ThS17 028 bước đầu tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi vi hồng - Pdf 37

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Hoàng Thị Quỳnh Ngân

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU LỜI THOẠI
TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ.
Mã số:

60 22 01.

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Đào Thị Vân

Thái Nguyên, năm 2008
Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Hoàng Thị Quỳnh Ngân

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU LỜI THOẠI
TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

3.1. Những lớp hành vi ngôn ngữ được sử dụng trong lời thoại (trong
văn xuôi Vi Hồng)
3.2. Chủ ngôn của các hành vi ngôn ngữ trong lời thoại (trong văn
xuôi Vi Hồng)
3.3. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp được
sử dụng trong lời thoại (trong văn xuôi Vi Hồng)
3.4. Kết luận chương
Chương 4 - Những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại
trong văn xuôi Vi Hồng
4.1. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng sử dụng hệ thống từ của tiếng
dân tộc
4.2. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng sử dụng hệ thống thành ngữ
4.3. Phương thức diễn đạt trong lời thoại (trong văn xuôi Vi Hồng)
4.4. Phong tục tập quán của dân tộc Tày thể hiện trong lời thoại
(trong văn xuôi Vi Hồng)
4.5. Kết luận chương

Trang
1
1
2
6
7
7
8
9
9
9
32
33

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hội thoại là một trong những hình thức giao tiếp thường xuyên,
phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn
ngữ khác. Hội thoại đã và đang trở thành một trong những lĩnh vực được
nhiều người quan tâm bởi sự đa dạng, thú vị và phức tạp của nó.
Tìm hiểu lời thoại không nên chỉ bó hẹp trong phạm vi giao tiếp thường
ngày mà còn cần phải dấn vào địa hạt văn chương, đặc biệt là văn xuôi mới có
thể thấy hết màu sắc của lời thoại.
1.2. Vi Hồng là nhà văn dân tộc miền núi tiêu biểu cho bộ phận văn học
thiểu số Việt Nam sau cách mạng. Chất dân tộc và miền núi Việt Bắc là yếu
tố làm nên nét đặc sắc và mới lạ trong sáng tác của ông dù ở bất kỳ thể loại
nào, truyện ngắn hay tiểu thuyết. Trong tác phẩm của mình, Vi Hồng đã đề
cập đến nhiều mặt khác nhau của con người và cuộc sống các dân tộc thiểu số
miền núi. Chính cuộc sống sinh động của con người Việt Bắc được phản ánh
chân thực đã đưa các tác phẩm của ông trở thành khóm hoa lạ trong vườn hoa
dân tộc. PGS.TS Vũ Anh Tuấn đã nhận xét: "Thành tựu lớn nhất mà Vi Hồng
để lại cho đồng bào dân tộc miền núi có lẽ được trầm kết trong những trang
văn. Mạch lạc và dứt khoát, đôi khi đến cực đoan trong đời riêng, trái tim nhà
văn Vi Hồng vẫn không ngừng đập giữa hai dòng yêu thương và hờn giận.
Song, trước sau, ông vẫn là một con người nhân hậu, giàu lòng yêu thương và
khao khát được yêu thương" [52,15].
Nhà văn Vi Hồng thành công ở nhiều thể loại: truyện ngắn, nghiên cứu
văn học, đặc biệt là tiểu thuyết. Với hơn 10 cuốn tiểu thuyết, Vi Hồng đã đề
cập đến nhiều mặt khác nhau của con người và cuộc sống các dân tộc thiểu số

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ

Ở Việt Nam, những vấn đề lý thuyết hội thoại đã được các nhà ngôn
ngữ học tiêu biểu như GS.TS Đỗ Hữu Châu, GS.TS Nguyễn Đức Dân,

