Bước đầu tìm hiểu tổ chức chính quyền ở Thái Nguyên trong thời kì Pháp thuộc (1884- 1945) - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử dân tộc mỗi quốc gia, thì
yêu cầu cần có một chính quyền vững mạnh ổn định để duy trì trật tự xã hội,
phát triển kinh tế văn hoá đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Chính quyền có
vững mạnh, thống nhất mới tạo điều kiện cho việc phát triển mọi mặt của đất
nước. Và ngược lại, nếu nền kinh tế, chính trị, văn hoá mà phát triển tốt nó sẽ
tác động trở lại, củng cố thêm hệ thống chính quyền nhà nước trung ương.
Tháng 8-1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm
lược Việt Nam. Sau sự đầu hàng từng bước của triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt
sau khi kí hiệp ước Harmand, thực dân Pháp bắt tay ngay vào việc thiết lập nên
một hệ thống chính quyền khá chặt chẽ từ trung ương tới địa phương. Chúng
chia nước ta thành ba xứ: Nam kì thuộc địa, Trung kì bảo hộ và Bắc kì nửa bảo
hộ. Mỗi xứ có hình thức tổ chức chính quyền riêng, với những mức độ không
giống nhau để phục vụ cho công cuộc bình định và khai thác thuộc địa của
chúng.
Thái Nguyên với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh được hình
thành từ cải cách Minh Mệnh 1831
1
. Giống như nhiều địa phương khác Pháp đã
thiết lập ở Thái Nguyên nói riêng một bộ máy chính quyền thực dân bên cạnh
việc tiếp tục duy trì bộ máy quan lại địa phương làm công cụ, tay sai cho chúng.
Tuy nhiên, Thái Nguyên với đặc điểm là một tỉnh miền núi, có nhiều dân tộc cư
trú, lại là tỉnh vùng đệm giữa trung du và thượng du, có nguồn tài nguyên phong
phú, đã trở thành một địa bàn quan trọng về các mặt, đặc biệt là về mặt quân sự,
là một vị trí chiến lược mà thực dân Pháp cần nắm giữ. Qua nghiên cứu, chúng
tôi nhận thấy rằng tổ chức chính quyền ở Thái Nguyên thời Pháp thuộc đó cũng
có những nét riêng khác so với một số những địa phương trên những khía cạnh
nhất định. Đồng thời nó cũng thực hiện những chức năng không nhỏ trong việc
duy trì và ổn định trật tự xã hội với tư cách là một hệ thống chính quyền.
Xuất phát từ nhận thức trên đây, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài
1

đỡ quý báu của thầy cô giáo, bạn bè, người đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong
quá trình học tập. Nhân đây tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới sự
2
giúp đỡ quý báu đó. Báo cáo cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của một số tổ
chức, cơ quan địa phương, ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Thái Nguyên, Sở
Văn hoá thông tin tỉnh Thái Nguyên, Bảo tàng và thư viện tỉnh Thái Nguyên. Là
sinh viên tập sự nghiên cứu, chúng tôi còn hạn chế về mặt nhận thức và phương
pháp, hơn nữa đây lại là vấn đề lớn đòi hỏi sự dày công nghiên cứu và hệ thống
hoá tư liệu từ nhiều phía. Do vậy báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót,
chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ dẫn của thầy cô và bạn bè để
niên luận được hoàn thiện và chúng tôi cũng có thêm những kinh nghiệm trong
nghiên cứu và học tập.
3
PHẦN I: CHÍNH QUYỀN THÁI NGUYÊN TRƯỚC 1884
1. Đôi nét về quá trình hình thành, phát triển của tỉnh Thái Nguyên
đến trước 1884
Thái Nguyên được nhắc đến trong sử sách là mảnh đất có vị trí quan trọng
về mặt địa lý: Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi đã nhận xét “Đấy là nơi phên dậu
thứ 2 về phương bắc vậy”
2
. Năm 981, khi nhà Tống xâm lược nước ta. Vua Lê
Đại Hành đã tổ chức các đạo quân đánh tan quan xâm lược do Hầu Nhân Bảo
cầm đầu, trực tiếp cầm quân truy quét, tiêu diệt tàn quân Tống, bắt sống tướng
giặc Quách Quân Biện trên đất Vạn Nhai (Võ Nhai ngày nay). Kể từ khi nhà Lý
định đô ở Thăng Long, Thái Nguyên trở thành bức tường thành trực tiếp che chở
phía bắc kinh thành. Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1076-1077, phần
phía nam đất Thái Nguyên từng là địa đầu phòng tuyến sông Cầu, nơi diễn ra
những trận đánh ác liệt giữa quân nhà Lý với giặc Tống. Đến đầu thế kỉ XV, giặc
Minh xâm chiếm nước ta, nhân dân Thái Nguyên liên tiếp đứng dậy chống giặc.
Có thể nói, các triều đình phong kiến đã chọn Thái Nguyên là một trong những

