Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC
–––––––––––––––––
LÊ THỊ THANH HOA
THỰC TRẠNG MỘT SỐ YẾU TỐ
MÔI TRƢỜNG LAO ĐỘNG VÀ SỨC KHỎE,
BỆNH TẬT Ở NGƢỜI LAO ĐỘNG CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG LA HIÊN
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số : 62.72.73
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC DỰ PHÒNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HẠC VĂN VINH
Thái Nguyên, năm 2013
Thái Nguyên, năm 2013
Tác giả
Lê Thị Thanh Hoa
Số hóa bởi trung tâm học liệu
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Đặt vấn đề
Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu
1.1. Quy trình sản xuất xi măng và các yếu tố tác hại nghề nghiệp
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về môi trường, sức khỏe bệnh tật
người lao động trong ngành sản xuất xi măng
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước về môi trường, sức khỏe bệnh tật
người lao động trong ngành sản xuất xi măng
1.4. Tình hình nghiên cứu về môi trường, sức khỏe bệnh tật người lao động
Công ty Cổ phần xi măng La Hiên
Chƣơng 2. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Địa điểm nghiên cứu
2.3. Thời gian nghiên cứu
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu
2.4.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.4.2.1. Mẫu nghiên cứu môi trường
2.4.2.2. Mẫu nghiên cứu về sức khỏe, bệnh tật
2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.5.1. Chỉ số môi trường lao động
2.5.2. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
2.5.3. Chỉ số sức khỏe, bệnh tật
2.8.1. Sai số ngẫu nhiên
2.8.2. Sai số hệ thống
2.9. Phương pháp xử lý số liệu
2.10. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Các kết quả nghiên cứu về môi trường
3.2. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.3. Kết quả nghiên cứu sức khỏe, bệnh tật và các yếu tố liên quan
Chƣơng 4. Bàn luận
4.1. Các kết quả nghiên cứu về môi trường
4.2. Kết quả nghiên cứu sức khỏe, bệnh tật và các yếu tố liên quan
Kết luận
Khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
21
21
21
22
22
22
22
22
22
24
24
27
28
39
39
Số hóa bởi trung tâm học liệu
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1. Kết quả đo nhiệt độ nơi làm việc
24
Bảng 3.2. Kết quả đo độ ẩm nơi làm việc
24
Bảng 3.3. Kết quả đo vận tốc gió nơi làm việc
25
Bảng 3.4. Kết quả đo yếu tố bụi nơi làm việc
25
Bảng 3.5. Hàm lượng bụi trong môi trường lao động
26
Bảng 3.6. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
27
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Tên hình
Trang
Hình 1.1. Sơ đồ quy trình sản xuất xi măng công nghệ lò quay
3
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí Công ty cổ phần Xi măng La Hiên
16
Biểu đồ 3.1. Phân loại sức khỏe người lao động theo nhóm nghề
28
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ bệnh mũi họng theo giới trong các nhóm nghề
29
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ bệnh mũi họng theo tuổi đời trong các nhóm nghề
30
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ bệnh mũi họng theo tuổi nghề trong các nhóm nghề
31
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ bệnh ngoài da theo giới trong các nhóm nghề
32
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ bệnh ngoài da theo tuổi đời trong các nhóm nghề
33
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ bệnh ngoài da theo tuổi nghề trong các nhóm nghề
34
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ bệnh hô hấp theo giới trong các nhóm nghề
35
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ bệnh hô hấp theo tuổi đời trong các nhóm nghề
36
Biểu đồ 3.10. Tỷ lệ bệnh hô hấp theo tuổi nghề trong các nhóm nghề
37
Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
Trước năm 2005, CTCPXM La Hiên sử dụng công nghệ lò đứng là loại
công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, gây ô nhiễm môi trường nặng
nề đã được Nguyễn Văn Thái (2005) đề cập tới [26]. Tuy nhiên từ năm 2005
đến nay, CTCPXM La Hiên đã đưa dây chuyền lò quay đi vào hoạt động,
thay thế hoàn toàn dây chuyền lò đứng thì chưa có nghiên cứu nào về môi
trường lao động và tình hình sức khỏe công nhân ở đây. Câu hỏi nghiên cứu
là liệu dây chuyền lò quay của nhà máy có tác động xấu đến môi trường và
sức khỏe người lao động hay không, bên cạnh đó việc quan tâm xem các bệnh
thường gặp giữa các nhóm nghề của CTCPXM La Hiên có gì khác nhau cũng
đang là vấn đề còn bỏ ngỏ. Để giải đáp vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng một số yếu tố môi trường lao động và sức khỏe bệnh
tật ở người lao động Công ty Cổ phần xi măng La Hiên”, nhằm đáp ứng hai
mục tiêu sau đây:
1. Xác định một số yếu tố môi trường lao động ở Công ty Cổ phần xi
măng La Hiên năm 2013.