2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




GS.TS Nguyễn Thiện Giáp đi sâu nghiên cứu. Trong công trình "Đại cương
Ngôn ngữ học" (Tập II, Ngữ dụng học), Đỗ Hữu Châu đã trình bày một cách
hệ thống và phân tích trên cứ liệu tiếng Việt về lý thuyết hội thoại với các nội
dung chủ yếu: vận động hội thoại, các yếu tố kèm lời và phi lời các quy tắc
hội thoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại và ngữ pháp hội thoại.
Cũng bàn về hội thoại, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn "Dụng học Việt
ngữ" đã đề cập đến các yếu tố của cấu trúc hội thoại, cặp thoại, câu đáp được
ưu tiên, sự trao đáp và thương lượng hội thoại, những lời ướm thử và những
yếu tố phi lời trong hội thoại,v.v...
Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ cũng bước đầu tìm hiểu về lý thuyết hội
thoại như hai luận án tiến sĩ: "Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại, cuộc
thoại, đoạn thoại" của Nguyễn Thị Đan, Trường Đại Sư phạm Hà Nội I, 1995
và "Đề tài diễn ngôn: Sự cộng tác hội thoại để hình thành đề tài diễn ngôn và
các hành vi dẫn nhập đề tài diễn ngôn" của Chu Thị Thanh Tâm, Trường Đại
Sư phạm Hà Nội I, 1995.
Lý thuyết hội thoại còn được soi sáng trong từng tác phẩm văn chương
cụ thể qua một số bài nghiên cứu, luận văn tiến sĩ hay luận văn cử nhân như:
luận án tiến sĩ "Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao" của Mai Thị Hảo Yến,

các tác phẩm của Vi Hồng.
2.2.2. Từ góc độ ngôn ngữ
Trên phương diện ngôn ngữ, có một số đề tài và luận văn cử nhân của
sinh viên như: "Giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Vi Hồng" (Đề tài nghiên
cứu khoa học, ĐHSP Thái Nguyên, 2005) của Ngô Thu Thuỷ, "Đặc điểm
ngôn ngữ trong tiểu thuyết "Người trong ống" của nhà văn Vi Hồng" (Luận
văn cử nhân, ĐHSP Thái Nguyên, 2007) của Trần Thị Hồng Nhung... nghiên
cứu về các tác phẩm của nhà Vi Hồng từ các góc độ như: giọng điệu trần
thuật, cấu trúc ngữ pháp, cách sử dụng từ ngữ... nhằm toát lên phong cách của
nhà văn.
Tuy nhiên, nếu xét từ phương diện ngữ dụng học thì hầu như chưa có
công trình nghiên cứu nào tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng một cách
bài bản và có hệ thống.
Tóm lại, các công trình đã dẫn trên cho thấy việc nghiên cứu văn xuôi
Vi Hồng dưới nhiều góc độ bắt đầu có sức thu hút nhiều người nghiên cứu.
Như đã nói ở mục lí do chọn đề tài, dưới góc độ văn chương, các tác phẩm
của nhà văn Vi Hồng đặc biệt được quan tâm bởi những nét độc đáo trong
ngôn ngữ cũng như trong cách xây dựng nhân vật của ông. Nhưng xét từ
phương diện ngữ dụng học, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hệ
thống về hội thoại nói chung và đặc điểm lời thoại nói riêng trong văn xuôi Vi

5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399





Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là lời thoại trong một số tác
phẩm văn xuôi tiêu biểu của Vi Hồng, đó là:
- Chồng thật - vợ giả;
- Đi tìm giàu sang;
- Núi cỏ yêu thương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Có thể nghiên cứu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng từ nhiều phương
diện nhưng luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng về mặt cấu tạo ngữ pháp;
- Tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng về mặt dụng học, cụ thể:
+ Tìm hiểu những lớp hành vi ngôn ngữ được sử dụng trong lời thoại ở
văn xuôi Vi Hồng;
+ Tìm hiểu chủ ngôn của các hành vi ngôn ngữ của lời thoại;
+ Tìm hiểu việc sử dụng hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn
ngữ gián tiếp trong lời thoại.
- Tìm hiểu những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong
văn xuôi Vi Hồng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê – phân loại: phương pháp nghiên cứu này được
dùng để thống kê và phân loại lời thoại trong các tác phẩm văn xuôi của Vi