lập ở đây một bộ máy cai trị từ trên xuống dưới, đặc biệt là số lượng đồn bốt mà
Pháp đặt ở Thái Nguyên đã chứng tỏ tầm quan trọng về vị trí của tỉnh này.
Thái Nguyên cũng có thể coi là một vùng giàu có tài nguyên. Qua các thời
đại trước, tỉnh này vẫn được người Trung Hoa cũng như người Việt coi đây là
nơi giàu khoáng sản các loại. Những người Trung Hoa trước đây đã khai thác
nhiều mỏ ở nơi này. Bước vào những năm đầu thế kỉ XX khi thực dân Pháp tiến
hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, nơi đây đã trở thành trung tâm thăm
dò, khai thác của Pháp, đặc biệt là các mỏ than, sắt để cung cấp cho nền công
nghiệp của chính quốc.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp. Cánh đồng lớn nằm ở phía nam tỉnh thuộc hai phủ Phú Bình và Phổ
Yên, chủ yếu là ruộng bậc thang bị cắt xẻ ngắt quãng nằm trong từng vùng của
huyện miền núi cho nên mang lại sản lượng không đáng kể.
Về thành phần dân tộc thì đây là tỉnh gồm nhiều dân tộc khác nhau. Ở
đồng bằng có người Kinh và người Nùng, người Thổ ở những vùng cao trung
bình, người Mán chiếm các vùng cao. Trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc khởi
nghĩa của các dân tộc thiểu số chống lại triều đình. Chính từ yếu tố đa tộc ngưòi
này, Pháp cũng đã có những chính sách cai trị riêng, thể hiện sự khôn ngoan của
mình trong việc bình định các tỉnh miền núi, nhất là ở những nơi vùng sâu vùng
xa, những địa bàn trọng yếu mà Pháp không thể không quan tâm.
Về cơ sở vật chất của tỉnh thời kì này phải kể đến hệ thống giao thông
5
đường thuỷ với hai hệ thống sông- sông Cầu và sông Công. Hệ thống đường bộ
với các tuyến đường thuộc địa số 3, các con đường hàng tỉnh nối các huyện,
châu trong tỉnh và giữa tỉnh Thái Nguyên với các tỉnh giáp gianh. Ngoài ra phải
kể đến hệ thống đường sắt và những phương tiện vận tải khác. Hệ thống giao
thông này được Pháp sử dụng một cách có hiệu quả trong việc bình định và khai
thác tài nguyên thiên nhiên.
Như vậy, Thái Nguyên hội tụ nhiều điều kiện đặc biệt hơn so với các địa
phương khác trong cả nước. Là tỉnh có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự

đến khi vụ việc bị phát giác, Minh Mệnh giao cho Bắc Thành tra nghị, đều phải
cách chức
6
.
Địa bàn Thái Nguyên được chính thức gọi là tỉnh Thái Nguyên kể từ năm
1831 dưới triều vua Minh Mạng. Từ tháng 10.1831, trên toàn quốc, trừ Thừa
Thiên phủ ra, cả nước có 30 tỉnh. Bỏ các chức Tổng trấn, Trấn thủ, Tham trấn,
thay bằng các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh. Thái
Nguyên nằm trong liên tỉnh Ninh- Thái (Bắc Ninh- Thái Nguyên), Tổng đốc
Ninh- Thái là Thống chế Nguyễn Đình Phổ đặt tại Từ Sơn- Bắc Ninh. Thự lí
Tuần phủ Thái Nguyên là Hiệp trấn Trần Thiên Tải, Án sát là Tham hiệp
Nguyễn Dư và Lãnh binh Thái Nguyên là Vệ uý Nguyễn Văn Các
7
.
Chức nhiệm cuả quan đầu tỉnh Thái Nguyên được quy định cụ thể:
Bố chính sứ giữ việc thuế khoá, tài chính toàn hạt. Triều đình có ân trạch,
chính lệnh gì ban xuống thì truyền đạt lại cho các người phần việc.
Án sát giữ việc kiện tụng hình án trong toàn hạt, chấn hưng phong hoá, kỉ
cương, trừng thanh các quan lại, kiêm coi công việc chạy trạm trong hạt, khi có
những việc trọng đại, hai ty (Bố chánh và Án sát) hội đồng bàn bạc rồi trình với
Tổng đốc hoặc Tuần phủ mà làm
8
.
Năm 1835 nhà Nguyễn bắt đầu đặt chức Lưu quan ở Thái Nguyên thay
cho Thổ quan địa phương. Chính thức bổ nhiệm quan lại của triều đình lên cai
trị trực tiếp các châu, huyện xa xôi. Đây là chính sách đặc biệt mà Minh Mệnh
thi hành ở “địa thế xa vắng, thổ ty không tốt, dễ hay nổi loạn”, ở địa bàn cư trú
của các dân tộc thiểu số ở phía Bắc, trong đó có Thái Nguyên. Thái Nguyên là
tỉnh mà có đồng bào dân tộc thiểu số tập trung đông, đặc biệt là người Tày,
Nùng, Mán…và vì Thổ trưởng ở vùng này có thế lực rất mạnh, luôn có xu

3 vùng, bao gồm cả Thái Nguyên.
2.1. Sự thay đổi về cương vực hành chính của Thái Nguyên dưới thời
Pháp thuộc
Từ năm 1835 tỉnh Thái Nguyên gồm 3 phủ, 2 châu 9 huyện, được phân bố
như sau:
+ Phủ Phú Bình có 5 huyện: Tư Nông, Phổ Yên, Đồng Hỉ, Vũ Nhai, Bình
Xuyên
+ Phủ Tòng Hoá có 3 huyện và 1 châu: huyện Đại Từ, Văn Lãng, Phú
Lương và châu Định (sau đổi là Định Hoá)
+ Phủ Thông Hoá có 1 huyện và 1 châu: huyện Cảm Hoá và châu Bạch
Thông.
Ở Thái Nguyên, thời kì Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã có những
điều chỉnh về mặt hành chính cùng với một số những tỉnh khác ở Bắc Kì để
phục vụ cho chính sách vừa bình định, vừa thống trị và khai thác của chúng.
20-10-1890, huyện Bình Xuyên thuộc phủ Phú Bình bị tách khỏi Thái
Nguyên để nhập vào đạo Vĩnh Yên
9-9-1981 toàn bộ phủ Tòng Hoá và 4 huyện còn lại của phủ Phú Bình tách
khỏi tỉnh Thái Nguyên để sát nhập vào Tiểu khu Thái Nguyên là một trong 3
tiểu quân khu thuộc Đạo Quan binh I Phả Lại.
Cùng ngày, châu Bạch Thông (thuộc phủ Thông Hoá) bị tách khỏi tỉnh
Thái Nguyên để sát nhập vàp tiểu Quân khu Lạng Sơn, đồng thời huyện Cảm
Hoá bị sát nhập vào Tiểu Quân khu Cao Bằng. Cả hai tiểu quân khu này đều
thuộc Đạo Quan binh II Lạng Sơn. Tổ chức Đạo quan binh là hình thức kết hợp
chặt chẽ chính quyền quân sự với chính quyền dân sự. Nó cho phép người đứng
đầu có toàn quyền huy động mọi khả năng của địa phương mình vào việc bình
định, chống lại hành động nổi dậy của mọi lực lượng nổi dậy. Việc sát nhập
nhiều vùng của Thái Nguyên vào các Đạo quan binh khiến cho việc bình định
9
các vùng này trở nên dễ dàng hơn.
10-10-1892, chính quyền thực dân lấy lại phủ Tòng Hoá, cả phủ Phú Bình