2. Mô tả tình trạng sức khỏe, bệnh tật và mối liên quan với môi trường
lao động ở người lao động Công ty Cổ phần xi măng La Hiên.
là bụi, tiếng ồn, nhiệt và các loại hơi khí độc như CO, CO
2
, NO
x
, SO
2
trong
đó bụi được phát sinh ở hầu hết các công đoạn sản xuất xi măng [20].
Công đoạn khai thác đá, quặng và đất sét: Đá vôi, đất xét, quặng
sắt…được lấy từ mỏ bằng công nghệ khoan nổ, cắt tầng. Việc khoan nổ mìn,
xúc, đổ gây nhiều bụi khói, tiếng ồn và cả hơi khí độc ảnh hưởng trực tiếp tới
sức khỏe người lao động. Bụi đá có hàm lượng silic tự do cao có khả năng
gây bệnh bụi phổi silic. Hầu hết các quá trình khai thác diễn ra tại các mỏ khai
thác đá lộ thiên vì vậy việc kiểm soát bụi rất khó khăn và dễ dàng phát tán vào
môi trường.
Công đoạn gia công nguyên liệu: nguyên liệu từ mỏ đưa về thường có
kích thước lớn nên phải được đập nhỏ trước bằng các máy đập búa để kích
thước nhỏ hơn 75mm, sau đó tiếp tục cho qua máy cán để cỡ hạt nhỏ hơn
25mm tiện cho việc nghiền, sấy khô, truyền tải và tồn trữ tại các kho chứa.
, ống
băng .
gây ra ô nhiễm
tiếng ồn.
Công đoạn vận chuyển: Vật liệu thô được vận chuyển riêng biệt từ mỏ
bằng băng tải, xe goòng…về kho đồng nhất sơ bộ và chất thành đống. Các
phương tiện vận chuyển như ô tô, băng tải, máng khí động…mức độ gây ô
nhiễm môi trường phụ thuộc vào mức độ kín của các phương tiện này. Tại
kho đồng nhất sơ bộ, đá vôi, đất sét được xúc lên băng tải vận chuyển, qua hệ
thống cân định lượng theo tỷ lệ và cùng đổ chung vào 1 băng tải. Băng tải này
, SO
2
, NO
2
ất
Công đoạn làm nguội và tháo clinker: Clinker sau khi ra khỏi lò quay có
nhiệt độ khoảng 1200
0
C được đưa vào máy làm lạnh, những tảng clinker lớn
được đập nhỏ tới hơn 25mm. Clinker nóng chảy được làm lạnh một cách nhanh
chóng trong máy làm lạnh để chuẩn bị cho quá trình nghiền. Sau khi ra khỏi
máy làm lạnh thì nhiệt độ của clinker khoảng 800
0
C, clinker được ủ, làm nguội
và tiếp tục nghiền nhỏ hơn 1mm. Công đoạn tiếp theo là sàng rung, nghiền mịn.
Khí thải sau khi ra khỏi lò quay được hút, làm lạnh, lọc bụi rồi thải ra môi
Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
trường. Bụi phát sinh trong công đoạn này chủ yếu từ những hệ thống băng tải
hở, những chỗ rò rỉ của hệ thống vận chuyển và tại vị trí rót liệu.
Công đoạn nghiền xi măng: Sau khi làm nguội, clinker được chuyển lên
các silo. Tại đây clinker, thạch cao và phụ gia từ kho chứa tổng hợp được vận
chuyển lên két máy nghiền bằng hệ thống băng tải và gầu nâng và được nạp
vào máy nghiền xi măng qua hệ thống cân tiêu chuẩn. T
phát sinh trong q .
Công đoạn đóng gói xi măng: Từ đáy các silô chứa, qua hệ thống cửa
tháo liệu, xi măng được vận chuyển đến các két chứa của máy đóng bao hoặc
các bộ phận xuất xi măng rời đồng bộ.
2
, NO
x
- Các chất ô nhiễm trong khí thải lò hơi: do sử dụng nhiên liệu than sẽ
làm phát sinh các chất gây ô nhiễm CO, SO
2
, NO
x
và bụi.
