1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những thập kỷ gần đây, với sự phát triển của kinh tế xã hội, khoa
học kỹ thuật, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, cùng với đó,
tuổi thọ con người ngày càng tăng cao. Theo thống kê của Liên hiệp quốc,
năm 1950 người cao tuổi trên toàn thế giới có 214 triệu, đến năm 1975là 346
triệu, năm 2000 là 590 triệu người và dự tính vào năm 2025 sẽ là 1,2 tỷ người
[1]. Đó là một sự “bùng nổ” chưa từng có về số người cao tuổi trên thế giới.
Già hóa dân số đang trở thành vấn đề được toàn thế giới quan tâm theo
Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dân số thế giới đang bị “già hóa” do mức độ
sinh giảm đáng kể trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng [2], Việt Nam
cũng không phải ngoại lệ. Tính tới cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 8
triệu người cao tuổi (chiếm 9,4% dân số). Sự gia tăng đáng kể về số lượng
người cao tuổi đòi hỏi nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng theo. Bên cạnh đó,
tuổi thọ trung bình dự kiến trong nước tăng từ 72 năm 2011 lên 78 năm 2030
lại càng thúc đẩy hơn nữa việc quan tâm, duy trì sức khỏe, nâng cao chất
lượng cuộc sống (CLCS) cho người cao tuổi [3].
Ở người cao tuổi có những đặc điểm đặc biệt, các cơ quan trong cơ thể
đều bị lão hóa dẫn đến suy giảm chức năng sinh lý và khả năng thích nghi.
Đây là một trong những yếu tố tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển.
Vai trò của sức khỏe răng miệng đến sức khỏe toàn thân được biết đến là cửa
ngõ giúp cung cấp và hấp thu các chất dinh dưỡng vào cơ thể, tác động trực
tiếp hỗ trợ sức khỏe toàn thân. Bệnh vùng răng miệng có thể làm tăng nguy
cơ nhiễm các bệnh khác. Do đó, sức khỏe răng miệng có vai trò rất lớn và là
vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt với người cao tuổi.
Sức khỏe răng miệng đóng góp một phần quan trọng vào sức khỏe chung của
cá nhân và cộng đồng. Kết quả của cuộc điều tra sức khỏe răng miệng trên toàn
quốc tiến hành năm 2002 cho thấy, số răng mất của người trên 45 tuổi là 6,6 cao
gấp 3 lần so với số răng sâu(2,10) [4]. Mất răng trực tiếp làm giảm khả năng ăn
nhai của người cao tuổi và gián tiếp làm ảnh huởng tới cuộc sống của người cao
bệnh tật của người cao tuổi trên địa bàn Cần Thơ, đồng thời trên cơ sở đó,đề
ra các biện pháp nâng cao CLCS, nghiên cứu “Thực trạng mất răng và ảnh
hưởng của mất răng đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại Thành
phố Cần Thơ năm 2015” được tiến hành bao gồm các mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng mất răng ở người cao tuổi tại Thành phố Cần Thơ năm 2015
2. Phân tích một số yếu tố liên quan với mất răng của đối tượng nghiên cứu
3. Xác định ảnh hưởng của mất răng đối với chất lượng cuộc sống người
cao tuổi
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
CHƯƠNG 1: ĐẶC
ĐIỂM CẤU TẠO TỔ CHỨC HỌC CỦA
RĂNG
Cấu tạo của răng gồm: men răng, ngà răng, cement và tủy răng [9].
CHƯƠNG
Hình 1.1. Giải phẫu răng [9]
2: Men răng
Men răng phủ mặt ngoài ngà thân răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, là mô
cứng nhất trong cơ thể, có tỷ lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%) nhiều hơn
so với ngà răng và xương răng, chất hữu cơ chiếm 1,7%, nước chiếm 2,3%.
o Ngà phản ứng: là biểu hiện phản ứng của tủy đối với quá trình sâu răng, sang
chấn, hoặc quá trình làm mòn răng. Ngà này thường khu trú ở vùng tổn
thương ít ngấm vôi và ít cản quang hơn so với ngà tiên phát.
o Chất giữa ống ngà: được hình thành bởi sự ngấm vôi, thành phần hữu cơ có
cấu trúc sợi, chủ yếu là sợi keo sắp xếp thẳng góc với ống ngà.
o Dây tome: nằm giữa ống ngà, là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào tạo
ngà, nó đảm bảo sự trao đổi chuyển hóa và khả năng tạo ngà.
