ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
TRẦN THỊ NGÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUÂN TÌNH
NGUYỆN VÀ CHUYÊN GIA QUÂN SỰ THỰC HIỆN NHIỆM
VỤ QUỐC TẾ TẠI CAMPUCHIA (1979-1989)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã ngành: 60220315
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Hoa
Hà Nội - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
TRẦN THỊ NGÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUÂN TÌNH
NGUYỆN VÀ CHUYÊN GIA QUÂN SỰ THỰC HIỆN NHIỆM
3
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo
quân tình nguyện và chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế tại
Campuchia (1979 – 1989)” là do tác giả tự nghiên cứu và hoàn thành dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa.
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngân
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ........................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 3
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu ..................................... 4
5. Nguồn tư liệu và hướng sử dụng ............................................................... 5
6. Những đóng góp mới của luận văn ........................................................... 5
7. Kế t cấ u của luâ ̣n văn ................................................................................. 5
Chƣơng 1: SƢ̣ LÃNH ĐẠO CỦ A
ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN TÌNH
2.2.1. Giúp Campuchia đẩy mạnh hoạt động quân sự ............................ 57
2.2.2. Giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang ............................. 61
Tiể u kế t chƣơng2 ....................................................................................... 58
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ............................................ 59
3.1. Nhận xét ............................................................................................... 59
3.1.1. Về ưu điểm .................................................................................... 59
3.1.1.1. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giúp đỡ cách mạng
Campuchia ............................................................................................... 59
3.1.1.2. Luôn coi trọng lãnh đạo nhiệm vụ quân sự trong quan hệ với
những nhiệm vụ kinh tế , chính trị- xã hội ............................................... 68
3.1.1.3. Quán triệt đầy đủ nguyên tắc “giúp bạn là tự giúp mình” và
“cách mạng là sự nghiê ̣p của quầ n chúng nhân dân” ........................... 70
3.1.1.4. Luôn kiê ̣n toàn các cơ quan giúp việc trong tư vấn, thực hiện
công tác giúp Campuchia........................................................................ 72
3.1.2. Về hạn chế và nguyên nhân .......................................................... 74
3.1.2.1. Hạn chế ...................................................................................... 74
3.1.2.2. Nguyên nhân............................................................................... 68
3.2. Kinh nghiệm ....................................................................................... 69
3.2.1. Tìm tòi, hoạch định chủ trương phù hợp và đáp ứng với tình hình
thực tiễn ................................................................................................... 69
3.2.2. Coi trọng việc phối hợp hoạt động linh hoạt, nhịp nhàng giữa lực
lượng vũ trang Viê ̣t Nam và Campuchia
.................................................... 79
3.2.3. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc trong giúp đỡ
Campuchia ............................................................................................... 81
3.2.4. Kết hợp giữa thực hiện nhiệm vụ quốc tế với xây dựng Quân tình
nguyện, chuyên gia quân sự vững mạnh về mọi mặt .............................. 84
Tiểu kết chƣơng 3 ...................................................................................... 87
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
ĐCS:
Đảng Cô ̣ng sản
ĐCSVN:
Đảng Cô ̣ng sản Việt Nam
ĐNDCM:
Đảng Nhân dân cách ma ̣ng
KHCN:
Khoa ho ̣c công nghê ̣
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình xây dựng và phát triển của Quân đô ̣i Nhân dân Viê ̣t Nam là lich
̣ sử
của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế
những lý do cơ bản để tôi chọn vấn đề “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân tình
nguyện và chuyên gia quân sự thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia (1979 -
8
1989)” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngoài ra, qua luận văn, tôi muốn cung cấp thêm một số tư liệu để phục vụ công tác giảng
dạy môn Lịch sử, Lịch sử Đảng Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam và Đường lối cách mạng của
Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong viê ̣c chỉ đạo thực hiê ̣n là m nhiê ̣m vu ̣ quố c tế , ĐCSVN đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong việc lãnh đạo Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự ta ̣i
Campuchia trong giai đoa ̣n 1979 - 1989, đươ ̣c nhiề u giới sử ho ̣c quan tâm . Qua
khảo cứu, tôi thấ y tư liê ̣u về mảng đề tài này có những nhóm sau :
2.1. Các công trình nghiên cứu về sự giúp đỡ của Quân tình nguyện và
chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam giúp đỡ Campuchia
“Vấn đề Campuchia” (Trường Chinh, Tạp chí Quân đội nhân dân, Hà Nội,
12/1979); “Kỷ nguyên mới của đoàn kết hợp tác Việt Nam - Campuchia” (Nxb Sự
thâ ̣t, Hà Nội, 1979); “Mãi mãi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam anh hùng” (Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1982); “Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào Campuchia” (Hoàng Văn Thái, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983); “Tình hình thế giới và
chính sách đối ngoại của chúng ta” (Lê Duẩ n , Nxb. Sự Thâ ̣t , Hà Nội , 1983);
“Chiến lược đoàn kết hợp tác với các nước ĐôngNam Á của Hồ Chí Minh - Quan
điểm lịch sử và triển vọng” (Lê Mậu Hãn, Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1993); “Quan hệ
Việt Nam - Lào - Campuchia trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954”
(Đỗ Đình Hañ g , Nxb Đa ̣i ho ̣c tổ ng hơ ̣p , Hà Nội , 1993); “Năm mươi năm ngoại
giao Việt Nam (1975 - 1995)” (Lưu Văn Lợi, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
1998); “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” (Nxb, Chính trị Quốc Gia , Hà Nội ,
2002); “45 năm Cục Đố i ngoại Bộ Q uố c phòng (1964 - 2009)” (Bộ Quốc phòng,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004); …
̣ sử , số 2, 2011); “Những năm tháng
làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang; “Li ̣ch sử quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣t
Nam giúp Cách mạng Campuchia (1978 - 1989)” (Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử
quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010)…
Cuốn “Quân đội nhân Viê ̣t Nam và nhiê ̣m vụ quố c tế cao cả trên đấ t bạn
Campuchia” đã nêu bâ ̣t tinh thầ n chiế n đấ u của Q uân tin
̀ h nguyê ̣n và chuyên gia
quân sự cùng sự chỉ đa ̣o sáng suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong suố t quá
trình chiến đấu cũng như giúp nhân dân Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang và
xây dựng các cơ sở cách ma ̣ng , xây dựng la ̣i đấ t nước . Sự giúp đỡ của quân tình
nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam đã góp phầ n tić h cực ta ̣o lên những thắ ng
lợi và thành tựu to lớn có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Campuchia . Cuốn sách
khẳng định: Trong mọi thời kỳ, những chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam không
quản ngại hy sinh , gian khổ cùng kề vai , sát cánh với quân dân Campuchia đánh
đuổi kẻ thù chung, giành lấy những thắng lợi cho cách mạng mỗi nước.
Nhìn chung, thông qua các công trình nói trên, dưới nhiều góc độ tiếp cận
khác nhau, làm nổi bật lên tình cảm hữu nghị hợp tác chiến đấu giữa hai nước Việt
Nam và Campuchia . Viê ̣t Nam luôn sẵ n sàng giúp đỡ Campuchia trong mo ̣i điề u
kiê ̣n và hoàn cảnh. Tuy nhiên, tấ t cả các công trin
̀ h đ ều nghiên cứu ở một khía cạnh
riêng biê ̣t chưa có công triǹ h nào đề câ ̣p đế n vấ n đề
Đảng lãnh đạo Qu ân tin
̀ h
nguyê ̣n và chuyên gia quân sự làm nhiê ̣m vu ̣ quố c tế ta ̣i Ca mpuchia (giai đoa ̣n 1979
- 1989) như tôi đã lựa cho ̣n.
10
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả luận văn sử dụng
các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như: Phương pháp lịch sử, phương pháp
logíc, phương pháp phân tích nhằm làm sáng tỏ những chủ trương, đường lối của Quân
ủy Trung ương ĐCSVN đố i với Quân tình nguyê ̣n và chuyêngia quân sự của Viê ̣t Nam
tại Campuchia. Các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê được sử dụng
để xử lý các sự kiện, con số, với mục đích dựng lại quá trình Quân ủy Trung ương chỉ
11
đạo Quân tinh
ện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia
.
̀ nguyê ̣n và chuyên gia quân sự thực hi
Phương pháp logic, phương pháp lịch sử được sử dụng tích cực trong nhận xét, đánh giá
và đúc kết kinh nghiệm.
5. Nguồn tƣ liệu và hƣớng sử dụng
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh, thông tư... của Đảng và Quân ủy
Trung ương đố i với Q uân tiǹ h nguyê ̣n và chuyên gia quân sự ta ̣i Campuchia giai
đoa ̣n từ năm 1979 - 1989. Các báo cáo tổng kế t của các sư đoàn , quân đoàn , tham
gia làm nhiê ̣m vu ̣ quố c tế ở Campuchia (đã công bố và chưa công bố ) là tài liệu gốc
của luận văn.
