QUẢN lý NHÀ nước đối với HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN tại VIỆT NAM - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


PHẠM HOÀI NAM

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế (Quản lý Công)
Mã số
: 62 34 04 10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1. GS.TS.NGUYỄN ĐÌNH HƯƠNG
2. TS. ĐÀO THANH TÙNG

HÀ NỘI - 2016


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quả
nghiên cứu trong luận án là xác thực và chưa từng được công bố trong kỳ bất công
trình nào khác trước đó.
Tác giả luận án



: Giá trị gia tăng

VOD

: Truyền hình theo yêu cầu

MMDS

: Truyền hình sóng viba

DTH

: Truyền hình vệ tinh

NCC

: Nhà cung cấp

VTVCab

: Tổng công ty Truyền hình cáp Việt Nam

SCTV

: Tổng công ty truyền hình cáp SaigonTourist

HTVC

: Công ty truyền hình cáp Thành phố Hồ Chí Minh

tiền. Truyền hình quảng bá đóng vai trò cung cấp miễn phí thông tin, thời sự, pháp
luật và giải trí cơ bản cho người xem. Nguồn thu của loại hình truyền hình này chủ
yếu ngân sách nhà nước. Người xem phải “chấp nhận” những chương trình thiếu
phong phú, do sự đầu tư hạn chế về cả nội dung lẫn chất lượng.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường khi nhu cầu và khả năng chi trả của
người xem ngày càng cao, đòi hỏi những chương trình truyền hình phải có chất
lượng cao hơn, chuyên sâu hơn, cả về nội dung và hình ảnh. Sở thích của từng
người xem truyền hình khác nhau và họ sẵn sàng trả tiền cho những dịch vụ này. Có
cầu là phải có cung là quy luật tất yếu của kinh tế thị trường và là nguồn gốc hình
thành truyền hình trả tiền.
Dịch vụ truyền hình trả tiền hay còn gọi là truyền hình trả tiền đã xuất hiện
trên thế giới từ năm 1948. Nhưng tại Việt Nam, truyền hình trả tiền mới chính thức
có mặt được hơn 15 năm. Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, dịch vụ truyền
hình trả tiền là một thị trường hoàn toàn mới mẻ. Tuy vậy, giới truyền hình ở Việt
Nam đã nhanh chóng thâm nhập và có một số bước phát triển đáng ghi nhận. Tuy
nhiên, việc phát triển khá nhanh chóng của loại hình dịch vụ này đã dẫn tới nhiều
vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý cũng như hoạt động của thị trường, đặc biệt
là vấn đề cạnh tranh, bản quyền.
Thị trường dịch vụ truyền hình trả tiền Việt Nam được đánh giá đang ở giai
đoạn đầu và đầy tiềm năng, theo dự báo thị trường này sẽ phát triển mạnh mẽ trong
những năm tới nhất là khi có sự gia nhập của các doanh nghiệp mới như Viettel hay
FPT. Theo thống kê của Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương), tốc độ phát
triển thị trường dịch vụ truyền hình trả tiền trong hơn 10 năm qua rất nhanh, trung
bình 7,3%/năm. Triển vọng phát triển thị trường truyền hình trả tiền ở Việt Nam là
rất lớn. Trong tổng số 20 triệu thuê bao truyền hình, ở Việt Nam mới chỉ có 5,6
triệu thuê bao, chiếm gần 30%. So với các nước trên thế giới thì (60-80%) thì tỷ lệ


2


thường đưa ra các gói kênh nhằm thu hút khán giả từ gói cơ bản tới gói cao cấp.