5
CHƯƠNG 4: Tuỷ răng
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tuỷ gồm tuỷ chân và tủy thân. Tuỷ
răng trong buồng tủy gọi là tủy thân hoặc tủy buồng, tuỷ răng trong ống tủy
gọi là tủy chân. Các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy.
Tuỷ răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng cụ thể là duy trì sự sống của
nguyên bào ngà, tạo ngà thứ cấp và nhận cảm giác của răng. Trong tủy răng có
chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh.
CHƯƠNG 5: Cement chân răng
Là tổ chức canxi hóa bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng đến
chóp chân răng, cấu trúc cement chia làm 2 loại:
- Cement tiên phát: ở sát lớp ngà vùng cổ răng và là loại cement không
có tế bào
- Cement thứ phát: có tế bào tạo cement bao phủ vùng ngà 2/3 dưới
chân răng và cuống răng. Độ dày cement thay đổi chân răng và cuống răng.
Độ dày của cement thay đổi theo vị trí, tuổi, mỏng nhất cổ răng và dày nhất
ở cuống răng
CHƯƠNG 6: ĐẠI CƯƠNG VỀ NGƯỜI CAO TUỔI
(2010) giai đoạn 2009-2049 cho thấy, khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân
số “già” cũng là lúc nhóm dân số cao tuổi nhất tăng với tốc độ cao nhất [13].
Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số người cao tuổi Việt Nam từ năm 1979 đến 2049 [13]
Nhóm tuổi
Tỷ lệ người cao tuổi (%)
1979 1989 1999 2009 2019
2029
2039
2049
60-64
2,28
2,40
2,31
2,26
4,29
5,28
5,80
8,69
2,78
1,67
1,16
1,48
11,7
4,56
3,36
1,91
1,55
16,6
5,21
4,30
3,28
2,78
21,3
6,14
4,89
3,87
4,16
26,1
CHƯƠNG 11:
8
6
Hình 1.2. Hiện tượng lão hóa ở người cao tuổi (st)
Tóm lại, tuổi già biểu hiện bằng hai đặc điểm chức năng:
- Giảm sút chức năng mọi cơ quan và hệ thống, do vậy giảm khả năngbù
trừ, giảm thích ứng với sự thay đổi ngoại môi [14].
- Tăng cảm nhiễm với bệnh: Tăng nguy cơ tử vong, dễ mang một hoặc
nhiều bệnh và có tỷ lệ tử vong cao nhất so với mọi giai đoạn phát triển
8
trước đó [14].
CHƯƠNG 13:
Biến đổi sinh lý ở vùng răng miệng
Khi già, cơ thể sẽ trải qua sự thay đổi về tuổi tác, đó chính là sự già hóa
của cơ thể. Tuy nhiên sự thay đổi này chỉ ảnh hưởng một ít đến khoang
miệng, phần lớn sự thay đổi đó không liên quan đến răng, chúng bị hạn chế ở
sự thay đổi của chất nhờn trong miệng và các mô liên kết, trong đó có tổ chức
quanh răng.
- Biểu bì miệng bị mỏng đi, tỷ trọng và cường độ hoạt động của các cơ quan
nối liền với niêm mạc yếu đi, sự gắn kết các biểu mô liên kết cũng bị suy yếu,
sự co giãn trong các mô liên kết trở nên ít đàn hồi hơn.
- Các mô liên kết trong miệng cũng giảm đi về số lượng.
- Tỷ trọng chất nhờn tăng, tỷ lệ sự luân chuyển chất nhờn cũng giảm đi.
- Các tuyến nước bọt có những thay đổi nổi bật trong cấu trúc: Thành phần
trong nước bọt cũng như dòng chảy nước bọt thay đổi theo thời gian liên quan
đến nhiều bệnh khác trên cơ thể.
Tình trạng sức khỏe chung
Do tổ chức liên kết bị lão hóa, chức năng các bộ phận bị rối loạn, sức đề
kháng suy giảm, năng lực hoạt động hạ thấp và mất chức năng hiệp đồng, cơ thể
người già là điều kiện cho bệnh tật dễ phát sinh [18].Tuổi già thường hay mắc
bệnh và mắc nhiều bệnh cùng một lúc, bệnh thường lâu khỏi, đáp ứng với thuốc
điều trị chậm [19],[20]. Những bệnh hay gặp là xơ cứng động mạch não, tai điếc
tuổi già, bệnh đần độn…với tỷ lệ mắc các bệnh: cao huyết áp, đái tháo đường, u
ác tính, bệnh tim nguyên phát từ phổi, bệnh khớp... tăng cao hơn so với người trẻ
tuổi [21]. Theo ước tính của WHO, trên thế giới, khoảng 40% người cao tuổi có
sự giới hạn hoạt động ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên chỉ có 10,6% không tự
mình thực hiện được các hoạt động sinh hoạt tối thiểu hàng ngày. Tỷ lệ này tăng
theo lứa tuổi và chiếm khoảng 20% ở những người từ 85 tuổi trở lên [22].