- Các công trình nghiên cứu về Quân tin
̀ h nguyê ̣n và chuyên gia quâ n sự Viê ̣t
Nam ta ̣i Campuchia là nguồn tài liệu quan trọng , được khai thác, sử dụng để làm
sáng tỏ những nội dung có liên quan của luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Về tư liệu: Luận văn sưu tầm, khai thác và giới thiệu nguồn tư liệu phong
phú, có giá trị về các chủ trương , chính sách và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc tế
đố i với Campuchia của ĐCSVN.
nhiều khó khăn và bộc lộ dấu hiệu khủng hoảng. Những rạn nứt, bất đồng quan
điểm và chính kiến về những vấn đề quốc tế, về đường lối chiến lược, sách lược của
các ĐCS vốn nảy sinh từ những thập niên trước, đến những năm 80 (thế kỷ XX)
tiếp tục bộc lộ rõ rệt, ngày càng có dấu hiệu trầm trọng, rồi lâm vào khủng hoảng
và suy thoái, lên đến “đỉnh của vòng xoáy trôn ốc”. Bên cạnh đó, ở các nước
XHCN xảy ra tình trạng quan liêu về quản lý, quần chúng nhân dân thờ ơ thụ động,
các hiện tượng tiêu cực ngày càng tăng. Hầu hết các nước XHCN đều trong tình
trạng năng suất lao động thấp (kém khoảng 4 lần so với CNTB). Xuất khẩu của các
nước XHCN được coi là phát triển như Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc,
Hungari, Liên Xô... chỉ chiếm từ 12 đến 15% tổng thu nhập quốc dân, trong khi đó Mỹ
và phương Tây khoảng 40%. Những khó khăn về kinh tế dẫn đến những mâu thuẫn
gay gắt về chính trị, xã hội trong nội bộ các nước XHCN. Đây là thời kỳ tiền khủng
hoảng của cả hệ thống XHCN. Những khó khăn đó càng thêm gay gắt khi cuộc cách
mạng KHCN, quá trình quốc tế hóa nền sản xuất, phân công lao động quốc tế diễn
ra mạnh mẽ trên thế giới, làm cho khoảng cách giữa các nước XHCN và các nước
TBCN ngày tăng.
Khủng hoảng diễn ra ở ngay bộ phận nòng cốt của phong trào, ở các đảng
cầm quyền các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô. Chủ nghĩa dân tộc mạnh lên ở
một số nước như phong trào Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan, nhóm “Hiến chương
77” ở Tiệp Khắc, Anbani và Rumani ngày càng tách ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của
Liên Xô. Thêm vào đó, bất bình trong dân chúng các nước Đông Âu cũng ngày
càng tăng lên khi mức sống của họ thua kém Tây Đức và các nước Tây Âu.
Đứng trước khủng hoảng, song Ban lãnh đạo của nhiều nước XHCN như
13
Liên Xô, Rumani, Anbani, CHDCND Triều Tiên, Cuba, CHDC Đức đến đầu thập
niên 80 (thế kỷ XX) đều bác bỏ mọi tư tưởng cải cách, đổi mới. Bungari, Tiệp
Khắc tuy hứa hẹn cải cách, nhưng chưa đưa ra những biện pháp nghiêm túc, cụ
chậm tổng kết lí luận và thực tiễn, giáo điều trong việc áp dụng kinh nghiệm và
14
vận dụng lí luận, chậm đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động của các
ĐCS.
Đầu những năm 70 (thế kỷ XX), ở các nước TBCN phát triển đã diễn ra
những cuộc đấu tranh của công nhân đòi các quyền dân chủ và dân sinh diễn ra
mạnh mẽ. Phong trào này có sự gắn bó mật thiết với với cuộc đấu tranh chống chạy
đua vũ trang, bảo vệ hòa bình thế giới đang ngày càng phát triển.
Thế giới cũng đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học - kỹ thuật lần thứ ba, khi khoa học - kỹ thuật dần trở thành một thành tố
lực lượng sản xuất trực tiếp. Điều này khiến nhiều nước có sự phát triển vượt bậc,
tiêu biểu như Nhật Bản và Đức, vươn lên trở thành những trung tâm kinh tế lớn của
thế giới TBCN, cạnh tranh trực tiếp với Mỹ.
