Đề cương Đánh giá xói mòn đất tại lưu vực suối Bó Cá, thành phố Sơn La - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA: NÔNG - LÂM

………….………….

ĐỀ CƯƠNG THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
“ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ XÓI MÒN ĐẤT TẠI LƯU VỰC SUỐI BÓ
CÁ, THÀNH PHỐ SƠN LA”

Giáo viên hướng dẫn

: Ths. Nguyễn Tiến Chính

Sinh viên thực hiện

: Quàng Văn Công

Sơn La, năm 2016


ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất trong những năm gần đây cho
thấy Việt Nam có khoảng 25 triệu hecta đất dốc, nguy cơ xói mòn và rửa trôi rất
lớn khoảng 10 tấn/ha/năm. Theo các quan trắc có hệ thống từ năm 1960 đến nay
thì có khoảng 10-20% lãnh thổ bị ảnh hưởng xói mòn từ trung bình đến mạnh [1].
Sơn La là tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Việt Nam, có độ cao trung bình
600 - 700m so với mực nước biển, địa hình chia cắt sâu và mạnh nên hình thành
nhiều tiểu vùng khí hậu, cho phép phát triển một nền sản suất Nông – Lâm
nghiệp phong phú. Hiện tượng xói mòn, rửa trôi đang xảy ra mạnh.
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là tư liệu lao động chính của nền kinh

khoa học người Đức thực hiện vào những năm 1877 (Hudson, 1995). Năm 1907
tại Mỹ các chương trình nghiên cứu về xói mòn đất được bắt đầu khi Bộ Nông
nghiệp nước này tuyên bố chính sách về bảo vệ nguồn tài nguyên đất. Các nghiên
cứu chi tiết đầu tiên về mưa được tiến hành bởi Laws (1941). Ellison (1944) đã
phân tích các tác động cơ học của hạt mưa lên đất và đưa ra tiến trình xói mòn.
Công thức toán học được Zingg (1940) đưa vào để đánh giá ảnh hưởng của độ
dốc và độ dài của sườn dốc đến sự xói mòn [7].
Năm 1947 Musgrave và cộng sự đã phát triển một phương trình thực
nghiệm được gọi là phương trình Musgrave (Hudson, 1995). Phương trình này đã
được triển khai áp dụng trong nhiều năm cho đến khi Wischmeier and Smith
(1958) đưa ra công thức tính xói mòn đất, được gọi là phương trình mất đất phổ
dụng (USLE). Từ giữa những năm 1980 đến đầu năm 1990 các mô hình xói mòn
khác nhau đã được phát triển dựa trên phương trình USLE ở nhiều nơi trên thế
giới như: mô hình dự đoán mất đất cho miền nam châu Phi- SLEMSA (Elwell,
1981), mô hình SOILOSS (Rosewell, 1993) được phát triển tại Úc và mô hình
ANSWERS được phát triển vào cuối những năm 1970 để đánh giá mức độ bồi
lắng lưu vực sông (Beasley và cộng sự, 1980) [7].
Hiện nay, xói mòn được nghiên cứu mở rộng hơn dưới nhiều loại hình và
tính chất khác nhau. Xu hướng phổ biến hiện nay trong nghiên cứu xói mòn trên
thế giới, thể hiện qua hội thảo lần thứ 12 của ISCO tổ chức tại Bắc Kinh năm
2002 là nghiên cứu xói mòn theo hướng mô hình hóa diễn tả động lực của quá
trình xói mòn và nghiên cứu xói mòn kết hợp với các khoa học khác chủ yếu là
3


tìm hiểu quá trình cũng như tác động của xói mòn lên môi trường nhằm có được
các biện pháp chống xói mòn hiệu quả [4].
Quản lý và kiểm soát xói mòn đã trở thành một thách thức kể từ khi ngành
nông nghiệp ra đời. Với cố gắng kiểm soát xói mòn trên những vùng đất dốc đã
dấn đến sự ra đời kiểu canh tác trên ruộng bậc thang. Ruộng bậc thang đã trở

