1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành công nghiệp sản xuất ô tô - xe máy ở nước ta ngày nay đang là
một ngành hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Phát triển ngành
công nghiệp này sẽ là động lực và sức mạnh để giúp đất nước hoàn thành
công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa và trở thành một nước phát triển. Sự
ảnh hưởng của nó đến các ngành công nghiệp khác là rất đáng kể và thể hiện
là một trong những ngành xương sống của nền kinh tế. Việc đi sâu vào phát
triển ngành, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, ứng dụng khoa học công nghệ và
mở cửa hội nhập là những điều kiện tiên quyết để có một ngành công nghiệp
sản xuất ô tô - xe máy vững chắc. Việt Nam, đất nước của hơn 90 triệu dân
với mức tăng trưởng cao về kinh tế thì một viễn cảnh tươi sáng của ngành
công nghiệp ôtô - xe máy là có thể. Phát triển ngành công nghiệp này sẽ cho
phép đất nước tiết kiệm được những khoản ngoại tệ đáng kể dành cho nhập
khẩu, cũng như phát huy được một số thế mạnh nổi trội hiện nay. Đặc biệt, sẽ
có những tác động trực tiếp mang tính tích cực lên một số ngành công nghiệp
và dịch vụ mà Việt Nam đang rất cần, như hóa dầu, thép, phân phối.
Công nghiệp ô tô - xe máy đóng góp 3 - 5% GDP. Ngành công nghiệp
ô tô - xe máy là mô hình kinh doanh đa tầng gồm nhà cung cấp, nhà sản xuất,
và các đại lý phân phối. Chuỗi kinh doanh này đóng góp đáng kể vào GDP
của một quốc gia. Các ước tính khác nhau cho biết đóng góp này tại Việt Nam
nằm trong khoảng từ 3 đến 5%. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội các nhà
sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), hiện tại có hơn 60.000 lao động làm việc
trong các nhà máy, công ty thành viên VAMA. Nếu tính cả số lượng nhân công
làm việc cho các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM), cùng các doanh nghiệp sản
xuất phương tiện giao thông 2 bánh, các nhà cung cấp thiết bị lắp ráp cùng các
đại lý phân phối, số lượng người làm việc trong ngành ước tính khoảng 125.000
người. Ngoài ra, nếu tính thêm số người phụ thuộc của các lao động trong
1
2
3
Việt Nam và trên thế giới vẫn luôn tồn tại một số yếu tố tác hại nghề nghiệp
như tiếng ồn trong phân xưởng đột rập, hơi khí độc trong phân xưởng hàn,
phun sơn… một số yếu tố đã vượt quá giới hạn tối đa cho phép gây ảnh
hưởng đến sức khỏe người lao động là nguyên nhân gây các bệnh điếc nghề
nghiệp, viêm mũi họng, dị ứng… cho người lao động. Các bệnh nghề nghiệp
đã làm chất lượng cuộc sống của người lao động giảm sút, ảnh hưởng đến
năng suất lao động. Vì vậy, việc tìm hiểu những yếu tố môi trường gây hại và
tình trạng sức khỏe - bệnh tật của các cán bộ người lao động viên, để từ đó áp
dụng một số biện pháp ngăn chặn tác hại của nó để bảo vệ sức khỏe người lao
động là vô cùng cần thiết. Vì vậy tôi tiến hành đề tài “Thực trạng môi
trường, sức khỏe, bệnh tật của người lao động Công ty Honda Việt Nam
năm 2015 và yếu tố liên quan” với các mục tiêu sau:
1) Mô tả thực trạng môi trường lao động của Công ty Honda Việt Nam năm
2015
2) Mô tả tình hình sức khỏe và phân tích một số yếu tố liên quan của người lao
động tại Công ty Honda Việt Nam năm 2015
Trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm hạn chế những tác hại của
môi trường lao động đến sức khỏe người lao động trên cơ sở khoa học và có
tính khả thi.
3
5
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định Phê duyệt Quy hoạch phát
triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 với mục tiêu phát triển ngành công nghiệp ô tô trở thành ngành công
nghiệp quan trọng của đất nước, đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa về
các loại xe tải, xe khách thông dụng và một số loại xe chuyên dụng; phấn đấu
trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng và một số cụm chi tiết có giá trị
cao trong chuỗi sản xuất công nghiệp ô tô thế giới.