- Bụi phát sinh trong quá trình khai thác, vận chuyển các nguyên liệu và
thành phẩm.
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về môi trƣờng, sức khỏe bệnh tật
ngƣời lao động trong ngành sản xuất xi măng
Finlelstein. M.M (1984), khi nghiên cứu tỷ lệ tử vong trong công nhân
nhà máy xi măng ở Ontario, đối tượng nghiên cứu là 535 công nhân tiếp xúc
với xi măng và 205 người làm đối chứng. Tác giả phát hiện ra rằng nguyên
nhân ung thư phổi có liên quan tiếp xúc với xi măng trong thời gian 20 năm kể từ
lần tiếp xúc đầu tiên. Kết quả có 370 người có khối u ác tính, ung thư phổi là 480
người, 240 người bị bệnh ung thư đường tiêu hóa và 17 ca tử vong do u trung biểu
mô [38].
Akpata L.E (1992), theo dõi bệnh nấm da trong công nhân ở 3 nhà máy
công nghiệp ở Bang Cross River (Nigeria), từ năm 1987 đến năm 1988. Kết
quả cho thấy công nhân nhà máy xi măng Calcemco bị nấm da có tỷ lệ cao
nhất: 33,3% công nhân, tiếp theo là nhà máy sản xuất gỗ Seromwood: 30,8%,
nhà máy sản xuất cao su Crel: 26,2% [35].
Hernández-Gaytán SI (2000) tiến hành kiểm tra thính lực đồ của 85 công
nhân và đo cường độ tiếng ồn trong một nhà máy sản xuất xi măng. Kết quả
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
có đờm mạn tính (nhóm phơi nhiễm: 26,4%, nhóm chứng: 4,4%), khó thở (nhóm
phơi nhiễm: 15,2%, nhóm chứng: 1,9%), viêm phế quản mạn tính (nhóm phơi
nhiễm: 15,3%, nhóm chứng: 2,0%), tỷ lệ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính cao hơn
cho nhóm tiếp xúc (18,8%) so với nhóm chứng (4,8%) [44].
Abimbola AF và cs (2007) tiến hành nghiên cứu tại nhà máy xi măng
Sagamu, Nigeria. Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá hàm lượng kim
loại nặng của bụi được tạo ra bởi các nhà máy xi măng Sagamu và các
nguy cơ sức khỏe của nó đối với môi trường, đặc biệt là trên các cư dân
của khu vực này. Tổng cộng có 25 mẫu được thu thập và phân tích. Kết
quả cho thấy mức độ cao các kim loại nặng đã được tìm thấy trong các
loại đá và đất. Qua hồ sơ y tế và tình hình sức khỏe hiện tại của người dân
địa phương trong khu vực nghiên cứu thấy rằng có sự gia tăng trong tỷ lệ
mắc các bệnh liên quan đến nhiễm độc kim loại nặng trong môi trường,
đặc biệt là liên quan đến bụi [33].
Năm 2010, Ogunbileje J và các cộng sự đã nghiên cứu sự tác động của
các yếu tố tác hại trong quá trình sản xuất xi măng lên hệ thống miễn dịch và
một số chỉ số sinh hóa ở công nhân sản xuất xi măng ở Nigeria. Kết quả cho
thấy nồng độ trung bình IgA, IgM, IgE không có sự khác biệt giữa các nhóm
công nhân làm việc tại các bộ phận khác nhau trong nhà máy, trong khi IgG
cao hơn đáng kể (p<0,05) ở các công nhân làm việc ở khu vực đóng bao thành
phẩm. Cũng như tương tự, nồng độ creatinine mặc dù không có sự khác biệt
đáng kể giữa các nhóm công nhân khác nhau, tuy nhiên cao hơn so với mức
trung bình của người bình thường [45].
Zeleke Z, B Moen và M Bratveit (2010) nghiên cứu mối liên quan giữa bụi
với các triệu chứng đường hô hấp ở 40 công nhân làm công việc sản xuất trực tiếp
tại nhà máy xi măng Dawa Dire ở Ethiopia. Kết quả cho thấy ở phân xưởng
nghiền, nồng độ bụi hô hấp 38,6 mg/m
3
không khí; phân xưởng đóng bao 18,5
ở khu vực nghiền, đóng gói
27 mg/m
3
, lò nung là 5,9 mg/m
3
, trong khi TCCP là 5 mg/m
3
. Các tác giả kết
luận có liên kết chặt chẽ và trực tiếp giữa tiếp xúc bụi xi măng và suy giảm
chức năng của công nhân [40].
Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
Ahmed HO, Abdullah AA (2012) tiến hành nghiên cứu đánh giá mối quan
hệ giữa tiếp xúc với bụi xi măng và triệu chứng hô hấp của công nhân tại các nhà
máy xi măng vương quốc Ả Rập. Nghiên cứu tiến hành trên 149 công nhân có
phơi nhiễm và 78 công nhân không phơi nhiễm tham gia trong nghiên cứu này.
Thông tin về nhân khẩu học và các triệu chứng hô hấp được thu thập bằng bảng
câu hỏi. Tổng mức độ bụi cá nhân được xác định bằng các phương pháp đo bụi
trọng lượng. Nồng độ bụi dao động từ 4,20 mg/m
3
ở khu vực máy nghiền và 15,20
mg/m
3
ở khu vực đóng bao bì, vượt quá giới hạn cho phép tại khu vực đóng bao
và khu vực sản xuất nguyên liệu. Sự phổ biến của các triệu chứng hô hấp ở những
người lao động có tiếp xúc trực tiếp là cao hơn như ho (19,5%); đờm (14,8%).
Các trường hợp ho và có đờm đã được tìm thấy đều có liên quan đến tiếp xúc với
bụi, tích lũy bụi và thói quen hút thuốc trong khi viêm phế quản mãn tính có liên
quan đến thói quen hút thuốc. Những công nhân sử dụng mặt nạ tất cả các thời
nhà máy xi măng Sông Đà, tỉnh Gia Lai. Nghiên cứu tiến hành trên 340 công
nhân, trong đó có 210 công nhân khai thác đá, 130 công nhân sản xuất xi
măng nhằm đánh giá tỷ lệ giảm các thông số chức năng hô hấp ở công nhân
tiếp xúc với bụi có chứa silic. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự suy giảm các
thông số chức năng hô hấp của các đối tượng nghiên cứu rất rõ ràng, với tỷ lệ
công nhân bị suy giảm cao: 56,76% công nhân giảm FEV1 (Forced expiratory
volume in 1 second - Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên), 75% giảm
FVC (Forced Vital Capacity - Dung tích sống gắng sức) và 9,71% giảm
FEV1/FVC. Có 12,94% số công nhân có “Hội chứng hạn chế” ở mức nặng,
9,41% công nhân có “Hội chứng tắc nghẽn” ở mức độ nặng. So sánh chức
năng hô hấp giữa nam và nữ thì sự suy giảm các thông số chức năng hô hấp ở
nam đều cao hơn nữ [24].
Kết quả khảo sát tiếng ồn của Nguyễn Thế Huệ (2005) tại nhà máy xi
măng Hà Tu, Quảng Ninh cho thấy ở khâu đập đá hộc, máy nghiền bột liệu,
máy nghiền xi măng, tiếng ồn từ 91,1 - 100,5 dBA, vượt TCCP [13].
Nghiên cứu môi trường lao động và bệnh tật của công nhân một số ngành
nghề ở Tây Nguyên năm 2006 của tác giả Phạm Thúy Hoa, Nguyễn Xuân
Tâm và cộng sự cho thấy: tỷ lệ các chỉ số vi khí hậu không đạt tiêu chuẩn cho
Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
phép của ngành sản xuất xi măng là 6,25%, khai thác đá 5,09%, thấp nhất là
ngành điện 2,05%. Tuy nhiên các chỉ số ồn, rung, bụi không đạt tiêu chuẩn
của ngành xi măng lại thấp nhất 5,07% trong khi các ngành còn lại lần lượt là
13,25% và 17,24%. Đối với chỉ tiêu hơi khí độc vượt tiêu chuẩn cho phép của
các ngành sản xuất xi măng là 1,04%, các ngành khác 2,50%. Tình hình sức
khỏe bệnh tật phân theo ngành nghề: bệnh Tai - Mũi - Họng chiếm tỷ lệ cao
nhất 47,44% trong số các loại hình bệnh tật chung, trong đó bệnh Tai - Mũi -
Họng ở công nhân xi măng (64,41%), công nhân khai thác đá (53,91%), công
nhân điện (32,81%). Tỷ lệ công nhân sản xuất xi măng giảm sức nghe đường
nhân mắc nhiều bệnh thông thuờng khác nhau, cao nhất là tai mũi họng
(49,62%), bệnh răng hàm mặt (47,54%), bệnh mắt (21,4%), bệnh tiêu hóa
(13,83%), bệnh phụ khoa (25,37%), bệnh bụi phổi - silic (2,46%), bệnh điếc
nghề nghiệp (0,19%). Các tác giả đá đưa ra khuyến nghị cho nhà máy cần có
kế hoạch hạn chế một số yếu tố tác hại nghề nghiệp như nóng, bụi, tiếng ồn,
tăng cường hệ thống thông gió [19].
