Đề tài thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh ở việt nam - Pdf 37

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIỂU LUẬN MÔN : QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐỀ TÀI : THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT
CẠNH TRANH
GVHD - TIẾN SĨ KHOA HỌC : THẦY ĐẶNG CÔNG TRÁNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
MSSV:

TP, HỒ CHÍ MINH Tháng 09/ 2012


2

LỜI CẢM ƠN !
Sau một thời gian tìm hiểu và thu thập tài liệu trong thư viện trường Đại học
Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh, thông qua các phương tiện thông tin, sự giúp đỡ
của Tiến sĩ Khoa học thầy Đặng Công Tráng - giảng viên bộ môn Luật Kinh
Doanh, em đã hoàn thành xong đề tài tiểu luận : “ Thực tiễn áp dụng luật cạnh
tranh ở Việt Nam ” . Bài tiểu luận thực sự là dấu ấn quan trọng đối với em trong
quá trình học tập . Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
Thầy Đặng Công Tráng – giảng viên hướng dẫn, thầy đã tận tình chỉ bảo cho
chúng em trong suốt quá trình học môn học này cũng như luôn sẵn lòng giải đáp
các thắc mắc, hướng dẫn cách thực hiện và chỉ ra những sai sót trong bài tiểu luận
của chúng em.
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo môi trường
thuận lợi giúp em học tập và nghiên cứu làm tiểu luận.

...................................................................................
...................................................................................
...................................................................................


4

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Chương I: Tổng quan về luật cạnh tranh .................................................................
1. Khái quát chung về luật cạnh tranh ...............................................................
2. Một số nội dung cơ bản của luật cạnh tranh ..................................................
3. Vai trò của Luật cạnh Tranh .........................................................................
Chương II: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
1. Sơ bộ về việc áp dụng luật cạnh tranh tại Việt Nam .....................................
2. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh .......................................................
3. Nguyên nhân của việc cạnh tranh không lành mạnh .....................................
4. Giải pháp đưa Luật cạnh tranh vào cuộc sống, phát huy tác dụng tích cực
cuả nó. ............................................................................................................
Phần: Kết luận – Kiến nghị ....................................................................................


5

LỜI MỞ ĐẦU
Cạnh tranh vốn là một hiện tượng “ xưa như trái đất” trong lịch sử cuộc sống
xã hội loài người. Hoạt động cạnh tranh diễn ra khi nhiều người cố gắng đạt được
cùng một mục đích. Cạnh tranh xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Cạnh tranh được xem là yếu tố động lực, đảm bảo cho sự vận hành và phát
triển của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2005 và một số
luật như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư đã góp phần tạo lập một môi trường

quả của nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranh
lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ
chế thị trường. Trong nỗ lực tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế,
ngày 03/12/2004, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Cạnh tranh số
27/2004/QH11 và Luật này đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2005.
Với 6 chương, 123 Điều.
2. Một số nội dung cơ bản của luật cạnh tranh
a/ Phạm vi điều chỉnh của luật cạnh tranh. (Điều 1)
Luật Cạnh tranh chia các hành vi chịu sự điều chỉnh thành hai nhóm hành vi
là hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đối với
nhóm hạn chế cạnh tranh, Luật điều chỉnh 3 dạng hành vi gồm thoả thuận hạn chế
cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập
trung kinh tế. Đối với nhóm cạnh tranh không lành mạnh, Luật điều chỉnh 10 hành


7

vi, gồm chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh
doanh, gièm pha doanh nghiệp khác…và các hành vi khác theo tiêu chí xác định
tại khoản 4 Điều 3 của Luật do Chính phủ quy định.
b/ Về đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh( điều 2)
Luật cạnh tranh áp dụng đối với 2 nhóm đối tượng, gồm tổ chức, cá nhân
kinh doanh (doanh nghiệp), kể cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch
vụ công ích; doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền
nhà nước; và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam và hiệp hội ngành
nghề hoạt động ở Việt Nam. Ngoài ra, tại Điều 6, Luật Cạnh tranh cũng quy định
các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước.
c/ Hành vi hạn chế cạnh tranh
 Thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận giữa các doanh nghiệp, doanh

thị phần trên thị trường liên quan (các thoả thuận còn lại).
 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh: (Điều 11) Doanh nghiệp được coi là có vị
trí thống lĩnh nếu có thị phần >= 30% trên thị trường có liên quan hoặc có khả
năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng
hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên
quan;
+ Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
+ Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường có liên
quan.
 Các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm (Điều 13)
+ Bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối
thủ cạnh tranh;