Sau đây là tỷ lệ bệnh thường gặp ở người cao tuổi so với người trẻ tuổi:
Bảng 1.2. Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi so với người trẻ tuổi [21]
Các loại bệnh
Bệnh cơ xương khớp
Bệnh hô hấp
Bệnh tiêu hóa
Bệnh tim mạch
Bệnh thận- tiết niệu
Người cao tuổi (≥60 tuổi) Người trẻ(15-59 tuổi)
47,69
29,05
19,63
7,27
18,25
17,65
Ở Việt Nam đã tiến hành một số nghiên cứu về tỷ lệsâu - mất - trám
trên người già.Trong cuộc điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2002,
Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải cho ra kết quả tỷ lệ sâu
răng ở người trên 45 tuổi là 89,7% và chỉ sốsâu – mất – trám là 8,90 [3].
Bệnh quanh răng:
Bệnh quanh răng là bệnh lý hay gặp ở người già do việc VSRM kém,
cao răng mảng bám hình thành,cùng với việc mất đi khả năng gắn kết giữa
các răng khi về già [15].
11
Ban đầu là tình trạng viêm lợi, sau dần dần, tổ chức quanh răng bị tổn
thương, kết quả, bệnh quanh răng hình thành và phát triển.
CHƯƠNG 17:
Vấn đề tâm lý của bệnh nhân đối với bệnh
răng miệng
Sợ các thủ thuật nha khoa gây đau, một số người lớn tuổi đã không chăm
sóc và điều trị răng miệng kịp thời, thích hợp. Họ thiếu sự đánh giá cao về sức
khỏe răng miệng, ăn uống ít chất dinh dưỡng. Ngoài ra họ còn có ý nghĩ "Tôi
đã già và sớm chết, tôi không cần phải chăm sóc nha khoa". Chi phí có lẽ là
rào cản lớn nhất, nhiều người cao tuổi vì thu nhập cố định của họ thấp, họ
cảm thấy rằng không đủ khả năng chăm sóc nha khoa.
CHƯƠNG 18:
TÌNH TRẠNG MẤT RĂNG Ở NGƯỜI
Hậu quả của mất răng đối với người cao
tuổi [28],[29].
Mất răng là tình trạng phổ biến ở người cao tuổi, tùy số lượng và vị trí
mất răng mà gây ảnh hưởng ở nhiều phương diện với các mức độ khác nhau.
- Ảnh hưởng đến các răng còn lại: Khi răng mất mà không được phục
hồi, các răng còn lại cũng bị ảnh hưởng, như bị xô lệch, chồi lên, thòng
xuống, di lệch..dẫn đến tăng nguy cơ bệnh nha chu và rối loạn khớp cắn.
- Khó khăn trong việc ăn nhai: Mất răng dẫn đến lực nhai giảm sút, gây khó
khăn trong vẫn đề tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng từ thức ăn. Điều này dẫn đến
nguy cơ mắc các bệnh hệ tiêu hóa ở người cao tuổi tăng cao hơn bình thường.
- Phát âm khó khăn, đặc biệt khi mất răng cửa.
- Xương hàm bị thoái hóa và tiêu dần. Kích thước chiều cao và chiều
rộng của sống hàm giảm, trường hợp nặng sống hàm hàm trên gần như phẳng
với vòm hầu, sống hàm dưới ở ngang bằng với sàn miệng
- Ảnh hưởng đến thẫm mỹ: Do mất răng, tiêu xương hàm các cơ nhai, cơ
bám da mặt thoái hoá, dẫn đến những thay đổi ở vùng mặt, miệng: má xệ
xuống, hóp lại, rãnh múi - má rõ nét hơn, mặt mất cân xứng hai bên, môi xập
xuống,..làm khuôn mặt già sớm.
- Đau vùng khớp Thái dương hàm và cơ nhai: Khi mất răng, sự tác động
lực lên các răng còn lại sẽ thay đổi, hậu quả có thể gây loạn năng khớp thái
dương hàm, mỏi hàm, mỏi cơ cổ.
