơng của tỉnh, Huyện ủy phát động đợt kết nạp “lớp
đảng viên kháng chiến”. Từ tháng 7/1947 đến tháng 12/1947, Huyện ủy Mỹ
Đức quyết định thành lập 14 chi bộ cơ sở gồm: Thiết Tháp, Phúc Lâm, Do Lễ,
Yên Lạc, Đục Khê, Phú Yên, An Mỹ, Lễ khê, Trinh Tiết, Hà Xá, Viêm Khê,
An Phúc. Thƣợng Vệ và chi bộ ghép Khảm Lâm – Yên Cốc.

lập gồm 5 ủy viên. Đây đƣợc coi là một tổ chức tiền thân của Đảng bộ huyện
Mỹ Đức hiện nay. “Tháng 9/1946 Ban cán sự Đảng huyện Mỹ Đức chuyển
thành Ban Huyện ủy, đây đƣợc coi là một mốc đánh dấu sự phát triển trong tƣ

18


duy của Đảng bộ huyện, một bƣớc kiện toàn trong bộ máy chính trị Đảng của
huyện Mỹ Đức” [27; 99].
Tháng 11/1947, Huyện ủy tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần
thứ I. Tháng 3/ 1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ II.
Tiếp đó, trong các năm 1952 – 1986 đã diễn ra 15 lần Đảng bộ huyện
Mỹ Đức tiến hành Đại hội đại biểu huyện. Đến 1986, số đảng viên của đảng
bộ huyện đã lên tới 4000 đảng viên.
“Tháng 1/1989 diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ
XVIII với sự tham dự của 287 đại biểu thay mặt cho 4721 đảng viên trong
huyện. Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XVIII gồm 37 ủy viên chính
thức” [28; 227].
Trong Đại hội đại biểu huyện lần thứ XVII (9/1986) chỉ đạo về công
tác xây dựng Đảng: Công tác xây dựng Đảng phải đƣợc tăng cƣờng củng cố
về tổ chức và rèn luyện đội ngũ đảng viên vững mạnh về chính trị, tƣ tƣởng
và tổ chức. Tăng cƣờng giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, giáo dục đƣờng lối,
chính sách của Đảng bằng các hình thức: học tập trung, học tại chức tại các cơ
sở và trƣờng Đảng của huyện làm cho cán bộ đảng viên đổi mới nhận thức,
nhất là tƣ duy kinh tế. Biết vận dụng đƣờng lối chính sách vào từng cơ sở và ở
từng ngành khác nhau để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng. Xây dựng
đội ngũ báo cáo viên từ huyện đến xã. Củng cố kiện toàn lại tổ chức văn hóa
thông tin, đài truyền thanh. Các cấp ủy, Đảng bộ, chi bộ cải tiến nội dung sinh
hoạt đảm bảo vai trò lãnh đạo, tính tiền phong gƣơng mẫu ở mỗi cán bộ, đảng
viên: nói và làm theo Nghị quyết của Đảng.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ XXII (09/2005), đề ra
nhiệm vụ “tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 3, khóa VII, Nghị quyết
Trung ƣơng 6 (lần 2), khóa VIII về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, các cấp ủy
đảng thƣờng xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng. Chỉ đạo đánh giá,
phân loại đúng thực trạng các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Thực hiện tốt
Quy định 76 của Bộ chính trị về giới thiệu đảng viên cơ quan giữ mối liên hệ
và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cƣ trú [28; 321]. Đảng bộ huyện đề ra chủ
trƣơng tăng cƣờng lãnh đạo công tác chính trị - tƣ tƣởng, giáo dục chủ nghĩa
Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh tuyên truyền các chỉ thị, nghị

20


quyết của Trung ƣơng, tỉnh, huyện, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc tới
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, mở nhiều lớp bồi dƣỡng lí luận
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh công tác
khoa giáo,...
Nhƣ vậy, đứng trƣớc những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nƣớc,
dƣới ánh sáng các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Tỉnh ủy Hà
Tây, Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ huyện Mỹ Đức luôn đề ra những tƣ tƣởng
chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và phù hợp.
1.1.2 Chủ trương xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Mỹ Đức
(2008 – 2010)
* Tình hình , nhiê ̣m vụ và yêu cầ u mới về xây dựng Đảng khi Mỹ Đức

sáp

nhập vào thành phố Hà Nội
Mỹ Đức là một huyện xa trung tâm thành phố Hà Nội.Thời kỳ triều
Nguyễn, Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Nội, sau đó thuộc tỉnh Hà Đông. Hòa bình lập