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Luận văn này lấy lý thuyết về ngữ dụng học và lý thuyết về ngữ pháp
tiếng Việt là cơ sở chính để tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng.
Chương này chỉ trình bày sơ lược một số vấn đề lý thuyết về ngữ dụng học
như: lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh
và ý nghĩa hàm ẩn vì đó là những mảng lý thuyết còn mới mẻ.
Ngoài ra, chương này cũng điểm qua một vài nét về bản sắc văn hoá
dân tộc nói chung và bản sắc văn hoá Tày nói riêng để hiểu thêm về ngôn ngữ
trong văn xuôi Vi Hồng.
Lý thuyết về ngữ pháp học tiếng Việt mà luận văn sử dụng được trình
bày trong các công trình dẫn ở mục tài liệu tham khảo.
1. 1. Lý thuyết về ngữ dụng học
1.1.1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Trong giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong
đó có một phương tiện đặc biệt là ngôn ngữ. Sử dụng ngôn ngữ trong giao
tiếp nhằm gây ra các hiệu quả, tác động nào đó đối với nhân vật giao tiếp
chính là người nói đã dùng các hành vi ngôn ngữ.
Theo cách hiểu thứ nhất, hành vi ngôn ngữ (hay còn gọi là hành động
ngôn ngữ, hành động phát ngôn) là một hành động đặc biệt của con người với
phương tiện là ngôn ngữ. Theo cách hiểu thứ hai, hành vi ngôn ngữ là "Một
đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện

- Phạm trù thứ ba là cam kết. Những hành vi này ràng buộc người nói
vào một chuỗi hành động nhất định: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, v.v...
- Phạm trù thứ tư là trình bày. Những hành vi này được dùng để trình
bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng
định, phủ định, từ chối,v.v...
- Phạm trù thứ năm là ứng xử. Đây là những hành vi phản ứng đối với
các xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là
cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác: xin lỗi,
cảm ơn, khen ngợi,v.v...
b. Các lớp hành vi ngôn ngữ theo quan điểm của J.R. Searle
Searle phân loại các hành vi ở lời theo nhiều tiêu chí chứ không chỉ dựa
và các động từ gọi tên chúng. Theo hướng đó, ông liệt kê 12 điểm khác biệt
giữa các hành vi ngôn ngữ có thể dùng làm tiêu chí phân loại đó là:

11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




- Thứ nhất là đích ở lời. Đích ở lời là đích của các phát ngôn mà
người nói hướng tới người nghe. Ví dụ: Hành vi thỉnh cầu hướng tới việc đưa
Sp2 đến việc thực hiện cái gì đó.
- Thứ hai là hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến. Ví
dụ: hành vi trần thuật có hướng khớp ghép lời - hiện thực vì giá trị đúng sai
mà nó nêu ra được xác định trên cơ sở lời miêu tả có phù hợp hay không với
sự vật được nói tới.

không phải bằng lời.
- Thứ mười là thể chế xã hội. Ví dụ: hành vi kết án phải có thể chế xã
hội mới có hiệu lực nhưng hành vi trần thuật thì không đói hỏi như vậy.
- Mười một là động từ nói năng. Không phải tất cả động từ gọi tên
hành vi ở lời đều là động từ nói năng. Ví dụ: khoe và dọa không phải là động
từ ngữ vi.
- Mười hai là phong cách thực hiện hành vi ở lời. Ví dụ: công bố và
thổ lộ khác nhau ở phong cách thực hiện.
Với 12 tiêu chí này, Searle chỉ lấy 4 tiêu chí làm căn cứ chính để phân
loại hành vi ngôn ngữ là: đích ở lời, hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời
đề cập, trạng thái tâm lý được thể hiện và nội dung mệnh đề.
Theo các tiêu chí trên, Searle đã phân loại hành vi ngôn ngữ thành 05
lớp sau đây:
- Lớp thứ nhất là lớp hành vi tái hiện (trước đó còn được Searle gọi là
lớp xác tín)
+ Đích ở lời của lớp hành vi này là miêu tả một sự tình đang được nói
đến, trách nhiệm của người nói đối với việc mình thông báo.
+ Hướng khớp ghép của lớp hành vi này là lời - hiện thực.
+ Trạng thái tâm lý của lớp hành vi này là niềm tin vào điều mình xác tín.
+ Nội dung mệnh đề là một mệnh đề.
+ Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói: miêu tả, khẳng định,
minh hoạ...
- Lớp thứ hai là lớp hành vi điều khiển
+ Đích ở lời của lớp hành vi này là đặt người nghe vào trách nhiệm
thực hiện một hành động trong tương lai.
+ Hướng khớp ghép của lớp hành vi này là thế giới được ghép vào từ.