lưới nhằm tổ chức các cuộc hội thảo định kỳ luân phiên dưới sự bảo trợ của Tổ
chức bảo tồn đất và nước thế giới (WASWC).
Nguyên cứu đất Liên hợp quốc và các tổ chức liên quan : các tổ chức khác
nghiên cứu về xói mòn đất trên phạm vi quốc tế Tổ chức lương thực và Nông
nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tại Italia, Chương trình môi trường Liên hợp quốc
(UNEP) tại Kenya. FAO đã cố gắng phát triển phương pháp nhằm đánh giá sự
bạc màu của đất gây ra bởi xói mòn và các tác nhân khác, và tổ chức một mạng
lưới đánh giá tác động của xói mòn lên sản lượng cây trồng. Các nghiên cứu toàn
cầu về xa mạc hóa và phương thức kiểm soát chúng cũng được tổ chức bởi
UNEP.
Cùng với ISCO và WASWC còn có một số tổ chức chuyên môn quốc tế
mà thành viên của họ cũng liên quan đến xói mòn đất. Hai tổ chức quan trọng là
Hội các khoa học thủy văn quốc tế (IAHS) và Tổ chức nghiên cứu đất trồng trọt
quốc tế (ISTRO). Hiệp hội các khoa học đất quốc tế (IUSS) được lập ra để giải
quyết các nhiệm vụ liên quan đến xói mòn và bảo tồn đất.
Việc ứng dụng GIS phục vụ theo dõi, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường đã được một số nước trên thế giới ứng dụng từ năm 1970:
Tại Mỹ, GIS được ứng dụng khá rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực quản
lý tài nguyên và môi trường: trong đánh giá đất đai, trong quy hoạch không gian,
quản lý đất đai khí tượng thủy văn, dự báo thời tiết, giám sát thay đổi môi
trường…
Tại Đức đã sử dụng dữ liệu độ cao của GIS kết hợp với dữ liệu vệ tinh để
dự báo đặc tính vật lý của đất.
Tại Úc, Hệ thống thông tin tài nguyên Úc đã được thực hiện tại những năm
1970, nhằm hỗ trợ đưa ra những quyết định liên quan đến các vấn đề sử dụng đất,
môi trường…
Ở Bangladesh, Viện nghiên cứu nông nghiệp bắt đầu triển khai dự án GIS
từ năm 1996 với mục đích thiết lập hệ thống thông tin tài nguyên nông nghiệp

5

biện pháp canh tác. Nguyễn Xuân Kỳ, Nguyễn Quý Khải, Bùi Ngạch (1963)…đã
tập trung nghiên cứu về xói mòn khu vực và biện pháp, công trình trồng cây xanh
6


che phủ đất chống xòi mòn ở Tây bắc, Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai. Tuy mới là
nghiên cứu định tính, mô tả là chủ yếu nhưng những công trình nghiên cứu đã
góp phần xây dựng nên quy phạm tạm thời về “thiết kế trên đồi” của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn [8].
Từ những năm của thập niên 60 của thế kỷ 20, cùng với sự phát triển kinh
tế của Miền Bắc gắn với nền nông nghiệp tập trung là sự xuất hiện một loạt các
công trình nghiên cứu xói mòn và chống xói mòn đất. Đáng chú ý nhất trong thời
kỳ này là các tác giả: Tạ Quang Bửu, Trần Ích Châm, Hồ Sỹ Chúc, Tôn Gia
Huyên, Nguyễn Xuân Quát …Các công trình nghiên cứu của các tác giải này đã
giải quyết được nhiều vấn đề trong xói mòn và chống xói mòn nhưng tính hiệu
quả chưa cao.
Công trình của Chu Đình Hoàng và Đào Khương nghiên cứu về những nét
đặc trưng chủ yếu của xói mòn vùng khí hậu nhiệt đới Việt Nam.
Sau năm 1975, các nghiên cứu xói mòn đất được tiến hành rộng khắp trên
toàn quốc. Các trạm nghiên cứu xói mòn đất được xây dựng tại những khu vực
đặc trưng đã mang lại tính định lượng cho công tác này.
Các nghiên cứu trong giai đoạn này đã thu được nhiều kết quả quan trọng
như công trình của Bùi Quang Toản, Ngô Trọng Thuận, Lê Thạc Cán, Nguyễn
Quang Mỹ …
Các công trình nghiên cứu xói mòn cũng được các tác giả như: Chu Đức,
Mai Đình Yên, Nguyễn Quang Mỹ …được đưa vào trong giai đoạn này.
Từ những năm 80 trở đi thì các công trình nghiên cứu bắt đầu áp dụng
phương trình mất đất đất phổ dụng của Wischmeier and Smith (1978) như: Phạm
Ngọc Dũng (1991) đã tiến hành nghiên cứu về ứng dụng phương trình mất đất
phổ quát vào dự báo tiềm năng xói mòn đất và đưa ra các biện pháp chống xói