9

+ áp đặt giá mua, bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý; ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
+ Hạn chế sản xuất, phân phối, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ
thuật làm thiệt hại cho khách hàng;
+ Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau cho những doanh nghiệp khác
nhau với những giao dịch như nhau;
+ áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ;
+ Ngăn cản việc tham gia thị trường của đối thủ cạnh tranh.
 Lạm dụng vị trí độc quyền
Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp
nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp độc quyền kinh doanh trên

gồm: xác minh thị trường liên quan, xác minh thị phần trên thị trường liên quan
đến bên bị điều tra, thu thập và phân tích chứng cứ về hành vi vi phạm. Thời hạn
điều tra là 180 ngày, trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh
tranh có thể gia hạn nhưng không quá 2 lần, mỗi lần không quá 60 ngày.
Đối với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, điều tra viên phải xác định
căn cứ cho rằng bên bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Thời hạn điều tra đối với các vụ việc này là 90 ngày, kể từ ngày có
quyết định. Trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có
thể gia hạn nhưng không quá 60 ngày.
- Sau khi kết thúc điều tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh chuyển
báo cáo điều tra cùng hồ sơ liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đến Hội đồng


11

cạnh tranh. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì chuyển có quan có thẩm quyền để khởi tố
vụ án hình sự.
- Thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh: Sau khi nhận được báo cáo
điều tra và hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định
thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhanạ được
hồ sơ phải ra một trong các quyết định: mở phiên điều trần, trả hồ sơ để điều tra bổ
sung, đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh.
- Phiên điều trần được thực hiện đối với các vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm
quyền giải quyết của Hội đồng cạnh tranh.
Phiên điều trần được tổ chức công khai. Trường hợp nội dung điều trần có
liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh thì phiên điều trần được tổ chức
kín. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kín và quyết
định theo đa số, sau khi nghe những người tham gia phiên điều trần trình bày ý
kiến và tranh luận.

quốc tế
- Bảo vệ quyền kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng


13

Với 6 chương, 123 điều khoản, Luật cạnh tranh là một trong những văn bản
luật đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng cho nền kinh tế thị
trường đang hình thành và ngày càng phức tạp ở nước ta. Luật cạnh tranh đi vào
cuộc sống chắc chắn sẽ góp phần làm cho thị trường ngày càng lành mạnh hơn;
những hành vi độc quyền trong kinh doanh gây hậu quả nghiêm trọng cho Nhà
nước, cộng đồng và người tiêu dùng sẽ bị hạn chế.
Cho đến nay, có thể nói hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh
đã tương đối hoàn thiện, là cơ sở để giúp các doanh nghiệp định hình chiến lược
kinh doanh phù hợp với các quy định của pháp luật.


14

CHƯƠNG II
THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1. Sơ bộ về việc áp dụng luật cạnh tranh tại Việt Nam
Thực tế cho thấy mặc dù Luật Cạnh tranh có hiệu lực đã được hơn 6 năm với
những điều luật chặt chẽ và quy định xử phạt được đánh giá là khá "mạnh", song
sau hơn 06 năm thực hiện, luật vẫn chưa thực sự có ảnh hưởng lớn với doanh
nghiệp, thậm chí nhiều quy định vẫn còn “nằm trên giấy”. Theo đánh giá của các
chuyên gia pháp luật thì Luật Cạnh tranh của Việt Nam đã tiếp cận rất gần với

chế cạnh tranh trong kinh doanh.
Thực tế trong thời gian qua đã xảy ra rất nhiều vụ việc doanh nghiệp vi
phạm Luật Cạnh tranh, điển hình như: Vụ Hiệp hội Thép ra nghị quyết ấn định giá
bán, vụ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thống nhất nâng mức phí bảo hiểm cho tất cả
các đối tượng khách hàng, vụ doanh nghiệp cấu kết nâng giá thị trường thuốc tân
dược, sữa… nhưng Luật Cạnh tranh mới được áp dụng để xử lý hơn 20 vụ việc về
hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh
nghiệp. Trong số đó, chỉ có một vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh bị xử lý.
Ví dụ : Đó là vụ Công ty Cổ phần Xăng dầu hàng không (Vinapco,) lợi
dụng vị trí là doanh nghiệp độc quyền bán nhiên liệu máy bay trên thị trường nên
đã đơn phương chấm dứt bán hàng cho Công ty Cổ phần PACIFIC AIRKINES
(PA) khiến công ty này phải hủy tất cả các chuyến bay trong ngày 1/4/2008. Tuy
mức xử phạt khá nhẹ, phạt 0,05% doanh thu của công ty này trong năm 2007 (Luật
Cạnh tranh cho phép mức xử phạt tối đa đối với các hành vi vi phạm Luật Cạnh
tranh lên tới 10% doanh thu của doanh nghiệp trước năm thực hiện hành vi vi


16

phạm) nhưng cũng đã có những tác động nhất định đến môi trường cạnh tranh tại
Việt Nam, tác động đến ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiệp.