3

Theo đó tùy theo số tiền mà người xem chấp nhận chi trả thì nhà cung cấp sẽ có
những gói kênh phù hợp để người xem tiếp cận được với hệ thống truyền hình một
cách dễ dàng nhất.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, những năm qua Nhà nước đã ban hành
nhiều chính sách phát triển dịch vụ truyền hình, nhờ đó hệ thống truyền hình trả tiền
đã có sự phát triển khá nhanh. Hiện nay tại mỗi tỉnh và thành phố trong cả nước đều
có một mạng truyền hình cáp, 43% hộ gia đình ở thành thị sử dụng truyền hình cáp,
18% hộ gia đình sử dụng thiết bị thu tín hiệu từ vệ tinh. Bên cạnh những mặt tích
cực, vấn đề Quản lý nhà nước (QLNN) đối với hoạt động truyền hình trả tiền cũng
còn bất cập, nhiều nội dung cần có sự quản lý và điều chỉnh để phát triển bền vững.
Tình trạng buông lỏng quản lý, cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm bản quyền đã
xảy ra. Bởi vậy, cùng với sự phát triển của truyền hình trả tiền cần phải có sự quản
lý chặt chẽ của Nhà nước để hoạt động truyền hình trả tiền phát triển vững chắc.
Mặt khác, hợp tác quốc tế trong khu vực và thế giới về công nghệ truyền hình,
ảnh hưởng của hiệp định TPP đòi hỏi Việt Nam không chỉ phải nâng cao năng lực
cạnh tranh của các đơn vị cung ứng dịch vụ truyền hình trả tiền của ngành phát
thanh truyền hình mà còn phải phát triển theo hướng hài hòa các chính sách QLNN
đối với hoạt động này. Các yếu tố này đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải rà soát, đánh giá
một cách hệ thống, khoa học thực trạng hiện tại và có giải pháp phù hợp, hiệu quả
để thực hiện QLNN đối với hoạt động truyền hình trả tiền trong giai đoạn tới.
Ứng với tầm quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực truyền hình trả
tiền đã có một số văn bản chỉ đạo một số cơ sở của trực thuộc lĩnh vực truyền hình
trả tiền phải nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình cũng như chất lượng
phục vụ. Với yêu cầu cấp thiết này, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “ Quản lý
nhà nước đối với hoạt động truyền hình trả tiền tại Việt Nam” làm đối tượng

- QLNN đối với hoạt động THTT là gì? QLNN đối với hoạt động THTT
hướng đến những mục tiêu nào?
- QLNN đối với hoạt động THTT phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
- QLNN đối với hoạt động THTT bao gồm những nội dung cơ bản nào?
- Có những tiêu chí nào có thể sử dụng để đánh giá công tác QLNN đối với
hoạt động THTT?
- Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến QLNN đối với hoạt động THTT?
- Bộ máy QLNN đối với hoạt động THTT tại Việt Nam bao gồm những cơ
quan nào? Chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan?
- Thực trạng QLNN đối với hoạt động THTT tại Việt Nam trong thời gian qua
như thế nào? Những điểm mạnh đã đạt được? Những điểm yếu còn tồn tại và
nguyên nhân nào dẫn đến những điểm yếu đó?


5

- Quan điểm, phương hướng hoàn thiện QLNN đối với hoạt động THTT tại
Việt Nam đến năm 2020 như thế nào?
- Có những giải pháp và kiến nghị nào nhằm hoàn thiện QLNN đối với hoạt
động THTT tại Việt Nam?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về quản lý nhà nước
đối với hoạt động truyền hình trả tiền tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu 05 nội dung cơ bản của công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động truyền hình trả tiền tại Việt Nam, bao gồm:
(1) Quản lý cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền
(2) Quản lý nội dung trên truyền hình trả tiền
(3) Quản lý chất lượng dịch vụ truyền hình trả tiền

QLNN đối với
hoạt động THTT
Nhóm nhân
tố thuộc về
môi trường vĩ

Nhóm nhân
tố thuộc về
các cơ quan
QLNN
Nhóm nhân
tố thuộc về
doanh nghiệp
viễn thông

Nội dung QLNN đối
với hoạt động THTT

Mục tiêu QLNN đối với hoạt động
THTT

Quản lý cung cấp
dịch vụ THTT

Đảm bảo thực hiện chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước về phát thanh,
truyền hình