Về quan hệ giữa các nước lớn, Mỹ chủ trương hòa hoãn với cả Liên Xô và
Trung Quốc, song tích cực cải thiện quan hệ với Trung Quốc để kiềm chế, cô lập
Liên Xô và chống lại ảnh hưởng của Liên Xô tại Châu Á. Ngày 1/1/1979, Trung Mỹ ra thông cáo chung và tuyên bố chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.
Một thời gian ngắn sau khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được thiết lập,
trong chuyến thăm của Phó tổng thống Hoa Kỳ Mondale tới Trung Quốc
(tháng
8/1979), Hoa Kỳ cam kết “bảo vệ an ninh cho Trung Quốc nếu Trung Quốc bị Liên
Xô tấn công” và “bất kỳ nước nào tìm cách làm suy yếu Trung Quốc đều là trái với
lợi ích của Mỹ”.
Trong khi đó, Liên Xô cũng tiến hành khai thác triệt để thất bại của Mỹ sau
chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) và những khó khăn của Trung Quốc để mở
rộng ảnh hưởng, kiềm chế Trung Quốc. Liên Xô triển khai tàu chiến ở Thái Bình
̀ h hin
̀ h kinh tế , chính
quyền cách mạng Viê ̣t Nam
đã có những biện pháp khuyến khích sản xuất phát
triển. Sau một thời gian ngắn, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp của
Nhà nước và của cả tư nhân đều được tạo điều kiện thuận lợi trở lại hoạt động.
Những khó khăn về nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế được khắc phục.
Chính quyền cách mạng Viê ̣t Nam cũng rất chú ý đến việc
khôi phục sản
xuất nông nghiệp, vận động nông dân vào các tổ đổi công, giúp đỡ nông dân
tích cực tháo gỡ bom mìn, khuyến khích khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi. Vì
thế, nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục và bước đầu có sự phát triển,
đáp ứng nhu cầu về lương thực cho nhân dân. Tuy nhiên, kế hoạch 5 năm (1976 1980) không thành công như mong đợi. Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể làm ăn
thua lỗ, không phát huy được tác dụng, kinh tế tư nhân, cá thể bị ngăn cản, không
phát triển được. Thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được nhu cầu tiêu dùng và xã
hội, nền kinh tế chưa tạo được tích lũy. Lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng
khác đều thiếu; thị trường vật giá không ổn định…
Trong kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), bình quân một năm tổng sản phẩm xã
hội chỉ tăng 1,4%, thu nhập quốc dân tăng 0,4%; trong khi đó, dân số tăng với tốc độ
bình quân 2,24% (năm 1980 dân số Việt Nam tăng thêm 6 triệu người so với năm
1975). Kết thúc kế hoạch 5 năm, tất cả 15 chỉ tiêu chủ yếu đều không đạt kế hoạch,
thậm chí một số sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp quan trọng không giữ được
16
mức của năm 1976. Đến năm 1980, sản xuất lương thực không đạt chỉ tiêu 21 triệu
tấn như Đại hội lần thứ IV đề ra, bình quân lương thực giảm từ 274,4kg/người (năm
Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang của PônPốt.
Trong khi chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do tập đoàn Pôn
17
Pốt - Iêngxari gây ra ở biên giới phía Tây Nam Tổ quốc, quân và dân Việt Nam phải
đối phó với những hành động chống phá, khiêu khích của các thế lực thù địch ở
biên giới phía Bắc. Sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc huy động 32 sư đoàn bộ binh
(tương đương 60 vạn quân), 550 xe tăng, 450 khẩu pháo, 1.260 súng cối... mở cuộc
tấn công vào lãnh thổ Việt Nam dọc theo biên giới phía Bắc, từ huyện (nay là thị
xã) Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu), bắt đầu cuộc chiến tranh
biên giới.
Nhìn chung, sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam vừa xây dựng đất nước,
khôi phục lại nền kinh tế bị tàn phá trong chiến tranh vừa phải chố ng la ̣i các t hế lực
thù địch bên ngoài.
1.1.3. Tình hình Campuchia
Campuchia vừa giành đươ ̣c thắ ng lơ ̣i trong cuô ̣c kháng chiế n chố ng Mỹ thì
cũng là lúc cách mạng Campuchia bị phản bội , đánh dấ u thời kỳ đen tố i trong lich
̣
sử Campuchia. Đây là thời kỳ tồ n ta ̣i của Campuchia dân chủ d o nhóm đô ̣c tài cực
đoan do Pôn Pố t - Iêngxary đứng đầ u.