Các công trình ứng dụng GIS và viễn thám trong nghiên cứu xói mòn đất
có độ tin cậy cao, thời gian thực hiện ngắn và đem lại chi phí thấp.
Các trường Đại học KHTN thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Nông
Lâm Thủ Đức, Đại học Huế, Đại hoc KHTN Hà Nội, Đại học Nông nghiệp Hà
Nội, Viện Quy hoạch rừng, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp… đã có
nhiều thành tựu trong nghiên cứu phát triển ứng dụng GIS, như tìm hiểu sự thay
đổi sử dụng đất với công cụ GIS và viễn thám, ứng dụng GIS trong đánh giá đất,
ứng dụng GIS tính toán các tham số trong phương trình mất đất phổ dụng USLE
để nghiên cứu về xói mòn đất.

8


Trong ngành kiểm lâm Việt Nam, từ năm 1997, cục Kiểm lâm (Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã lắp đặt và vận hành trạm thu ảnh viễn thám
Modis tại Hà Nội với mục đính là phát hiện sớm điểm cháy rừng và quản lý lửa
rừng.
Trong những năm gần đây với việc ứng dụng GIS vào nghiên cứu xói mòn
thì đã có một số công trình được tiến hành như: “Ứng dụng GIS ước lượng xói
mòn đất tại lâm trường Mã Đà- Tỉnh Đồng Nai” của Nguyễn Kim Lợi (2006);
“Ứng dụng GIS và viễn thám đánh giá xói mòn đất lưu vực hồ Dầu Tiếng” của
Trần Tuấn Tú, Nguyễn Trường Ngân (2009); “Ứng dụng công nghệ hệ thống
thông tin địa lý (GIS) để dự báo xói mòn đất tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Cạn”
của Hoàng Tiến Hà (2009)... Các công trình nghiên cứu này tập trung vào tính
toán lượng đất xói mòn, đề ra một số biện pháp hạn chế xói mòn nhưng vẫn chưa
đề cặp đến vấn đề hạn chế các hậu quả do xói mòn gây ra.

9



R là hệ số xói mòn của mưa;
K là hệ số ứng chịu xói mòn của đất;
L là độ dài sườn dốc;
S là độ dốc;
C là yếu tố thực vật;
P là hiệu quả của các biện pháp chống xói mòn.
Các tham số trong Công thức (1) được xác định như sau:
2.3.3.1. Hệ số xói mòn do mưa, R

10


Tùy theo điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng cụ thể để sử dụng một trong các
mối tương quan giữa khả năng xói mòn của mưa và lượng đất bị xói mòn.
R = B.t-0,5
(2) (Theo công thức Onchev)
Trong đó
B là lượng mưa ≥ 9,5 mm với cường độ không thấp hơn 0,18 mm/min, tính bằng
milimet;
t là thời gian có lượng mưa ≥ 9,5 mm và cường độ không thấp hơn 0,18 mm/min,
tính bằng phút.
Cường độ, thời gian và lượng mưa xác định theo mạng lưới khí tượng thủy văn.
Những số liệu khí tượng thủy văn được xử lý và hệ thống hóa theo cách sau:
- Xác định tổng số và lượng mưa theo tháng và năm;
- Những trận mưa cách nhau dưới 6 giờ được xem xét như một trận mưa;
- Xác định số trận mưa có lượng mưa ≥ 9,5 mm theo tháng và năm và tính R cho
mỗi trận mưa;
- Trên cơ sở tổng tháng và năm của đại lượng R, tính được của các trận mưa của
mỗi trạm theo công thức:
R=


m

R = ∑ I 30,i ∑ Gk I k
i =1

(6)