Quản lý nội dung trên

về truyền hình nói chung và dịch vụ THTT nói riêng. Đây chính là những lý thuyết


7

cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho
vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp thống kê - so sánh: Phương pháp này được dựa chủ yếu vào
các báo cáo thống kê định kỳ, các điều tra và khảo sát chuyên môn của các Đài, các
công ty truyền thông và các đơn vị liên quan thực hiện.
Phương pháp phân tích - tổng hợp: được dùng để phân tích, đánh giá và tổng
hợp những kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra những kết quả đã đạt được của hệ thống
QLNN đối với hoạt động THTT cũng như những mặt còn tồn tại và hạn chế,
nguyên nhân và những thách thức của QLNN đối với hoạt động THTT.
Phương pháp nghiên cứu định hướng: dựa trên kết quả phân tích, đánh giá
các nội dung QLNN đối với hoạt động THTT, các điểm yếu và nguyên nhân dẫn
đến các điểm yếu trong công tác quản lý, luận án đề xuất một số định hướng và giải
pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với hoạt động THTT trong thời gian tới.
Ngoài các phương pháp trên nghiên cứu sinh còn sử dụng một số phương án
nghiên cứu về lý luận thị trường , phương pháp tổng hợp đúc rút thực tiễn từ các
báo cáo tổng kết ngành. Phương pháp thu thập tài liệu thủ công, điều tra khảo sát và
so sánh thống kê.

5.3.2. Đối với dữ liệu sơ cấp
Phương pháp chuyên gia: được tác giả sử dụng nhằm làm sáng tỏ hơn nữa
các nội dung nghiên cứu, đặc biệt là ý kiến của các chuyên gia về việc đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao QLNN đối với hoạt động THTT. Tác giả đã tham vấn ý
kiến chuyên gia gồm các Thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, … Đó là
những người có hiểu biết chuyên sâu, người có kinh nghiệm trong nghiên cứu,
giảng dạy, QLNN.

Nhóm thứ nhất: 50 cán bộ trực tiếp thực hiện công tác QLNN đối với hoạt
động THTTT ở Việt Nam. Cụ thể, trong số 50 cán bộ được khảo sát có 30 cán bộ
công tác tại Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử, 20 cán bộ còn lại là
những cán bộ dày dặn kinh nghiệm công tác tại 10 Sở Thông tin và Truyền thông
của 10 tỉnh/thành trên cả nước (trong đó, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc).
Bảng 1. Mô tả mẫu thứ nhất
Học vấn
Tiêu chí
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)

Tiến sĩ

Thạc sĩ

Đại học

Tổng

8

16

26

50

16,00

32,00


100

Nam

127

42,33

Nữ

173

57,67

Dưới 35 tuổi

203

67,67

Trên 35 tuổi

97

32,33

Trên Đại học, Đại học

141


5.4. Phương pháp xử lý dữ liệu
Đối với dữ liệu thứ cấp: Nhóm dữ liệu này sẽ được sử dụng một cách trực
tiếp hoặc có xử lý đơn giản (chia tỷ lệ) để so sánh, đánh giá.
Đối với dữ liệu sơ cấp: Nhóm dữ liệu sơ cấp có được thứ điều tra khảo sát sẽ
được mã hóa theo hệ thống các tiêu chí đánh giá các nội dung của công tác QLNN
đối với hoạt động THTT và phân tích bằng phần mềm phân tích thống kê SPSS 22.

6. Đóng góp mới của luận án
Về mặt khoa học:
Luận án đã hệ thống hóa và góp phần phát triển lý luận về QLNN đối với hoạt
động THTT dựa trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước trước đây về vấn đề này, cụ thể là:
- Làm rõ những nội dung liên quan đến dịch vụ THTT, bao gồm: khái
niệm, đặc điểm, phân loại. Từ đó làm rõ những nội dung có liên quan đến hoạt
động THTT.
- Xác định được 05 nội dung QLNN đối với hoạt động THTT bao gồm: Quản
lý cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền; Quản lý nội dung trên truyền hình trả tiền;
Quản lý chất lượng dịch vụ truyền hình trả tiền; Quản lý hạ tầng kỹ thuật cung cấp
dịch vụ truyền hình trả tiền; Quản lý giá thành, giá cước dịch vụ truyền hình trả
tiền. Đây là những nhiệm vụ cơ bản trong công tác QLNN đối với hoạt động THTT
ở Việt Nam hiện nay.
- Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của QLNN đối với
hoạt động THTT, tạo cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng QLNN đối với
hoạt động THTT tại Việt Nam; đồng thời, vận dụng bộ tiêu chí và phương pháp
điều tra xã hội học để tiến hành đánh giá thực trạng hiệu lực, hiệu quả của QLNN
đối với hoạt động THTT ở Việt Nam, từ đó rút ra đánh giá chung thực trạng nghiên
cứu các hạn chế dựa trên phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với hoạt
động THTT thời gian qua.
Về mặt thực tiễn:


12

Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Bức tranh toàn cảnh nền kinh tế, chính trị, xã hội thế giới ngày nay là một
bức tranh đa màu sắc. Bên cạnh sự suy thoái kinh tế ngày càng lan rộng, xuất hiện
một số nền kinh tế mới đa tiềm năng. Nền chính trị nhiều xung đột và bất ổn khiến
cho thế giới đang nóng lên từng ngày. Xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển như
vũ bão của khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực trong
đời sống xã hội. Truyền hình cũng không phải là một ngoại lệ. Được sự hỗ trợ của
khoa học công nghệ, truyền hình ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong
đời sống xã hội, đặc biệt là sự ra đời của truyền hình trả tiền. Truyền hình nói
chung, truyền hình trả tiền nói riêng ngày càng lớn mạnh là do nhu cầu thông tin
của công chúng ngày càng cao, khoa học kỹ thuật phát triển và xuất hiện nhu cầu
được giao lưu, hội nhập quốc tế. Chính bản thân các vấn đề sự kiện chính trị, xã hội
cũng góp phần thúc đẩy truyền hình trả tiền phải tự phát triển lớn mạnh. Ở Việt
nam, ngành truyền hình trả tiền cũng phát triển với rất nhiều cung bậc. Dịch vụ
truyền hình trả tiền bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1993 với sự ra đời của
dịch vụ truyền hình cáp vô tuyến MMDS. Sau hơn 25 năm thành lập và phát triển
ngành truyền hình trả tiền đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Theo đó, vấn đề cung
cấp và quản lý nhà nước về hoạt động truyền hình trả tiền đã được nhiều nhà nghiên
cứu lựa chọn. Tại Việt Nam, ngay từ khi thị trường dịch vụ truyền hình trả tiền hình
thành và phát triển, đã có rất nhiều tác giả, các nhà khoa học nghiên cứu về truyền
hình và truyền hình trả tiền. Tuy nhiên theo những tài liệu mà nghiên cứu sinh đã
đọc và tìm hiểu thì chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu sâu về dịch vụ truyền hình trả
tiền, các giải pháp marketing phát triển thị trường nâng cao sức cạnh tranh của
doanh nghiệp cung ứng dịch vụ truyền hình trả tiền, vai trò về hội nhập quốc tế về
thị trường truyền hình. Trên cơ sở tìm hiểu và công tác tại một trong những đơn vị

trạng truyền hình trả tiền của Việt Nam: “Cải thiện rõ rệt” (nghiên cứu năm 2013).
Nghiên cứu nêu ý kiến của John Medeiros - Giám đốc chính sách của Casbaa về
thực trạng truyền hình trả tiền của Việt Nam giai đoạn năm 2013. Theo đó, John
Medeiros cho rằng: tính sẵn có của các kênh truyền hình quốc tế tại Việt Nam đã có
sự cải thiện rõ rệt. Medeiros quan sát thấy rằng, sau giai đoạn quá độ, Chính phủ


14

Việt Nam đã xác định rõ ràng rằng không muốn các kênh truyền hình nước ngoài bị
loại khỏi hệ thống truyền hình trả tiền của Việt Nam. Yêu cầu dịch cho các kênh tin
tức trực tiếp đã được gỡ bỏ; những khó khăn còn ảnh hưởng đến các kênh tin tức
đang được giải quyết trong các cuộc đàm phán. Medeiros cho rằng, chính sách mở
cửa thu hút giao thương và đầu tư của Việt Nam là một yếu tố quan trọng cho sự
phát triển của thị trường truyền hình trả tiền. Nghiên cứu còn chỉ rõ, Việt Nam có
một thị trường truyền hình trả tiền cạnh tranh sôi động, hiệu quả. Hơn một nửa các
kênh truyền hình trả tiền ở Việt Nam đang sử dụng công nghệ hiện đại và nội dung
phong phú, đáp ứng các yêu cầu khác nhau của khách hàng. Tuy nhiên trong báo
của Casbaa cũng đã chưa nêu được những cố gắng của các cơ quan có thẩm quyền
ở Việt Nam về những công cụ điều tiết vĩ mô đối với thị trường truyền hình trả tiền
mặc dù Casbaa cũng kiến nghị nhà nước mà cụ thể ở đây là Bộ Thông tin truyền
thông nên có những can thiệp rõ ràng và cụ thể hơn đối với thị trường truyền hình
trả tiền ở Việt Nam cụ thể là ban hành mức giá trần và sàn đối với các thuê bao
truyền hình trả tiền. Các giải pháp chống cạnh tranh, bản quyền và việc sử dụng hạ
tầng kỹ thuật theo đúng quy định luật pháp của Việt Nam.
(2) Gerry Smith với nghiên cứu: “Cable Bills Are Rising Again (Those of
You Who Still Have Cable)” tạm dịch là “Hóa đơn truyền hình cáp đang tăng trở
lại” (nghiên cứu năm 2015 ở Mỹ). Theo tác giả, trong khi phải đối mặt với sự sụt
giảm của khách hàng sử dụng truyền hình trả tiền do họ chuyển sang sử dụng các
giải pháp trực tuyến giá rẻ hơn thì các công ty như: Time Warner Cable Inc.,