Xuấ t phát từ chủ nghiã cực đoan , khi có chính quyền trong tay Pôn Pố t quyế t
đưa đấ t nước Campuchia đi nhanh tới c hủ nghĩa Cộng sản trong thời gian cực ngắ n .
Chính vì vâ ̣y Pôn Pố t - Iêngxary đã bấ t chấ p mo ̣i tình hình thực tế của kinh tế - xã
hô ̣i Campuchia sau những năm chiế n tranh bi ̣tàn phá nă ̣ng nề đang đòi hỏi cầ n có
những biê ̣n pháp khắ c phu ̣c từn g bước. Tuy nhiên, Pôn Pố t - Iêngxary vẫn thi hành
nhiề u đường lố i đô ̣i nô ̣i và đố i ngoa ̣i phản đô ̣ng.
Về kinh tế , Pôn Pố t - Iêngxary chủ trương tập trung vào thế mạnh nông
Có thể thấy, Công xã nhân dân của Pôn Pốt là một hệ thống nhà tù, mô ̣t xã hô ̣i
kìm kẹp con người. Chính những người dân Campuchia còn sống sót lại đã nhận xét:
“Nhà tù của Ăngca thâ ̣t lớn, không có tường rào, không có sích sắ t nhưng đi đâu cũng
không đươc”
̣ [81; 330]. Con người số ng trong công xã chỉ có cái quyề n duy nhấ t là lao
đô ̣ng đế n kiê ̣t sức và luôn phải nhận lấy cái chết do bị kệt sức vì lao động, vì đói ăn, bị
ốm đau và không có thuố c men điề u tri ̣và bi ̣giế t ha. ̣i
Về xã hội , để che đậy hành động của mình và đánh lạc hướng dư luận
thế
giới, ngày 2/3/1976, Pôn Pố t - Iêngxary bắ t nhân dân đi bỏ phiế u bầ u Quố c hô ̣i ,
nhưng thực chấ t quố c hô ̣i đó không có thực quyề n . Chính phủ Campuchia dân chủ
thành lập ngày 14/4/1976 cũng chỉ là hình thức . Mọi quyền hành đều tập trung
trong tay của Pôn Pố t - Iêngxary. Dưới thời Campuchia dân chủ , quyề n lực đươ ̣c tâ ̣p
chung trong tay mô ̣t tổ chức duy nhấ t là Ăngca .
Trong quá triǹ h giành quyề n hành về tay Ăngca , Pôn Pốt đã tấn công t hanh
lọc với quy mô lớn . Pôn Pốt chia dân làm ba loại để thống trị : Dân loa ̣i mô ̣t là dân
số ng ở vùng giải phóng trước ng ày 01/01/1975, đươ ̣c cai tri ̣; dân loa ̣i hai số n g ở
vùng giải phóng từ sau ngày 01/01/1975 và được thẳng tay tiêu diệt “dân gửi” (gồ m
những người bi ̣dồ n từ thành thi ̣về nông thôn). Với thủ đoa ̣n này Pôn Pốt gây chia
rẽ, thù hằn dân tô ̣c trong nô ̣i bô ̣ nhân dân và dẫn đế n cuô ̣c tàn sát lẫn nhau nhằ m thủ
tiêu mo ̣i khả năng chố ng đố i trong quầ n chúng nhân dân . Đây chỉ là thời kỳ đầ u của
Campuchia dân chủ , về sau các dân tô ̣c cũng không khác gì nhau , đều bị lao đô ̣ng
cưỡng bức, bị hành hạ, bị Ăngca giế t ha ̣i. Ngoài ra Pôn Pố t - Iêngxary còn thực hiện
chính sách đồng hóa, tàn sát với các dân tộc ít người.
Dưới chế đô ̣ Campuchia dân chủ , mọi sản phẩm lao động đều nằm trong tay
Ăngca, những nhu cầ u tố i thiể u của con người đề u do công xã bao cấ p tâ ̣p thể với
mô ̣t tiêu chuẩ n chế t đói người lao đô ̣ng không có chút sản phẩ m dư thừa nào . Do
vâ ̣y, viê ̣c giao lưu buôn bán không còn tồ n ta ̣i , tầ ng lớp thương nhân bi ̣thủ tiêu .
PônPốt thi hành xỏa bỏ ngân hàng vào tháng 5/1975, hoàn toàn xóa bỏ đồng tiền.