Đến nay, sau 20 năm đổi mới, Chính phủ tiếp tục đề ra định hướng
phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2025, tầm nhìn 2035 với quan
điểm coi công nghiệp ô tô là ngành tạo động lực quan trọng, thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cần được khuyến khích phát triển
bằng những chính sách ổn định, nhất quán và dài hạn. Về hiện trạng, tổng
năng lực sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam hiện nay đạt khoảng 460 nghìn
xe/năm, trong đó xe con là 200 nghìn xe/năm; xe tải và xe khách đạt 215
nghìn xe/năm. So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, sản xuất ô tô VN
đang đứng sau Thái Lan và Indonesia lần lượt là 881 nghìn xe và 1,2 triệu xe.
Năm 2014, trong khi ngành công nghiệp ô tô Thái Lan giảm 34%; Indonesia
giảm 2% thì thị trường ô tô Việt Nam tiếp tục đạt mức tăng trưởng ấn tượng
trên 35%. Để ngành công nghiệp ô tô phát triển theo chiến lược và quy hoạch
Chính phủ đã đề ra, Bộ Công Thương đề xuất các giải pháp như các chính
sách hỗ trợ và ưu đãi như chính sách thuế; chính sách khuyến khích các dự án
đầu tư sản xuất 3 dòng xe ưu tiên phát triển có công suất tối thiểu 100.000
xe/năm; chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ. Đồng thời, một số giải pháp
khác như tăng cường kiểm soát kê khai giá tính thuế đối với xe nhập khẩu
nguyên chiếc và linh kiện nhập khẩu; tăng cường công tác quản lý thị trường,
quản lý hoạt động xuất nhập khẩu động cơ, xe ôtô, chống buôn lậu, gian lận
thương mại…
xuất và kinh doanh xe máy. Các DN sản xuất và lắp ráp xe máy trong nước đã
6
7
phát triển ồ ạt. Hiện nay, có 3 dòng công nghệ phổ biến ở các doanh nghiệp,
đó là: Công nghệ Nhật Bản: đạt trình độ cao, chất lượng tốt, lợi nhuận lớn,
tập trung ở các liên doanh như Honda, Yamaha, Suzuki; công nghệ Đài Loan:
đạt trình độ tiên tiến, sản phẩm chất lượng tốt, giá bán thấp hơn so với công
nghệ Nhật Bản. Điển hình là Công ty SYM; công nghệ Trung Quốc: công
nghệ trung bình, nhiều công đoạn vẫn phải làm thủ công, nên chất lượng
không đồng đều, giá bán thấp nên lợi nhuận không cao.
Định hướng của Chính phủ đối với ngành xe máy Việt Nam: theo bản
quy hoạch, giai đoạn đến năm 2015, đáp ứng được 100% nhu cầu xe thông
dụng ở khu vực nông thôn, 90% xe ở khu vực thành thị, phấn đấu đạt tỷ lệ sản
xuất trong nước dùng xe tay ga trên 60%, dùng xe thông dụng trên 90%, sản
phẩm xe máy đạt tiêu chuẩn chất khí thải theo lộ trình được Việt Nam cam
kết thực hiện theo các quy định hiện hành, sản xuất được các loại xe phân
phối lớn hơn 125cm³, xe tay ga cao cấp, xe thể thao, xe máy 3 - 4 bánh cho
người tàn tật, xe địa hình phục vụ du lịch, xe vận chuyển nông sản... phục vụ
nhu cầu trong nước và xuất khẩu, phấn đấu xuất khẩu xe máy và phụ tùng xe
máy đạt khoảng 400 triệu USD. Giai đoạn 2006, các doanh nghiệp (DN) phải
quý trọng đến việc nghiên cứu sản xuất các loại động cơ xe máy sử dụng
nhiên liệu “sạch” phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Đến năm 2010,
dự báo lượng xe máy lưu hành trong cả nước khoảng 24 triệu xe, tăng bình
quân hàng năm khoảng 2,0 - 2,2 triệu xe/năm. Đến năm 2015, dự báo lượng
xe máy lưu hành trong cả nước khoảng 31 triệu xe, tăng bình quân hàng năm
giai đoạn này vào khoảng 2 triệu xe/năm. Đến năm 2020, tổng số xe máy lưu
hành trong cả nước đạt khoảng 33 triệu xe, tăng bình quân hàng năm giai
và vật lý học (nhằm thiết lập các mức phơi nhiễm của con người). Dịch tễ học
môi trường cũng sử dụng các yếu tố trong y học lâm sàng, sinh hóa học và
sinh lý học (nhằm tạo nên tác động đối với sức khỏe). Bằng cách ứng dụng
các phương pháp toán học và thống kê, dịch tễ học môi trường kết hợp các
thông tin thu thập được từ các ngành khoa học khác. Sự diễn giải các thông
8
9
tin này để đưa ra hoạt động dự phòng là một trong số những thách thức và
những vấn đề quan trọng của dịch tễ học môi trường.