triển của các thiết bị đa màn hình; (iv) Các nhà khai thác mới sẽ tiếp tục cạnh tranh
với những đài truyền hình truyền thống và cố gắng thay đổi thói quen xem truyền
hình của người tiêu dùng; (v) Năm 2014 là năm sẽ bùng nổ tình trạng vi phạm bản
quyền truyền hình trả tiền. Vấn đề về bản quyền truyền hình không chỉ trên phạm vi
khu vực mà còn trên toàn thế giới, tại Việt Nam vấn đề quản lý nhà nước đối với
bản quyền đã được các cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định, quy chế
theo đó các nhà cung cấp dịch vụ phải tuân thủ bản quyền, không được vi phạm các
quy định về bản quyền truyền hình. Tuy nhiên vẫn còn những đơn vị sử dụng nội
dung không có bản quyền phát tán trên mạng xã hội, youtube gây ảnh hưởng tới
cạnh tranh. Vấn đề bản quyền luôn là một trong những nội dung quan trọng mà các
nhà quản lý nhà nước, hoạch định chính sách vĩ mô cần quan tâm hơn nữa trong vấn
đề điều tiết thị trường truyền hình trả tiền chưa được đề cập trong nghiên cứu này.


16

(2) Paul Ausick với nghiên cứu: “Streaming Video Will Continue to Pressure
Pay TV in 2016” tạm dịch là “Streaming Video sẽ tiếp tục thúc đẩy truyền hình trả
tiền trong năm 2016” (nghiên cứu ở Mỹ). Trong đó, Streaming Video là một kỹ
thuật được sử dụng khá phổ biến trong các ứng dụng mạng. Streaming video sử
dụng cách thức phát lại các đoạn video được lưu trữ trên các máy tính trên mạng tới
người dùng đầu cuối muốn xem đoạn video mà không cần tải đoạn video đó về trên
máy tính. Về bản chất, streaming video là quá trình chia nhỏ file video thành các
frame, rồi lần lượt gửi từng frame tới một bộ đệm trên máy tính của người xem và
hiển thị nội dung frame đó. Và quá trình này tuân thủ chặt chẽ về ràng buộc theo
thời gian, nói khác là tuân thủ chặt chẽ theo giao thức RTSP, RTP và RTCP. Với
đặc tính như vậy thì streaming video là kỹ thuật cũng khá phức tạp để triển khai.
Nhưng với những lợi ích mà kỹ thuật streaming video đem lại, chúng ta hoàn toàn
có thể triển khai được kỹ thuật này trên thực tế. Trong nghiên cứu của mình, Paul
Ausick dẫn nghiên cứu của ScreenMedia liệt kê 04 điểm dữ liệu nổi bật năm 2015