Trái ngược với các tầng lớp trên thì binh lính Campuchia dân chủ được ưu
quyề n cũ. Sức ma ̣nh này đươ ̣c củng cố và phát triể n từ nghìn năm rồ i và nó mang cả
đă ̣c trưng phản đô ̣ng của phong kiế n tư sản, chủ nghĩa thực dân mới, các đặc điểm áp
bức đề u co.́ Văn hóa phổ thông, văn hóa nghê ̣ thuâ ̣t từ cách ăn mă ,̣c trang sức thực chấ t
là của giai cấp thống trị. Vì thế nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ là phải đào
bới văn hóa xã hô ̣i cũ [81; 335]. Với quan niê ̣m như vâ ̣y, mọi văn hóa truyền thống và
tôn giáo đề u bi ̣PônPốt thủ tiêu, nhằ m đô ̣c tôn ngự tri ̣đời số ng tâm linh của mo ̣i ngươ,̀ i
buô ̣c mo ̣i người chỉ tin vào mô ̣t lực lươ ̣ng thầ n bí duy
nhấ t là Ăngca.
Về đố i ngoại , Pôn Pốt thực hiện đóng kín cửa với thế giới bên ngoài và xâm
lươ ̣c các nước láng giề ng nhằ m trở la ̣i với lañ h thổ của vương quố c Ăngco xưa
.
Chính vì vậy , ngay sau khi giành chí nh quyề n trong cả nước, Pôn Pốt đã tiến hành
20
xâm chiế m các nước láng giề ng như Viê ̣t Nam , Lào, Thái Lan. Với Lào , Pôn Pốt thi
hành chính sách hai mặt , mô ̣t mă ̣t thực hiê ̣n lấ n chiế m mô ̣t số điể m ở biên giới , mă ̣t
khác, tìm cách mua chuộc về k inh tế nhằ m lôi kéo Lào , tránh mức tối đa việc quan
hê ̣ với Viê ̣t Nam. Với Thái Lan , Pôn Pốt từng tuyên bố Campuchia dân chủ sẽ lấy
lại Campuchia Krom của Việt Nam cũng như Surin và các tỉnh khác của Thái Lan .
Đối với Việt Nam , tình hình diễn ra cũng vô cùng phức tạ p, ngay từ tháng
5/1975, Pôn Pố t - Iêngxary cho quân đổ bô ̣ lên đảo Phú Quố c và đảo Thổ Chu , tiế p
đó là các cuô ̣c hành quân sang biên giới với c hính sách đốt sa ̣ch, giế t sa ̣ch, phá sạch
trên do ̣c biên giới từ Hà Tiên đế n Tây Ninh . Cuố i năm 1975, Pôn Pốt chiếm các tỉnh
khác của Việt Nam như Gia Lai , Kom Tum, Đắc Lắc . Cùng với hành đô ̣ng xâm
lươ ̣c biên giới, Pôn Pốt còn thực hiện chiến dịch tàn sát và đuổi Việt kiề u về nước.
Năm 1977, Pôn Pốt tăng cường các đợt xâm lấn vào lãnh thổ Việt Nam , đồ ng
thời Campuchia dân chủ cũng tuyên bố cắ t đứt quan hê ̣ ngoa ̣i giao với Viê ̣t Nam và
công khai tuyên bố “đụng độ” giữa Campuchia d ân chủ và Viê ̣ t Nam vào ngày
Campuchia ở vào vi ̣tr í quan trọng của tuyến phòng thủ biên giới phía Tây
Nam của Viê ̣t Nam , viê ̣c giúp đỡ Campuchia có ý nghiã chiế n lươ ̣c đố i với cách
mạng Việt Nam , có thể tự cứu lấy mình , tránh các cuộc đánh chiếm bất ngờ của
thực dân. Từ tháng 8/1945, Viê ̣t Nam đã giao cho các cơ sở Đảng ở điạ phương trực
tiế p giúp đỡ các tổ chức kháng chiế n của Campuchia . Vùng Tây Bắc Campuchia do
các cán bộ Đảng ở Thái Lan trực tiếp chỉ đạo và tổ chức lực lượng vũ tran
g Viê ̣t
Kiề u giúp đỡ Campuchia xây dựng cơ sở và phát đô ̣ng nhân dân Khơme đấ u tranh
vũ trang. Ở phía Tây Nam , Ủy ban kháng chiến Nam Bộ chịu trách nhiệm chỉ đạo
Quân khu 7, 8, 9 tổ chức hoa ̣t đô ̣ng giúp đỡ Campuchia . Do đó , Xứ ủ y và Ủy ban
nhân dân Nam Bô ̣ đã cử mô ̣t phái viên đế n Phnômpênh gă ̣p Chính phủ Sơn Ngo ̣c
Thành để bàn bạc phối hợp chuẩn bị chống Pháp và bảo vệ độc lập hai nước . Đồng
thời cử mô ̣t số cán bô ̣ do ông Huỳnh Chí Ma ̣nh
(tức Hai Lực) phụ trách lên
PhnômPênh và mô ̣t số tin̉ h móc nố i la ̣i cơ sở cách ma ̣ng . Tình hình lúc này hết sức
khẩ n chương vì thực dân Pháp đang gây hấ n ở Nam Bô ̣ và đánh chiế m PhnômPênh .