An toàn lao động là việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình
lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động
(Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số
Điều của Bộ luật Lao động về An toàn lao động, Vệ sinh lao động). An toàn
lao động là tình trạng điều kiện lao động không gây nguy hiểm trong sản xuất
(theo từ điển bách khoa toàn thư).
Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức
và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất
đối với người lao động. Để ngăn ngừa sự tác động của các yếu tố có hại, trước
hết phải nghiên cứu sự phát sinh và tác động của các yếu tố có hại đối với cơ thể
con người, trên cơ sở đó xác định tiêu chuẩn giới hạn cho phép của các yếu tố
trong môi trường lao động, xây dựng các biện pháp vệ sinh lao động (tài liệu về
công tác bảo hộ lao động của Bộ lao động - thương binh và xã hội).
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ
thuật, tự nhiên thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng
lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại
giữa chúng, tạo điều kiện hoạt động của con người trong quá trình sản xuất.
- Các yếu tố hóa học như các chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các
chất phóng xạ- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi
khuẩn, kí sinh trùng, côn trùng…
- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, cường độ, nhịp điệu lao động,
không tiện nghi do không gian chỗ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh,
các yếu tố tâm lý không thuận lợi.
Ngoài ra, các yếu tố nguy hiểm là các yếu tố có thể tác động một
cách bất ngờ lên cơ thể người lao động gây chết người hoặc gây chấn
thương các bộ phận cơ thể của người lao động, gây nên các vụ tai nạn lao
động trong sản xuất.
10
11
11
12
1.2.2. Điều kiện vi khí hậu
Vi khí hậu trong môi trường lao động sản xuất hay còn gọi là điều kiện
khí tượng trong môi trường sản xuất bao gồm: nhiệt độ không khí, độ ẩm
không khí, tốc độ chuyển động của không khí và cường độ bức xạ nhiệt từ các
bề mặt xung quanh. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù
hợp với sinh lý của con người. Điều kiện khí tượng đó có thể ảnh hưởng tới
quá trình sinh học trong điều hòa nhiệt độ của cơ thể và có thể gây bệnh tật
cho người lao động khi mà các phản ứng sinh lý sinh hóa bị rối loạn [4].
Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ
thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng
cho phép) thì tính nhạy cảm đó sẽ tăng lên khi vi khí hậu nóng ở mức cao
(trên mức tối đa cho phép). Tác giả đã đề nghị phải xét lại tiêu chuẩn tối đa
cho phép của các hơi khí độc công nghiệp trong trường hợp có tác động phối
hợp của khí hậu nóng [5].
Theo Lưu Đức Hòa (2003), làm việc lâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh
và ẩm có thể mắc các bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi và
làm cho bệnh lao nặng thêm. Vi khí hậu lạnh và khô làm cho rối loạn vận
mạch thêm trầm trọng, gây khô niêm mạc, nứt nẻ da. Vi khí hậu nóng ẩm làm
giảm khả năng bay hơi của mồ hôi, gây rối loạn thăng bằng nhiệt, làm cho
mệt mỏi xuất hiện sớm, nó còn tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây
bệnh ngoài da [6].
Theo Phùng Văn Hoàn (1992), nghiên cứu môi trường lao động về mùa
lạnh và sức khỏe của người lao động ở các lò công nghiệp cơ khí cho thấy:
ảnh hưởng cả yếu tố vi khí hậu nóng tới môi trường lao động của các lò cơ
khí (lò rèn, lò thép), có phần giảm nhiều nhưng vẫn gây ra những biến đổi
sinh lý và bệnh lý ở người lao động lao động trong khu vực đó [7].
13
14
1.2.3 Tiếng ồn và rung trong sản xuất
Định nghĩa “Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số
khác nhau, được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, gây cảm giác khó chịu cho
người nghe, cản trở con người làm việc và nghỉ ngơi” [8].
Các đặc tính của âm thanh:
-
Tần số: số lần dao động đầy đủ trong một giây. Đơn vị đo hertz (Hz)
giảm, tần số mạch giảm.
-
Ảnh hưởng đến toàn thân: sụt cân, gầy yếu, dễ cáu gắt, bực bội, khó chịu.