Qua vụ việc này, các doanh nghiệp Nhà nước có vị thế độc quyền thấy rằng:
Không thể cho phép mình tạo ra một “kiểu” kinh doanh riêng, đứng trên pháp
luật.
Ông Lê Danh Vĩnh - Thứ trưởng Bộ Công Thương cho rằng: Luật Cạnh
tranh chưa thực sự đi vào cuộc sống bởi sự hiểu biết về Luật Cạnh tranh của doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn nhiều hạn chế do họ thiếu chuyên
gia có kiến thức về luật. Hơn nữa, vì chưa nhận thức đúng, nên doanh nghiệp “ngại

nhiều việc cần làm và rất cần sự tham gia từ nhiều phía, đặc biệt là các cơ quan
Nhà nước và các doanh nghiệp
2. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là tốt, là động lực phát triển. Trong kinh doanh, sự cạnh tranh
đem đến cho người tiêu dùng nhiều lợi ích : hàng hóa tốt hơn, giá mua rẻ hơn…
Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên tắc lành
mạnh, công bằng, không có sự “ăn gian” hoặc những “thủ thuật” trái pháp luật. Vì
nếu như vậy thì chẳng những doanh nghiệp làm ăn chân chính bị “chơi bẩn” mà
ngay người tiêu dùng cũng không được lợi ích gì.
Tại Điều 39 qui định về các hành vi được xem là cạnh tranh không lành
mạnh, bị cấm. Chủ yếu gồm 9 hành vi sau :
1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2. Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3. Ép buộc trong kinh doanh;
4. Gièm pha doanh nghiệp khác;
5. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
6. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;


18

7. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
8. Phân biệt đối xử của hiệp hội;
9. Bán hàng đa cấp bất chính;
Xét từng trường hợp cụ thể:


Chỉ dẫn gây nhầm lẫn: là việc doanh nghiệp sử dụng những thông

tin chỉ dẫn (chẳng hạn trên bao bì, nhãn hàng, các pano quảng cáo ...) gây ra sự



Ép buộc trong kinh doanh : là việc doanh nghiệp ép buộc, đe dọa

khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ không cho họ giao dịch
hoặc phải ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.
Ví dụ: Đầu năm 2010, thị trường tài chính Việt Nam xuất hiện thực trạng
“ngân hàng chèn ép các doanh nghiệp”
Theo quy định hiện hành, lãi suất cho vay và huy động không vượt quá
150% lãi suất cơ bản mà Ngân hàng Nhà nước công bố. Với lãi suất cơ bản 8%
hiện nay, các ngân hàng chỉ được phép cho vay không quá 12% một năm. Tuy
nhiên nhiều doanh nghiệp cho biết họ phải vay với lãi suất cao hơn thế 3-4%, thậm
chí lênh tới 6-7%.
Hoặc thực trạng bất cập của ngành du lịch TP.HCM: Cứ đến mùa cao điểm
du lịch, trong ngành này thường "nảy nở" các công ty du lịch mới xuất hiện với
những tên gọi na ná tên của các công ty du lịch có tiếng khác. Các công ty này chỉ
kinh doanh có tính chất "thời vụ", hết mùa lại rút đi, sau khi đã làm một "vố hời".
Các Công ty đó tập trung vào một nhóm đối tượng khách và chào hàng với giá cực
rẻ để giành khách. Điều đáng nói là họ đã cung cấp dịch vụ kém chất lượng cho
khách hàng, và để lại tiếng xấu cho công ty du lịch khác.
Hoặc năm 2008, Hiệp hội Thép Việt Nam ra nghị quyết ấn định giá bán (yêu
cầu các thành viên 13,7- 14 triệu đồng/tấn thép), Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
thống nhất nâng mức phí bảo hiểm lên 3,95%/năm cho tất cả các đối tượng khách