13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


hành vi.
+ Hướng khớp ghép của lớp hành vi này vừa là lời - hiện thực, vừa là
hiện thực - lời.

14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




+ Trạng thái tâm lý của lớp hành vi này không có đặc trưng khái quát
nhưng có các yếu tố thể chế làm cho lời có giá trị.
+ Nội dung mệnh đề của hành vi lớp này là một mệnh đề.
+ Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: tuyên bố, kết luận,
đuổi...
1.1.1.3. Những dấu hiệu xác định hành vi ngôn ngữ
Có nhiều dấu hiệu xác định hành vi ngôn ngữ. Dưới đây là một số dấu
hiệu cơ bản:
a. Động từ ngữ vi
Austin và Searle đã tiến hành phân biệt động từ chỉ hành động vật lý và
động từ nói năng. Động từ nói năng là các động từ chỉ hành vi ngôn ngữ.
Trong các động từ nói năng, ta thấy có những động từ có thể thực hiện
chức năng ngữ vi, tức là thực hiện chức năng ở lời, đó là động từ ngữ vi.
"Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với
biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực
hiện luôn các hành vi ở lời do chúng biểu thị" [12,97].
Ví dụ: Tôi thề với anh tôi không làm chuyện đó.

ngôn ngữ nào đó đang được thực hiện.
b. Những kiểu kết cấu ngữ pháp đặc trưng cho hành vi ngôn ngữ
Kiểu kết cấu là kiểu câu hiểu theo ngữ pháp truyền thống. Nó cũng là
những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi ở lời. Kết cấu ngữ pháp không chỉ
có kiểu câu phân loại theo mục đích nói như trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm
thán...với những dấu hiệu hình thức chung chung như các nhà ngôn ngữ tiền
dụng học đã nói mà còn bao gồm những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi ở lời.
Ví dụ: Các kết cấu hành vi cầu khiến trong tiếng Việt thường là: hãy,
đừng...nữa, làm ơn... Hành vi ngôn ngữ cảm thán lại bao gồm 2 kiểu kết cấu:
từ ngữ cảm thán kết hợp với câu hỏi (Ví dụ: Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?) và
từ ngữ cảm thán kết hợp câu trần thuyết (Ví dụ: Ôi! Phong cảnh ở đây thật
đẹp) v.v...
c. Những từ ngữ chuyên dụng cho một kiểu hành vi ngôn ngữ
Những từ ngữ chuyên dụng là những từ ngữ chuyên dụng để tổ chức
kết cấu của một biểu thức ngữ vi cụ thể. Chẳng hạn, với biểu thức ngữ vi hỏi,
ta có các từ ngữ chuyên dụng như: có...không, đã....chưa, ai, cái gì...
Ví dụ: - Ai đấy?

16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




- Em đã làm bài tập chưa?
- Đây là cái gì thế?
- Bạn có đi Hà Nội không?




là người nhận phát ngôn của Sp1 trực tiếp nhưng không phải là người nhận
đích thực.
Ví dụ: Lan (Sp1) nói với Mai (Sp2) phát ngôn: Mai về nói với An là cô
giáo bảo An đến gặp cô giáo ngay. Phát ngôn này có chủ ngôn là cô giáo,
thuyết ngôn là Lan, đích ngôn là An và tiếp ngôn là Mai.
Trong giao tiếp luôn có sự phân vai: vai phát (vai nói, viết) và vai tiếp
nhận (vai nghe, đọc). Hai vai này thường luân chuyển nhau. Sp1 (vai phát)
sau khi nói chuyển thành Sp2 (vai nhận) và ngược lại. Trong hai vai trên, vai
phát nói ra phát ngôn thể hiện ý kiến của mình thì được gọi là chủ ngôn. Chủ
ngôn (Sp1) của hành vi ngôn ngữ như đã nói có thể chuyển thành đích ngôn
(Sp2) cho nên đích ngôn cũng phải có ý định và niềm tin tương tự.
Trong một cuộc giao tiếp, chủ ngôn phải xây dựng nên hình ảnh tinh
thần về các đặc điểm, trạng thái năng lực của người nghe (Sp2), tức là phải
hiểu rõ về Sp2 để rồi căn cứ vào đó mà đề ra kế hoạch giao tiếp, lựa chọn các
hành vi ngôn ngữ thích hợp nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao. Hành vi
ngôn ngữ bao gồm hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời. Vì thế
mà chủ ngôn của hành vi ngôn ngữ khi phát ngôn đã thực hiện tất cả các hành
vi trên.
1.1.1.5. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và
hình thức diễn đạt có thể chia thành hai loại là hành vi ngôn ngữ gián tiếp và
hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Hai loại hành vi ngôn ngữ này được phân biệt với
nhau ở điểm cơ bản nhất là đích ở lời mà chúng hướng đến.
a. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Như đã biết, hành vi ở lời là những hành vi ngôn ngữ được người nói
thực hiện ngay khi nói năng. Những hành vi ngôn ngữ được thực hiện đúng
với điều kiện sử dụng, với đích ở lời của chúng được gọi là hành vi ngôn ngữ