Rebound” tạm dịch là “Dự đoán năm 2016: Truyền hình cáp sẽ bứt phá” (nghiên
cứu ở Mỹ). Tác giả khẳng định rằng hiện nay, khách hàng đang từ bỏ dịch vụ truyền
hình trả tiền vì giá quá cao hoặc họ thích xem video trực tuyến thông qua các thiết
bị di động hơn. Hơn thế nữa, dịch vụ truyền hình trả tiền hiện nay chưa chú trọng
vào vấn đề chất lượng cũng như cho cung cấp dịch vụ khách hàng tốt. Tác giả đưa
ra dự đoán về một sự giảm sút của số lượng thuê bao truyền hình trả tiền trong năm
2016, ngành công nghiệp này sẽ có một số những thăng trầm trong năm 2016. Việc
phân tích dự báo của tác giả chưa đưa ra được gói giải pháp toàn diện của cơ quan
quản lý đối với thị trường rằng một khi thị trường phát triển thì việc tập trung để
kiểm soát và hỗ trợ thị trường phát triển có vai trò quan trọng của nhà nước.
(5) Đề tài khoa học “Tackling the future 2014 trends in the pay television
industry in Asia Pacific” tạm dịch là “ Giải quyết xu hướng tương lai trong ngành
công nghiệp truyền hình trả tiền khu vực Châu Á Thái Bình Dương năm 2014” được
đăng tải trên diễn đàn Mediabuzz. Theo đó xu hướng của ngành công nghiệp truyền
hình trả tiền trong những năm tới tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương sẽ phát
triển mạnh mẽ và bùng nổ hơn nhờ sự cạnh tranh đa dạng của các nhà cung cấp dịch
vụ truyền hình trả tiền cũng như nhu cầu xem truyền hình của khán giả ngày càng
cao. Tác giả bài viết nhấn mạnh đến cụm từ “ công nghiệp truyền hình trả tiền “


18

nhằm thể hiện sự đột phá mạnh mẽ của truyền hình trả tiền ở khu vực được coi là
thị trường mới của truyền hình và truyền thông trong những năm 2015-2020. Tác
giả cũng nêu và đưa ra một số luận điểm về việc quản lý chặt chẽ cũng như nâng
cao sức cạnh tranh lành mạnh của các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền ở
các quốc gia trong khu vực. Đề tài cũng đưa ra một số công cụ quản lý nhà nước đối
với truyền hình trả tiền tuy nhiên theo đánh giá của NCS việc đưa ra các công cụ
này có một số điểm chưa phù hợp với đặc thù thị trường dịch vụ trả tiền ở Việt Nam
khi mà nền kinh tế vận hành theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

cung ứng dịch vụ truyền hình trả tiền sẽ được phát huy tối đa nếu có sự hỗ trợ từ
phía các cơ quan quản lý.
Tuy nhiên trong vài năm tới, truyền hình trả tiền tại Việt Nam sẽ bước vào sự
cạnh tranh gay gắt khi mà có sự tham gia của các ông lớn như Viettel, VNPT .. và
một số tập đoàn tư nhân lớn như VinGroup hứa hẹn nhiều sức bật cho thị trường mà
trong đó người dân, khán giả xem truyền hình sẽ là người quyết định lựa chọn nhà
cung cấp cho họ. Vấn đề về quản lý vĩ mô đối với dịch vụ truyền hình trả tiền sẽ là
một trong những chủ đề được quan tâm trong thời gian tới.

1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tuy rằng dịch vụ truyền hình trả tiền đã xuất hiện từ lâu nhưng
ban đầu chỉ do một số nhà đài lớn chiếm lĩnh phần lớn thị trường. Hoạt động dịch vụ
này mới chủ yếu trở lên sôi động trong những năm gần đây so sự phát triển nhanh
chóng của công nghệ truyền hình và các sự xuất hiện, cạnh tranh mạnh mẽ của các
nhà đài. Những năm đầu xuất hiện dịch vụ truyền hình trả tiền, thị trường mới có một
số đơn vị là Truyền hình MMDS Đài Truyền hình Việt Nam,truyền hình kỹ thuật số
VTC, truyền hình Cáp hữu tuyến Saigontourist (SCTV), truyền hình Cáp - Đài
Truyền hình Hà Nội, Tuy nhiên, đến tháng đầu năm 2015 đã có tới gần 40 nhà cung
của cấp dịch truyền vụ hình trả tiền với đầy đủ các phương thức và công nghệ truyền
dẫn như truyền hình số vệ tinh và một số đơn vị cung cấp qua mạng Internet.
Sự sôi động của thị trường kéo theo rất nhiều vấn đề đặt ra cho công tác quản
lý, đặc biệt là vấn đề cạnh tranh không lành mạnh và sự thiếu sót cần được nghiên
cứu bổ sung của cơ chế, chính sách quản lý đối với thị trường này.

1.2.1. Nhóm nghiên cứu về thị trường truyền hình trả tiền
(1) Tác giả Đình Hậu - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội cũng là một tác giả khá quen thuộc với nhiều tác phẩm có giá




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status