Nếu như trong điều kiện vi khí hậu nóng thì tác động của tiếng ồn lên
sức khỏe con người càng tăng, như theo Cacmaboxop vào mùa hè nhiệt độ
khoảng 37±0,50C, độ ẩm 23,2%, vận tốc gió 1,1m/s và tiếng ồn là 93±0,7dBA
14
15
so với cùng điều kiện như vậy nhưng nhiệt độ thấp hơn (chỉ 20 0C) thì nhiệt độ
cao phối hợp với tiếng ồn gây biến đổi sinh lý mạnh mẽ hơn tác động của
tiếng ồn đơn thuần [9].
Rung từng bộ phận có ảnh hưởng cục bộ xuất hiện ở tay, ngón tay khi
làm việc với cưa máy, búa máy, máy đánh bóng. Rung gây ra chứng bợt tay,
mất cảm giác, ngoài ra gây thương tổn huyết quản, thần kinh, khớp xương, cơ
bắp, xúc giác và lan rộng, thâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương, hệ
tuần hoàn nội tiết. Rung toàn thân thường xảy ra đối với những người làm
việc trên phương tiện giao thông, máy hơi nước, máy nghiền... Chấn động
làm co hệ thống huyết mạch, tăng huyết áp và nhịp đập tim. Tuỳ theo đặc tính
chấn động tạo ra thay đổi ở từng vùng, từng bộ phận trên cơ thể người.
1.2.4. Bụi trong sản xuất
Bụi trong môi trường lao động là bụi phát sinh từ quá trình sản xuất.
Bụi là một tập hợp nhiều phần tử có kích thước nhỏ bé và tồn tại lâu trong
không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi,
khói mù, được hình thành từ sự vỡ vụn của vật chất do lực tự nhiên hoặc do
quá trình sản xuất gây nên [8].
sắt, gây ra rất nhiều bệnh về đường hô hấp. Thể nhẹ như viêm mũi, viêm
họng, viêm xoang, viêm đa xoang. Thể nặng gây ra nhiều bệnh như viêm
phổi, viêm phế quản mạn tính, xơ hóa phổi, hen, các bệnh ung thư phế quản,
ung thư phổi.
Nghiên cứu về rối loạn thông khí phổi ở người lao động tiếp xúc với
bụi silic của Tạ Tuyết Bình, Lê Trung, Phạm Ngọc Quỳ (2003) cho thấy tỷ lệ
người lao động tiếp xúc với bụi phổi - silic có rối loạn thông khí phổi là
13,4%, trong số này chủ yếu là rối loạn thông khí hạn chế, sau đó là rối loạn
thông khí hỗn hợp, ít gặp rối loạn thông khí tắc nghẽn đơn thuần [10],[11].
Từ tác hại của bụi tác động lên hệ thống hô hấp gây bệnh bụi phổi (tổn
thương xơ hóa phổi), bệnh VPQ phổi tắc nghẽn, đã dẫn đến những rối loạn
chức năng tim mạch như tăng áp lực động mạch phổi, biến đổi HA, nhịp tim,
trục điện tim… [12].
1.2.5 Hơi khí độc và các hóa chất có hại
Khí CO 2 thường phát sinh ở một số ngành kỹ nghệ (cơ khí, rượu bia…)
và xuất hiện ở những nơi làm việc kín gió, đông người, trong hang sâu, dưới
giếng. Nó là chất khí không màu, không mùi và có cảm giác tê ở nồng độ thấp
16
17
gây nên các triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, mệt mỏi và có thể
ngất, ở nồng độ cao có thể gây ngất ngay. Nồng độ tiêu chuẩn trong không
khí là £ 1800 mg/m3
Khí CO là một chất khí không màu, không mùi, bắt cháy và có độc
tính cao. Nó là sản phẩm chính trong sự cháy không hoàn toàn của cácbon và
các hợp chất. Khí thải của động cơ đốt trong tạo ra sau khi đốt các nhiên liệu
gốc cácbon có chứa CO, đặc biệt với nồng độ cao khi nhiệt độ quá thấp để có
thể thực hiện việc oxy hóa trọn vẹn, do thời gian có thể tồn tại trong buồng
nhập sẽ nhanh hơn qua chỗ da bị tổn thương.