vừa nộp học phí hết rồi với ý gián tiếp từ chối lời đề nghị của Sp2 là mình
không có tiền cho bạn vay đâu vì mình vừa nộp học phí hết rồi. Sp2 đã sử
dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp và Sp1 sẽ suy được đích ngôn mà Sp2 muốn
diễn đạt thông qua ngữ cảnh.
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp luôn có mối
quan hệ gắn bó với nhau. Muốn nhận biết được hành vi ngôn ngữ gián tiếp thì
trước hết người nghe phải nhận biết được hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Hành vi

19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




ngôn ngữ gián tiếp chính là kết quả của hoạt động suy ý từ hành vi ngôn ngữ
trực tiếp mà Sp1 phát ngôn.
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp được nhận biết thông qua các dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu thứ nhất là ngữ cảnh.
Ngữ cảnh là một dấu hiệu quan trọng để nhận ra hành vi ngôn ngữ gián
tiếp. Tuỳ thuộc vào ngữ cảnh khác nhau mà người nghe nhận biết được người
nói sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp nào.
Ví dụ: Phát ngôn Tôi bận quá sẽ được hiểu theo những cách khác nhau
tuỳ thuộc vào vai giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp. Nếu trong hoàn cảnh hai
người bạn đang trò chuyện với nhau về công việc thì phát ngôn trên chỉ thông
thường là hành vi thông báo về tình trạng công việc. Nếu trong hoàn cảnh
một người rủ bạn đi chơi thì phát ngôn trên được hiểu là hành vi từ chối.
- Dấu hiệu thứ hai là các biểu thức ngữ vi đặc thù.

ngữ học của hầu hết các nước trên thế giới đều đã, đang bàn về hội thoại.
Trong hội thoại diễn ra sự tương tác hai chiều giữa người nói và người
nghe với sự luân phiên lượt lời. Các hình thức của hội thoại gồm có: song
thoại (hội thoại diễn ra giữa hai người), tam thoại (hội thoại diễn ra giữa ba
người) và đa thoại (hội thoại diễn ra giữa nhiều người).
Mỗi cuộc hội thoại bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Mỗi
cuộc hội thoại có thể có nhiều chủ đề, mỗi chủ đề lại chứa đựng nhiều vấn đề.
Tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề làm thành một đoạn thoại. Có
những căn cứ để phân biệt các cuộc hội thoại với nhau, như: thoại trường, số
lượng nhân vật hội thoại, cương vị và tư cách của người tham gia hội thoại,
đích của hội thoại, hình thức của hội thoại và ngữ vực của hội thoại, v.v...
1.1.2.2. Vận động hội thoại
Bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu là:
- Vận động trao lời;
- Vận động trao đáp;
- Vận động tương tác.
Vận động trao lời là vận động của Sp1 (vai nói) nói lượt lời của mình
ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 (vai nghe) nhằm làm cho Sp2 nhận
biết được lượt lời được nói ra đó là dành cho Sp2. Một chuỗi các đơn vị ngôn
ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt
để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời. Trừ trường

21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Viết thuê luận văn thạc sĩ
- 0972.162.399





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status