Nguyễn Quốc Linh (2012) nghiên cứu thực trạng bệnh viêm mũi, họng ở
công nhân Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang, kết quả cho thấy tỷ lệ
viêm mũi họng tương đối cao (65,9%), trong đó 15% viêm mũi cấp tính, 9,8%
viêm mũi mạn tính, 6,5% viêm mũi dị ứng, 2,7% viêm xoang cấp tính, 3,5%
viêm xoang mạn tính, 13,4% viêm họng cấp tính, 37,3% viêm họng mạn
tính Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi, họng ở công nhân nam cao hơn so với công
nhân nữ ( nam 70,9%; nữ 55,2%). Nhóm công nhân có tuổi nghề trên 20 năm
có tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng cao hơn nhóm công nhân có tuổi nghề dưới
5 năm (77,4% và 50%) [14].
Trần Đăng Quyết khi nghiên cứu sự thay đổi pH da, khả năng kháng
kiềm, khả năng trung hòa kiềm ở bệnh nhân viêm da tiếp xúc dị ứng do xi
măng, kết quả cho thấy khả năng kháng kiềm và khả năng trung hòa kiềm của
bệnh nhân viêm da tiếp xúc dị ứng do xi măng đều kém hơn người bình
thường không bị bệnh ngoài da. Số đo pH da ở 3 vị trí mu bàn tay, mu bàn
chân và lưng của bệnh nhân viêm da tiếp xúc dị ứng do xi măng đều cao hơn
(ngả về phía kiềm hơn) người bình thường không bị bệnh ngoài da [21]. Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
1.4. Tình hình nghiên cứu về môi trƣờng, sức khỏe bệnh tật ngƣời lao
động Công ty Cổ phần xi măng La Hiên
Khi nhà máy còn đang sử dụng công nghệ lò đứng thì năm 2005, Nguyễn
Văn Thái đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động môi trường sau 10 năm
- Người lao động ở CTCP Xi măng La Hiên bao gồm cả công nhân sản
xuất trực tiếp và người làm công việc hành chính.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Công ty có trụ sở chính đặt tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái nguyên 18 km nằm trên quốc lộ 1B
(Thái Nguyên - Lạng Sơn).
Vị trí địa lý của nhà máy: Nhà máy nằm gọn trong thung lũng xóm Cây
Bòng, xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Phía Bắc là dãy núi con hổ cao 172m.
Phía Nam tiếp giáp với dãy núi đồi thấp.
Phía Đông: giáp dân cư xóm Cây Bòng (xã La Hiên).
Phía Tây giáp dân cư đội 8 xã Quang Sơn.
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí Công ty cổ phần Xi măng La Hiên
CTCP XM La Hiên
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
Trước năm 2005 CTCP Xi măng La Hiên có 2 dây chuyền lò đứng sản
xuất xi măng với công suất 80.000 tấn sản phẩm/năm, tuy nhiên đó là công
nghệ cũ và lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.
Hiện nay công ty có 2 dây chuyền lò quay đang hoạt động (dây chuyền
250.000 tấn/năm và 700.000 tấn/năm), thay thế hoàn toàn dây chuyền lò đứng.
Với công nghệ lò quay, không những đảm bảo nâng cao năng lực sản xuất của
công ty mà còn giảm thiểu được ô nhiễm môi trường, đặc biệt về nhiệt độ,
tiếng ồn và bụi. Quá trình xây dựng nhà máy từ thiết kế kỹ thuật, lắp đặt thiết
bị và vận hành chạy thử do các chuyên gia của Trung Quốc đảm nhiệm. Cán
bộ, công nhân Việt Nam được tiếp nhận công nghệ và tổ chức thực hiện.
Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2013, CTCPXM La Hiên có 836 cán bộ
công nhân viên chức, trong đó có 592 công nhân sản xuất trực tiếp và 244 cán