- Gây tâm lý bi quan, chán nản, thiếu tự tin.
Từ những hậu quả của tình trạng mất răng nói trên, có thể thấy nhu cầu
điều trị phục hình ở người cao tuổi là rất cao, răng giả-hàm giả đóng vai trò
vô cùng quan trọng, trong việc khắc phục và tạo lập lại các chức năng, cũng
như có ý nghĩa dự phòng, giúp người cao tuổi vui sống và hòa nhập với cộng
đồng tốt hơn.
CHƯƠNG 21:
Năm 1960,trên cơ sở 4 phân loại mất răng chính của Kennedy,
Applegate biến đổi lại cách phân loại:
- Loại I: Mất nhóm răng hàm hai bên không còn răng giới hạn xa.
- Loại II: Mất nhóm răng hàm một bên không còn răng giới hạn xa.
- Loại III: Mất nhóm răng hàm một bên, còn răng giới hạn xa nhưng các
răng thật còn lại không đủ vững để mang các răng mất do:
o Khoảng mất răng quá dài.
o Xương ổ răng bị tiêu nhiều.
o Có bất thường về vị trí, độ lớn, cấu trúc của chân răng.
- Loại IV: Mất nhóm răng cửa. Loại này có thể mất từ 2-12 răng, khoảng
mất răng đi qua đường giữa của cung hàm.
- Loại V: Mất nhiều răng, có răng trụ giới hạn phía xa nhưng giới hạn
phía gần là nhóm răng cửa yếu, không có khả năng nâng đỡ cho phục hình.
14
o
o
o
o
- Loại VI: Là loại đơn giản và hay gặp nhất trên lâm sàng:
Khoảng mất răng ngắn.
Chiều dài và hình dáng chân răng trụ tốt.
Sống hàm cao.
Lực đối diện không quá mạnh.
Phân loại này quan tâm nhiều hơn đến vị trí, số lượng răng mất, tình
trạng của các răng thật còn lại. Việc phân loại dựa trên khả năng nâng đỡ
Hệ số nhai
Hệ số nhai thể hiện chức năng nhai nghiền của một răng đơn lẻ trong bộ
răng gồm 28 răng hoặc 32 răng [31].
Hệ số nhai thể hiện sức nhai của bệnh nhân. Một số tác giả cho rằng có
thể tính được sức nhai bằng cách cho mỗi răng một số điểm để định giá trị của
nó, điểm đó gọi là hệ số nhai của răng. Thông thường, hiện nay, người ta sử
dụng bảng hệ số nhai, theo đó, mỗi răng dự trữ một lực nhai riêng, tương ứng
với một hệ số nhai [31],[32].
16
Bảng 1.3 Hệ số nhai
Hệ số nhai trong trường hợp đủ 32 răng:
Hệ số nhai
2
1
4(3)
Răng số
1
2
3
Hệ số nhai
1
1
4(3)
Trường hợp thiếu 4 răng khôn:
Hệ số nhai
5
4
5
7
5
6
6
6
2
8
3
5
7
5
Theo bảng hệ số nhai trên thì toàn hàm có hệ số nhai là 100%, mỗi nửa
hàm là 25% [31].
Cách tính hệ số nhai còn (hiệu lực nhai): Đếm các răng mất của bệnh
nhân sau đó lấy 100 trừ đi hệ số tương ứng của răng. Tuy nhiên cần lưu ý:
- Nếu mất 1 răng thì coi như mất luôn răng đối diện cùng tên.
- Những răng lung lay không còn chức năng thì coi như không có (Răng
lung lay độ 3, độ 4).
CHƯƠNG 26:
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
TÌNH TRẠNG MẤT RĂNG NGƯỜI CAO TUỔI
trình giáo dục cho người cao tuổi để họ có được cái nhìn đúng đắn về SKRM
từ đó nâng cao CLCS trong cộng đồng.
1.4.2. Các yếu tố tác động tới kiến thức, thái độ, thực hành đối với
sức khoẻ răng miệng người cao tuổi
Sức khoẻ răng miệng người cao tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố.