Trong đó:
Q là lượng mưa của từng trận, tính bằng mm;
11


I15, I30 là cường độ mưa lớn nhất trong thời gian 15 phút và 30 phút của từng trận,
tính bằng mm/min;
G là lượng mưa trong khoảng thời gian đặc trưng, tính bằng mm;
i là cường độ mưa trong khoảng đặc trưng, tính bằng mm/min;
k là số thứ tự của trận mưa đặc trưng;
m là số lượng khoảng.
2.3.3.2. Hệ số ứng chịu xói mòn của đất, K
Để xác định K trong những điều kiện thổ nhưỡng khác nhau, sử dụng
những kết quả đo trực tiếp lượng đất bị xói mòn trong những điều kiện địa hình
giống nhau và trạng thái đất bỏ hóa hoàn toàn được quy về khu đất chuẩn có
chiều dài 25 m và độ dốc 10 %. Để cách ly ảnh hưởng của mưa, lượng đất bị xói
mòn trong những điều kiện nêu trên được quy về một đơn vị mưa tính theo một
trong các phương pháp đã nêu ở 2.3.3.1.
Trong những điều kiện này L = S = C = P = 1 và tính ứng chịu xói mòn
của đất được xác định theo:
K = A1R-1
Trong đó

những phần có cùng kiểu dốc sao cho độ dốc theo chiều dài của nó không dẫn
đến việc tích tụ trầm tích dòng chảy. Đối với mỗi phần, tính LS theo công thức
(10) hoặc theo bảng tham số LS cho các độ dài và độ dốc khác nhau đã được
chuẩn bị trước. Sau đó đem tham số LS thu được của mỗi đoạn nhân với hệ số
nhất định. Trung bình cộng của tất cả các đại lượng LS của các phần là LS cho
toàn sườn dốc có độ dốc khác nhau dọc theo chiều dài. Các hệ số để tính tham số
cho từng phần được nêu ở Phụ lục A [5].
Hệ số để chuyển tham số của các phần khi độ dài sườn dốc có trị số mũ
khác nhau xác định theo công thức sau:
Jm = 1 −

( J − 1) m + 1
nm

(11)

Trong đó
J là số thứ tự của đoạn;
m là số mũ độ dài sườn dốc;
n là số đoạn có độ dài bằng nhau.
2.3.3.4. Hệ số thực bì (C)
C tính theo tỷ lệ giữa đất bị mất khi có các loại cây trồng hoặc luân canh
tương ứng trồng theo sườn dốc và đất bị mất khi để hoang hóa hoàn toàn.
- Yếu tố thực vật C
Yếu tố thực vật C xác định theo cách sau:
+ Xác định ngày bắt đầu và kết thúc chu kỳ kỹ thuật trồng trọt của các loại cây
trồng khác nhau.
+ Tính yếu tố mưa R cho mỗi chu kỳ theo phần trăm lượng trung bình năm.
+ Nhân lượng mưa tính bằng phần trăm giữa đại lượng tỷ lệ lượng đất bị mất do
cây trồng và đất bị mất do hoang hóa hoàn toàn theo phần trăm tham số năm và

3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý,địa hình
3.1.1.1. Vị trí địa lý
3.1.1.2. Địa hình
3.1.2. Khí hậu,thủy văn
3.1.2.1. Khí hậu
3.1.2.2. Thủy văn
3.1.3. Thổ nhưỡng
3.1.4. Đặc điểm tài nguyên rừng
3.2. Điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội
3.2.1. Thành phần dân tộc, phân bố dân cư
3.2.2. Y tế, giáo dục
3.2.3. Giao thông
3.2.4. Tình hình phát triển sản xuất trong lưu vực

15


Phần 4
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Xác định được phạm vi không gian của khu vực nghiên cứu
4.2. Xác định được các chỉ số trong phương trình mất đất phổ dụng của
Wischmeier W.H – Smith
4.3. Xác định được mức độ xói mòn trong lưu vực theo tiêu chuẩn

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngọc Lý, 2010. Biến đổi khí hậu và việc sử dụng bền vững tài nguyên đất:


KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
(Thời gian xem kế hoạch của Nhà trường)
T
T

Nội dung công việc

Thời gian

Địa điểm thực hiện

1

Hoàn thiện đề cương

20/05/2016

Khoa Nông Lâm

2

Nộp đề cương chi tiết

20/05/2016

Khoa Nông Lam

3



7

Liên hệ với giáo viên hướng dẫn
chỉnh sửa báo cáo

Từ 22/10/2016
đến 26/10/2016

Khoa Nông Lâm

8

Nộp số liệu, giấy xác nhận của nơi
thực tập, báo cáo thực tập kèm theo
phiếu xác nhận của GVHD

04/11/2016

Khoa Nông Lâm

Giáo viên hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)

Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)

Ths.Nguyễn Tiến Chính

Quàng Văn Công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status