Trước tiǹ h hiǹ h đó , Chính phủ Việt Nam đã gi úp ông Pasuôn và Kim Chuôn thành
lâ ̣p Ủy ban Cao Miên đô ̣c lâ ̣p vào cuố i năm 1945 dựa vào vùng Trí Tiên Châu Đố c
của Việt Nam để hoạt động , huấ n luyê ̣n đươ ̣c 100 thanh niên Khơme về nước hoa ̣t
đô ̣ng. Tuy nhiên , sau đó thực dân Pháp đã tấ n công lên phía Tây Nam của Viê ̣t
Nam, Ủy Ban Cao Miên chưa kịp đưa các chiến sĩ về nước do chưa có các cơ sở
cách mạng nhanh chóng tan rã.
Năm 1946, Viê ̣t Nam bắ t đầ u thành lâ ̣p Ban Hải ngoa ̣i - cơ quan đa ̣i diê ̣n của
Chính phủ Trung ương Viê ̣t Nam ở Thái Lan , từ đó tổ chức mô ̣t con đường tiế p tế
liên la ̣c từ Thái Lan qua Campuchia về Nam Bô ̣ (lúc này Chính phủ Thái Lan do
Prathít đứng đầu có tình cảm và ủng hộ Chính phủ Việt Nam ). Giữa năm 1946, Việt
Nam đã tổ chức đươ ̣c các đơn vi ̣vũ trang Viê ̣t kiề u và mua vũ khí từ Thái Lan về
Nam Bô ̣. Mùa Thu năm 1946, các đoàn Cửu Long 1, Cửu Long 2 hành quân bí mật
qua Campuchia về nước . Trên do ̣c đường hành quân có tuyên truyề n cho nhân dân
năm 1950, các khu giải phóng liên tiếp đ ược mở rộng nối liền khoảng 70.000 km,
chiế m non mô ̣t nửa diê ̣n tić h . Phía Tây được giải phóng , lực lượng cách ma ̣ng làm
chủ được 2/3 Battàombong, 3/5 Bursát, phía Đông giải phóng Binot , Saon, Salong,
phía Đông Nam và Tây Nam vùng g
Preyven, Tà Kheo [7; 18].
iải phóng gồm các tỉnh Kvairieng , Kondan,
Bước sang năm 1950, Viê ̣t Nam tăng cường cán bô ̣ và cử Lê Đức Tho, Lê
̣ Duẩ n
(kiêm Bí thư Xứ ủy Nam Bô ̣ ) trực tiế p chỉ đa ̣o kháng chiế n Campuchia. Từ đó, mọi
mă ̣t công tác lañ h đa ̣o của Campuchia đươ ̣c đi vào thố ng nhấ t . Sau Hô ̣i nghi ̣tháng
3/1950, ban cán sự Đảng Campuchia đươ ̣c thành lâ ̣p gồ m9 người, 7 người chin
́ h thức
và 2 dự khuyế t trong đó có 1 người Khơme do ôngThanh Sơn làm Bí thư kiêm chính
ủy mặt trận, ông Bin̉ h làm phu ̣ trách quân sự. Ngay sau đó đã chỉ thi ̣thành lâ ̣p Ban cán
sự các khu Tây Bắ c, Đông Nam, Tây Nam, đồ ng thời điề u đô ̣ng mô ̣t số cán bô ̣ có năng
lực phu ̣ trách các khu. Sau 6 tháng thực hiện nghị quyế t, công tác phát triể n Đảng có
những chuyể n biế n rõ rê,̣t phát triển được 300 Đảng viên người Khơme tăng gấ p10 lầ n
so với năm 1950 [7; 20]. Để thố ng nhấ t phong trào và lực lươ ̣ng đẩ y ma ̣nh kháng chiế n
Viê ̣t nam giúp Campuchia thành lâ ̣p Ủy ban dân tô ̣c giải phóng Trung ương(chính phủ
cách mạng lâm thời) và mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc Campuchia (mă ̣t trâ ̣n
Khơme Isarak). Từ đây phong trào cách ma ̣ng Campuchia ngày càng phát triể n sâu