Sức khoẻ kém có thể bắt nguồn từ những nguy cơ nội tại do sự ngấm vôi kém
ở men răng, răng mọc lệch lạc, chen chúc, hở… Nguy cơ cũng đến từ các thói
quen có hại: hút thuốc, uống rượu, ăn trầu. Các yếu tố ảnh hưởng khác có thể
do trình độ học vấn thấp, mức thu nhập không cao, sức khoẻ chung suy yếu,
tập quán văn hoá và nhất là yếu tố không được chăm sóc bởi cơ sở dịch vụ
nha khoa. Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau và cần được nhận định,
đánh giá để tìm ra các giải pháp can thiệp. Nhằm tăng cường nhận thức, thay
đổi thái độ, xây dựng hành động đúng, chúng ta cần phân tích, phê phán, sửa
chữa những hành động, thói quen chưa đúng hay có hại. Trên cơ sở đó, giáo
dục các đối tượng tự chăm sóc SKRM có khoa học và có ý thức thăm khám
18
định kỳ tại các cơ sở nha khoa. Đây là một quá trình cần có sự tác động nhiều
mặt, nhưng ý thức bản thân luôn luôn là yếu tố quyết định quan trọng nhất.
1.4.3. Tình tình nghiên cứu về giáo dục nha khoa, thái độ và thực
hành của người cao tuổi đối với sức khoẻ răng miệng
* Đối với các đối tượng còn tự lực trong các sinh hoạt cá nhân
Đánh giá các chương trình can thiệp trên cộng đồng người cao tuổi về
giáo dục, mạng lưới cơ sở dịch vụ nha khoa và thực trạng hành vi SKRM qua
số liệu điều tra ở một số quốc gia cho thấy: chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi
nói chung đã được quan tâm triển khai, nhưng riêng với SKRM là công việc
mà hầu như mới có rất ít quốc gia thực hiện. Ngay tại Mỹ, nước giàu có và
dân số già rất đông, nhưng các cơ sở dịch vụ nha khoa vẫn thiếu thốn, chưa
bối cảnh văn hóa, xã hội và hệ thống các giá trị mà họ thuộc về, dựa trên các
mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ [35]. CLCS được đánh
giá trên bốn lĩnh vực chính: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, các mối quan
hệ xã hội và môi trường sống [36],[37],[38]. CLCS là một khái niệm mang
tính chất khái quát hơn khái niệm sức khỏe, nó mang giá trị tinh thần hơn là
sức khỏe thể chất đơn thuần, phản ánh mối quan hệ gia đình, hoạt động xã
hội, nghề nghiệp, đời sống tinh thần, sự sáng tạo, niềm hy vọng, sự thành đạt.
Đây cũng được coi là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh thần và vật
chất của con người, là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển bền
vững của mọi quốc gia. CLCS càng cao thì con người càng có nhiều khả năng
lựa chọn cho mình hướng phát triển cá nhân cũng như cách hưởng thụ giá trị
vật chất và tinh thần mà xã hội tạo ra [39]. Nếu như sức khỏe thể chất tốt, ít
ốm đau, bệnh tật là điều kiện căn bản cho một cuộc sống có chất lượng thì các
yếu tố như sức khỏe tinh thần, giao tiếp và vị thế xã hội, tình trạng kinh tế, tín
ngưỡng, điều kiện sống, môi trường.v.v. cũng đóng vai trò quan trọng để nâng
cao CLCS [40],[41].
Ảnh hưởng sức khỏe răng miệng lên chất lượng cuộc sống là rõ ràng. Với
tình trạng răng miệng tốt (răng còn đầy đủ, khỏe mạnh …), ta sẽ đảm bảo được
20
chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm rõ, giúp tự tin hơn trong công việc cũng
như trong cuộc sống. Ngược lại, tình trạng SKRM không tốt (mất nhiều răng,
sâu răng, đau răng, các bệnh lý nha chu…) sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống
hằng ngày, gây cảm giác khó chịu, ăn uống kém, thiếu tự nhiên trong giao tiếp,
đôi khi gặp khó khăn ngay cả trong những công việc thông thường …
Nhằm đánh giá chính xác vấn đề này, bộ câu hỏi tiêu chuẩn OHIP-14 đã
được Slade đưa ra năm 1997. OHIP-14 được rút ngắn từ OHIP-49, gồm 14
câu hỏi, đánh giá ảnh hưởng của các vấn đề răng miệng lên khả năng ăn uống,
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cũng đã được thực hiện. Theo kết quả
điều tra của Nguyễn Văn Bài (1994), ở miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ mất răng
của nhóm tuổi trên 65 là 95,21%, nhu cầu phục hình là 90,43%, tỷ lệ mất răng
nói chung là 42,1% và nhu cầu phục hình răng bằng cầu răng là 59,79% [48].