- Đường tiêu hóa: hóa chất xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa do
ăn, uống hoặc hút thuốc khi tay bị nhiễm bẩn, do ăn uống thực phẩm bị nhiễm
độc bụi hoặc hơi hóa chất trong không khí, do hít thở phải các hạt bụi hóa
chất vào họng và nuốt nó, do ăn uống nhầm phải hóa chất…
Trong ba đường xâm nhập này thì chất độc thường vào theo cơ thể
người lao động qua đường hô hấp chiếm tới 95% các trường hợp nhiễm độc.
Khi nhiễm hóa chất độc hại, NLĐ bị ảnh hưởng tới sức khỏe như sau:
- Nhiễm độc cấp tính: tiếp xúc với các chất có độ độc tính mạnh, ở
nồng độ cao trong một thời gian ngắn là có thể bị nhiễm độc cấp tính.
- Nhiễm độc mãn tính: tiếp xúc với các chất có độ độc tính nhẹ, ở nồng
độ thấp trong một thời gian dài có thể bị nhiễm độc mãn tính
1.2.6. Tác động của stress
Các stress trong môi trường lao động như tiếng ồn, hơi khí độc, thiếu
ánh sáng… Ảnh hưởng rất nhiều tới gánh nặng tâm thần, là nguyên nhân góp
phần làm tăng HA, tăng nhịp tim, tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành [13].
Hậu quả của stress liên quan đến nghề nghiệp là mắc các bệnh về tâm sinh lý,
bệnh về tim mạch... Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà [14] về stress
nghề nghiệp ở nhân viên y tế cho thấy 82,7% đối tượng có biểu hiện mệt mỏi,
82,4% có biểu hiện nóng nẩy và lo âu, 75,7% có dấu hiệu mất ngủ, khó ngủ,
51,4% có biểu hiện đau đầu. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Ngà [15]
18
19
về đánh giá căng thẳng của người điều khiển hệ thống tự động tại một Công
ty xi măng: 54,5% số đối tượng có dấu hiệu nặng đầu, 31,8% có dấu hiệu đau
đầu, 22,7% có dấu hiệu mệt mỏi toàn thân và 9,1% có dấu hiệu khó thở. Đặng
Hữu Tú [16] khảo sát các stress nghề nghiệp và một số biểu hiện rối loạn tâm
- Tư thế lao động: cúi khom để quét dọn, với tay cao quá tầm, vươn
người quá xa khi đuổi bắt vật nuôi, sử dụng máy... đều là những tư thế không
thỏa mái, gây mệt mỏi cho NLĐ. Tư thế làm việc khó khăn là một trong
những yếu tố bất lợi của môi trường lao động: do sắp xếp nơi làm việc không
hợp lý, việc thiết kế và lựa chọn các công cụ không phù hợp, phương pháp
làm việc không đúng. Các tư thế làm việc khó khăn có thể gây ra sự mệt mỏi
và góp phần vào sự phát triển của các rối loạn cơ xương.
Theo thống kê của WHO có hơn 50% bệnh nghề nghiệp là do yếu tố
ergonomies chủ yếu liên quan tới tư thế lao động không hợp lý gây ra. Ở
Thụy Điển năm 1980 có 52,9% bệnh nghề nghiệp gây nên do yếu tố
ergonomics, trong khi đó bệnh nghề nghiệp do tiếng ồn chỉ chiếm 12,1%. Ở
Việt Nam tuy nền kinh tế đã phát triển hơn trước nhiều song vẫn còn có rất
nhiều khó khăn do vậy hầu hết trang thiết bị dây chuyền máy móc của ta là
nhập ngoại. Sự không phù hợp giữa các loại máy móc được thiết kế cho người
nước ngoài với đặc điểm nhân trắc của Việt Nam chính là nguyên nhân làm
tăng tư thế lao động bất hợp lý.
1.2.8. Bức xạ, phóng xạ
Một số nguồn bức xạ như mặt trời phát ra các bức xạ hồng ngoại, tử
ngoại; lò thép hồ quang, nấu đúc thép hoặc hàn cắt kim loại phát ra các bức xạ
tử ngoại. Người lao động có thể bị say nóng, giảm thị lực (do bức xạ hồng
ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) dẫn đến
tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp.
Phóng xạ là dạng đặc biệt của bức xạ. Tia phóng xạ phát ra do sự biến
đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng ion hóa
20
21
vật chất. Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng rối
22
Sức khỏe của con người bao gồm cả những khía cạnh về chất lượng
cuộc sống, được xác định do các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, xã hội và
yếu tố tâm lý trong môi trường (nguồn: Chiến lược sức khỏe môi trường quốc
gia Australia, 1999).