rô ̣ng thu hút đươ ̣c nhiề u tầ ng lớp nhân dân và mở rô ̣ng đươ ̣c nhiề u vùng giải phó.ng
Trước tiǹ h hiǹ h cách ma ̣ng ngày càng phát triể n ở các nước
, Đa ̣i hô ̣i toàn
quố c lầ n thứ 2 Đảng Cô ̣ng sản Đông Dương ho ̣p tháng 2/1951, ra nghi ̣quyế t: Củng
cố Đảng bô ̣ Campuchia tiế n tới xây dựng ĐNDCM Campuchia và xây dựng Đảng
bô ̣ Đảng Lao đô ̣ng Viê ̣t Nam trong lực lươ ̣ng Quân tình nguyê ̣n ở Campuchia . Ngày
, năm
̣ thúc đẩ y phong trào du kić h phát triể n rô ̣ng raĩ
1952 có 59 trung đô ̣i thì đế n năm 1954 đã xây dựng đươ ̣c 6 đa ̣i đô ̣i tâ ̣p trung khu và
tỉnh gồm một nửa là người Khơme, bô ̣ đô ̣i điạ phương huyê ̣n có 70 trung đô ̣i và hơn
50.000 dân quân du kích [7; 37].
Cuô ̣c chiế n tranh xâm lươ ̣c của thực dân Pháp đố i với ba nước Đông Dươn g
những năm 1953 - 1954 đã bước vào giai đoa ̣n kế t thúc . Trong chiế n cuộc Đông
Xuân năm 1953 - 1954, sự kế t hơ ̣p giữa các chiế n trường Bắ c Bô ̣ , Trung - Nam Bô ̣
và Miên khá chặt chẽ . Đầu năm 1954, Viê ̣t Nam chi viê ̣n mô ̣t bô ̣ phâ ̣n quân c hủ lực
từ vùng Ha ̣ Lào tiế n vào vùng Đông Bắ c Campuchia trực tiế p hỗ trơ ̣ cho phong trào
tiế n công nổ i dâ ̣y của nhân dân điạ phương , giải phóng Viêngxai , Kratie và phố i
hơ ̣p với lực lươ ̣ng chiế n đấ u Campuchia giải phóng phía Đôn
g sông Mê Kông ,
chuẩ n bi ̣tiế n tới giải phóng các tỉnh trung tâm như Preyven , Kondan.
24
Thắ ng lơ ̣i Điê ̣n Biên Phủ của Viê ̣t Nam buô ̣c Pháp phải ngồ i vào bàn đám
phán tại Hội nghị Giơnevơ . Tại đây, các nước tham gia Hội nghị phải cam kế t thừa
nhâ ̣n chủ quyề n , đô ̣c lâ ̣p, thố ng nhấ t của ba nước Viê ̣t Nam - Lào - Campuchia. Sau
khi Hiê ̣p đinh
̣ Giơnevơ đươ ̣c ký kế t , ba nước Viê ̣t Nam , Lào và Campuchia hoàn
toàn được độc lập . Campuchia dưới sự lañ h đa ̣o của Sihanouk đã chủ trương xây
dựng mô ̣t nước theo con đường trung lâ ̣p . Viê ̣t Nam đã giúp đỡ Campuchia sắ p xế p
các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương
nguyê ̣n về khu vực Nam Bô .̣
̀ h nguyê ̣n Viê ̣t Nam đã giúp Campuchia
đánh ba ̣i cuô ̣c phản công chiế n lươ ̣c gầ n 1 vạn quân của Mỹ và Quân đội Sài Gòn ,
giải phóng hoàn toàn
5 tỉnh (Ratannakiri, Strung treng , Mondolkiri, Kratie,
Preahvihia), giải phóng một phần các tỉnh Soài riêng , Prayveng, Kombomcham,
takeo, Kampot, trong đó có 50 huyê ̣n đươ ̣c gi ải phóng hoàn toàn , chiế m 65 huyê ̣n
lỵ, thị trấn với hơn 3 triê ̣u dân [6; 23]. Bước vào mùa mưa năm 1970, cách mạng
Campuchia đã tiêu diê ̣t đươ ̣c 21.000 quân của đối phương ; kế t hợp với Quân tình
25