20

hàng. Cả Công ty Cổ phần Xăng dầu Hàng không (Vinapco), lợi dụng vị trí là
doanh nghiệp bán nhiên liệu bay duy nhất trên thị trường, đơn phương chấm dứt
bán hàng cho Jestar Pacific Airlines... Nhằm nắm giữ độc quyền và ép giá sản



21



Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho

khách hàng;
Ví dụ: về nhãn hiệu gây nhầm lẫn : Cà phê Trung Nguyên
Công ty cà phê Trung Nguyên với thương hiệu G7 nổi tiếng cũng bị quy vào
một trong những doanh nghiệp có hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh. Công ty Trung Nguyên đã sử dụng nhãn hiệu ba chiều hình cốc đỏ của
Nestlé để so sánh trực tiếp sản phẩm G7 của họ với sản phẩm Nescafé của Nestles.
Đó thực chất là việc so sánh trực tiếp sản phẩm nhằm cạnh tranh không lành mạnh.


Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá

cả, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất,
thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công,
nơi gia công ...


Khuyến mại không lành mạnh là việc :

+ Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng, không trung thực hoặc
gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng.
+ Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức
khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;

Ngoài các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm như trên, Luật Cạnh
tranh cũng cấm nhiều hành vi có dấu hiệu “hạn chế cạnh tranh”. Hiểu theo nghĩa
nôm na, là những hành vi đơn lẻ hoặc giữa một nhóm doanh nghiệp cùng ngành
kinh doanh, nhằm mục đích tạo ra những sự “cản trở”, không cho các doanh
nghiệp khác có cơ hội cạnh tranh với mình.
Có 2 dạng hành vi “hạn chế cạnh tranh” gồm :
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh


23

- Làm dụng vị trí thống lĩnh hay độc quyền trên thị trường.
Trong một số trường hợp, các hành vi có dấu hiệu “hạn chế cạnh tranh” như
trên có thể bị cấm.
3. Nguyên nhân của việc cạnh tranh không lành mạnh
Qua những vụ việc này, nguyên nhân dẫn đến vi phạm luật cạnh tranh đa
phần đều do các doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, bất chấp pháp luật và không từ
thủ đoạn để chống phá các doanh nghiệp khác.
Ngoài ra, còn do kiểu kinh doanh độc quyền, mà không ít các nhà doanh
nghiệp lớn đã ngang nhiên phá giá, chèn ép người tiêu dùng và các doanh nghiệp
vừa và nhỏ khác. Tạo ra một “kiểu” kinh doanh riêng, đứng trên pháp luật, gây bất
bình đẳng trong cạnh tranh công nghiệp.
Trên thực tế, Luật Cạnh tranh chưa thực sự đi vào cuộc sống bởi sự hiểu
biết về Luật Cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ,
còn nhiều hạn chế do họ thiếu chuyên gia có kiến thức về luật. Hơn nữa, vì chưa
nhận thức đúng, nên doanh nghiệp “ngại va chạm”, “ngại can dự vào các vấn đề
liên quan đến pháp lý”, dẫn đến việc sử dụng không hiệu quả công cụ Luật Cạnh
tranh để bảo vệ quyền lợi của mình. Nhiều khi doanh nghiệp này biết doanh nghiệp
khác vi phạm Luật Cạnh tranh, ảnh hưởng đến lợi ích của mình, nhưng đành nhắm
mắt cho qua mà không dám khởi kiện. Bởi nếu khởi kiện, họ phải tự thu thập tài

công bằng hơn.


Nhà nước cần có biện pháp trừng phạt thật nặng đối với những trường hợp vi

phạm Luật cạnh tranh nhằm hạn chế bớt những sự việc như biết luật nhưng vẫn vi
phạm.


Tăng cường biện pháp quản lý, giám sát việc thực thi luật cạnh tranh của các

doanh nghiệp.


Tăng cường đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp, để tăng khả năng kiểm

soát vốn ngân sách, nghiêm túc trong việc minh bạch tài chính và quy trách nhiệm


25

cá nhân rõ ràng hơn. Tiếp đó, cần thực hiện cải cách hệ thống quản trị doanh
nghiệp và dần đưa đến mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước với quy chế
thưởng, phạt nghiêm minh và tương xứng hiệu quả công việc. Nhằm hạn chế độc
quyền và giúp nhà nước có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn đối với các doanh
nghiệp độc quyền.


Phát triển hệ thống quản lý, giải quyết tranh chấp công khai, giúp các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status