Trong quá trình con người tham gia lao động sản xuất các yếu tố có
trong quá trình công nghệ, quá trình lao động và hoàn cảnh nơi làm việc có
thể ảnh hưởng xấu nhất định đối với trạng thái cơ thể và sức khỏe người lao
động. Tất cả các yếu tố đó được gọi là yếu tố vệ sinh nghề nghiệp hay yếu tố
nghề nghiệp.
Tác động về sức khỏe môi trường là những hậu quả về sức khỏe diễn ra
ở một hoặc nhiều cá nhân hay nhóm cộng đồng nào đó do bị tiếp xúc (phơi
nhiễm) với các rủi ro về sức khỏe môi trường hoạt động nghiên cứu, đánh giá
và lượng hóa tác động của môi trường đối với sức khỏe đều nhằm mục tiêu
xác định những mối nguy hại, lượng hóa các rủi ro về sức khỏe môi trường và
những hậu quả về sức khỏe, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp hạn chế tác
động.
Tiếp xúc cộng dồn, liều tiếp xúc cộng dồn [20]:
- Trong nghiên cứu, việc ước lượng mối quan hệ tiếp xúc - hoặc liều
-đáp trả giữa tiếp xúc nghề nghiệp và nguy cơ mắc bệnh từ môi trường làm
việc là đặc trưng đúng đắn. Từ nồng độ một số chất trong môi trường lao
động được ước lượng từ nguồn số liệu sẵn có, gắn liền với tiền sử làm việc
của người lao động, ta ước lượng được liều, tổng liều.
- Liều được sử dụng với những nghĩa khác nhau trong các nghiên cứu
dịch tễ học, từ số lượng các chất xâm nhập vào cơ thể đến số lượng của các
chất có hoạt động sinh học ở một số tổ chức, cơ quan. Định nghĩa liều là số
lượng của một chất được lưu giữ ở dưới dạng sinh học trong một số tổ chức,
cơ quan trong cơ thể trong một khoảng thời gian.Tiếp xúc cộng dồn là sự kết
• Bệnh bụi phổi bông (BP-bông),
• Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp (VPQMT-NN),
• Bệnh hen phế quản nghề nghiệp,
• Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp,
• Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp.
Nhóm các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp:
23
24
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất chì,
Bệnh nhiễm độc benzen và các hợp chất đồng đẳng của benzene,
Bệnh nhiễm độc thuỷ ngân và các hợp chất thuỷ ngân,
Bệnh nhiễm độc mangan và các hợp chất của mangan,
Bệnh nhiễm độc TNT (trinitro toluen),
Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất asen nghề nghiệp,
Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp,
Bệnh nhiễm độc hoá chất trừ sâu nghề nghiệp,
25
- Loại V: Rất yếu
Đối tượng được phép lao động là các đối tượng từ loại I đến loại III.
Một số đối tượng đặc biệt ở loại IV phải được bố trí vào những công việc phù
hợp. Loại V khuyến cáo không được lao động.
Tiêu chuẩn phân loại sức khỏe dựa vào các tiêu chí
- Thể lực chung: chiều cao, cân nặng, căn cứ để tính BMI nếu cần thiết
và chỉ số vòng ngực.
- Bệnh tật: các bệnh và tật liên quan đến mắt, tai mũi họng, răng hàm
mặt, tâm thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, hệ vận
động, da liễu, nội tiết, u các loại.
- Bác sĩ khám sẽ phân loại sức khỏe riêng lẻ cho từng mục của thể lực
chung và bệnh tật. Sau đó đưa ra kết luận về tình trạng sức khỏe dựa trên tổng
hợp chung.
Loại I: Cả 13 chỉ số đều đạt loại I
Loại II: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại II, xếp loại II.
Loại III: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại III, xếp loại III.
Loại IV: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại IV, xếp loại IV.
Loại V: Chỉ cần có 1 chỉ số thấp nhất là loại V, xếp loại V.
Chúng ta biết rằng những bất hợp lý của môi trường lao động như:
cường tiếng ồn quá cao, cường độ chiếu sáng không đảm bảo, nơi làm việc
quá bụi hay nồng độ hơi khí độc quá cao. Những bất hợp lý về tổ chức lao
động, về phương tiện công cụ máy móc, cũng như những cường độ lao động,
tư thế lao động là những yếu tố bất hợp lý của điều kiện lao động có ảnh
hưởng trực tiếp tới năng suất lao động và chất lượng sản phẩm đồng thời ảnh
hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động.
1.3.4. Các nghiên cứu về tác động của môi trường tới sức khỏe người lao
động