Tiến hành nghiên cứu ở quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 2007, Trương Mạnh
Dũng cho thấy tỷ lệ mất răng ở người trên 60 tuổi là 81,73% với số trung bình
10,13 răng mất/người. Tuổi càng cao, tỷ lệ mất răng càng tăng. Đặc biệt ở
nhóm tuổi già trên 75 tuổi, có 97,26% đối tượng bị mất răng. Tỷ lệ người mất
răng toàn bộ một hàm chiếm 5,85%, mất răng toàn bộ hai hàm chiếm 2,81%
[49]. Cũng trên địa bàn nội thành thành phố Hà Nội,Trần Thanh Sơn (2007)
và Chu Đức Toàn (2012) cho biết tỷ lệ mất răng của người cao tuổi tại hai
quận Hoàng Mai, Đống Đa lần lượt là 85,7% và 89,5% [50],[51]. Các kết quả
này đều chỉ ra rằng, tỷ lệ mất răng của người cao tuổi ở nước ta vẫn còn cao.
1.6. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phố Cần Thơ nằm ở vùng hạ lưu của Sông Mê Kông và ở vị
trí trung tâm đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long , nằm cách thành phố Hồ
Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau hơn 150 km, cách thành phố
Rạch Giá gần 120 km, cách biển khoảng hơn 80 km theo đường nam sông
Hậu (quốc lộ 91C).
Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38" - 105050’35" kinh độ Đông và
9055’08" - 10019’38" vĩ độ Bắc, trải dài trên 60 km dọc bờ Tây sông Hậu.
Phía bắc giáp Thành phố An Giang, phía đông giáp Thành phố Đồng Tháp và
Thành phố Vĩnh Long, phía tây giáp Thành phố Kiên Giang, phía nam giáp
Thành phố Hậu Giang. Diện tích nội thành là 53 km². Thành phố Cần Thơ có
22
tổng diện tích tự nhiên là 1.409,0 km², chiếm 3,49% diện tích toàn vùng và
dân số vào khoảng 1.200.300 người, mật độ dân số tính đến 2011 là 852
sinh sống tại Cần Thơ
Đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Có khả năng trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Những người 45 tuổi (78%) [4].
• d: Độ chính xác tuyệt đối (= 5%)
24
• Z2(1-α/2): hệ số tin cậy, với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05, tương ứng với
độ tin cậy là 95% thì Z(1-α/2) = 1,96
• Do sử dụng kỹ thuật chọn mẫu 30 chùm ngẫu nhiên nên cỡ mẫu cần
nhân với hệ số thiết kế mẫu (DE = 1,5)
• Cỡ mẫu cần tăng gấp 2 để có thể so sánh thực trạng bệnh răng miệng và
nhu cầu điều trị bệnh răng miệng ở người cao tuổi thuộc khu vực thành
thị và nông thôn.
Do vậy, cỡ mẫu là 1350 người cao tuổi.
o Mất răng theo hệ số nhai còn.
- OHIP-14:
Ảnh hưởng của tình trạng mất răng đến CLCS của NCT.
2.4.2. Tiêu chuẩn đánh giá một số biến số
- Tiêu chí đánh giá mất răng: Các răng không còn thân răng trên sống
o
o
o
o
hàm khi thăm khám lâm sàng.
- Hệ số nhai: Được chia thành 4 mục;
Còn 0% - 25%.
Còn 25% - 50%.
Còn 50% - 75%.
Còn trên 75%.
Theo Duchange (Mỹ) và Agapov (Liên Xô), có mỗi quan hệ giữa hệ số
nhai và chỉ định điều trị mất răng:
o Mất 0% - 24% (còn trên 75%) hệ số nhai thì không cần điều trị.
o Mất 25% - 49% (còn 50% - 75%) hệ số nhai thì có thể cần điều trị.
o Mất từ 50% trở lên (còn dưới 50%) hệ số nhai thì cần điều trị [53].
- OHIP-14:
Bộ câu hỏi đánh giá về ảnh hưởng của các vấn đề răng miệng lên chất
lượng cuộc sống gồm 14 câu, bao gồm 7 lĩnh vực: Ảnh hưởng các cơ năng
(phát âm, vị giác) (câu 1, câu 2); cảm giác đau (câu 3, câu 4); tâm lý không
thoải mái (câu 5, câu 6); hạn chế ăn nhai (câu 7, câu 8); hạn chế tâm lý (câu 9,
câu 10); hạn chế giao tiếp xã hội (câu 11, câu 12); bất lợi về chức năng và tâm
lý (câu 13, câu 14). Các khía cạnh được ghi trên thang điểm Likert từ 0 đến 4