các khu công nghiệp (đến năm 2010 mới có công ty may Đại Nghĩa). Những
ngành dịch vụ nhƣ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm... vẫn đƣợc quan tâm đầu tƣ;
những lĩnh vực mới nhƣ về đô thị, dịch vụ du lịch, sinh thái Hà Nội rất có tiềm
năng. Một lĩnh vực nữa mà Hà Nội đƣợc đầu tƣ phát tiển đó là phát triển nông
nghiệp với công nghệ hiện đại. Thực tiễn của nền kinh tế thế giới cũng nhƣ Việt
Nam hiện nay cho thấy, chúng ta phải dành cho nông nghiệp sự quan tâm đúng
mức. Với diện tích của huyện Mỹ Đức khoảng 70% đất nông nghiệp, rất thuận
lợi cho việc phát triển nông nghiệp.
Là một huyện xa trung tâm thành phố Hà Nội nên còn gặp nhiều khó
khăn trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội so với các quận, huyện
gần trung tâm. Tuy nhiên, Mỹ Đức khai thác tiềm năng, thế mạnh về điều
kiện tự nhiên, vị trí địa lí, về nguồn nhân lực và giao thông, tài nguyên, môi
trƣờng sinh thái để phát triển kinh tế; trong đó phát triển du lịch lễ hội là một
lĩnh vực đƣợc ƣu tiên đầu tƣ và khai thác, bao gồm cả du lịch sinh thái và du
lịch văn hóa,...
Cuối năm 2008, thời tiết diễn biến bất lợi diễn ra trận đại hồng thủy gây
ra hậu quả nặng nề tới kinh tế của nhân dân, cùng với ảnh hƣởng của khủng
hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, ảnh hƣởng không nhỏ đến đời

22


sống nhân dân trong huyện. Xuất phát điểm nền kinh tế của huyện còn thấp,
cơ sở vật chất hạ tầng còn khó khăn, bên cạnh đó, những khó khăn, hạn chế,
bất cập trong công tác quản lí, điều hành trên một số lĩnh vực nhƣ: Quản lí
quy hoạch, xây dựng, đất đai, môi trƣờng,...là những thách thức không nhỏ
ảnh hƣởng trực tiếp tới điều kiện thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ
huyện Mỹ Đức.
Ngoài ra, bên cạnh những cơ hội, việc sáp nhập vào Hà Nội cũng đặt ra
những thách thức hết sức to lớn đối với huyện Mỹ Đức, nhất là trong vấn đề

Đảng bộ huyện yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, xây dựng Đảng
thực sự trong sạch, vững mạnh.
Đảng bộ huyện luôn nhấn mạnh phải “tăng cƣờng lãnh đạo công tác
chính trị, tƣ tƣởng, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Đẩy mạnh tuyên truyền các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ƣơng, tỉnh, huyện,
chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc tới cán bộ, đảng viên và nhân dân, với
phƣơng châm: kịp thời, sát thực tế, hình thức tuyên truyền ngắn gọn, dễ hiểu,
dễ nhớ, lồng ghép nhiều nội dung phong phú, hấp dẫn. Ngoài ra, mở nhiều lớp
bồi dƣỡng lí luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên. Đẩy
mạnh việc biên soạn lịch sử Đảng bộ các xã, thị trấn cũng là một trong những
nội dung đƣợc Đảng bộ huyện Mỹ Đức quan tâm, Đảng bộ huyên Mỹ Đức đặt
ra chỉ tiêu phấn đấu mỗi năm có từ hai đến ba ấn phẩm lịch sử”[28; 357].
Công tác giáo dục lịch sử truyền thống của Đảng bộ địa phƣơng trong
các trƣờng học cũng đƣợc tăng cƣờng. Công tác khoa giáo toàn diện trên các
lĩnh vực phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế xã hội. Nắm bắt và xử lí kịp
thời các biểu hiện, dƣ luận lệch lạc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân từ cơ
sở. Củng cố và mở rộng mạng lƣới báo cáo viên cơ sở, đảm bảo chất lƣợng
đội ngũ báo cáo viên và giảng viên kiêm chức.
Nâng cao vai trò của tổ chức Đảng và cán bộ đảng viên, tích cực thực hiện
cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ƣơng
6 (lần 2), khóa VIII, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở
Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trên toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội,
quốc phòng, an ninh,...“phấn đấu kể từ 2010 có 75% tổ chức cơ sở đảng vững

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status