5. huyện Phú Lương 7 21
10
Sở văn hoá thông tin tỉnh Thái Nguyên, Khởi nghĩa Thái Nguyên 80 năm nhìn lại, sđd tr 37
10
6. châu Vũ Nhai 6 29
7. châu Văn Lãng 4 13
8. châu Định Hoá 8 27
Trong những năm 20, châu Văn Lãng bị sát nhập vào huyện Đại Từ
11
. Cho
tới trước cách mạng tháng Tám, Thái Nguyên gồm 2 phủ, 3 huyện và 2 châu
12
Phủ, Huyện, Châu Số tổng Số làng bản
1. phủ Phú Bình 8 48
2. phủ Phổ Yên 7 38
3. huyện Đồng Hỷ 6 34
4. huyện Đại Từ 9 38
5. huyện Phú Lương 7 21
6. châu Vũ Nhai 6 23
7. châu Định Hoá 8 30
1.2. Bộ máy cai trị thực dân ở Thái Nguyên
Bộ máy cai trị thực dân Pháp ở Thái Nguyên được thiết lập theo tinh thần
Hiệp ước 1884. Cụ thể là vào những năm đầu thế kỉ, bộ máy cai trị ở Thái
Nguyên được phân làm hai ngạch: Viên chức Pháp và quan lại người Việt.
a. Hệ thống quan lại người Pháp
- 1 Công sứ, thuộc ngạch quan cai trị bậc 3, làm chủ tỉnh
13
- 1 Phó công sứ, thuộc ngạch quan cai trị hạng 4
- 2 Tham tá
- 3 Thanh tra lính khố xanh

các tổ chức phụ tá phục vụ đắc lực trong việc bình ổn trật tự xã hội và đẩy mạnh
quá trình khai thác bóc lột.
* Toà công sứ:
Giúp việc cho Công sứ Pháp có Toà Công sứ. Toà công sứ Thái Nguyên là
lỵ sở của cơ quan cai trị cao nhất của tỉnh do một viên công sứ đứng đầu. Toà
công sứ thường xuyên có các toán lính khố xanh bảo vệ bên ngoài. Bảo vệ bên
trong là một số lính Pháp và giúp việc là các nhân viên toà Công sứ.
* Hội đồng hàng tỉnh:
Được thành lập chính thức theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương
ngày 19.3.1913
14
. Hội đồng hàng tỉnh ở Thái Nguyên có trách nhiệm góp ý kiến
với chính quyền các vấn đề như: chi phí các vấn đề có tính chất kinh tế, xã hội
về việc phân chia các khu vực hành chính của cấp phủ, huyện, châu, xã…song
mọi “thỉnh nguyện” có tính chất chính trị đều tuyệt đối cấm.
* Hệ thống toà án:
14
Dương Kinh Quốc, Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945, NXB KH&XH,
1988, sđd tr 135
12
Tư pháp của người Pháp gồm có: Toà án vi cảnh, Toà án trị an có quyền
mở rộng, Toà án thương sự (thương mại pháp đình). Các toà án này có Công sứ
kiêm chánh án chủ toạ, và phó sứ kiêm phó Chánh án giúp việc. Các toà án này
có trách nhiệm trong phạm vi tỉnh và giải quyết các sự việc liên quan đến người
Pháp trong phạm vi thẩm quyền, không có biện lý (công tố uỷ viên). Viên Chánh
án có quyền nới rộng làm luôn việc của biện lý trong các vụ án hình sự và
chuyển giao hồ sơ cho phòng luận tội (công tố viên) khép án
15
.
Tư pháp bản xứ gồm có: Toà án cấp nhất, viên Công sứ có phó sứ kiêm

. Các nhà tù này đã trở
thành nơi giam giữ nhiều chiến sĩ yêu nước đã tham gia cuộc khởi nghĩa Binh
lính Thái Nguyên (1917) và khởi nghĩa Yên Bái (1930). Hệ thống nhà tù, một
công cụ thực dân Pháp để đàn áp, tra tấn những người nổi dậy, nhưng những
người tù binh cũng luôn chứa đựng tinh thần phản kháng. Ngày 27- 28/8/1922,
tại nhà tù chợ Chu nổ ra cuộc nổi dậy của những người tù, họ phá nhà lao, chiếm
bưu điện và cướp vũ khí giặc, gây cho giặc nhiều tổn thất.
* Hệ thống lô cốt:
Cùng với hệ thống nhà tù, ngay ở thời điểm đầu thế kỉ XX, giới cầm
quyền thực dân đã cho xây dựng nhiều lô cốt, mà chủ yếu là ở địa bàn Chợ Chu
và Chợ Mới. Tư liệu cho biết
18
, ở địa bàn Chợ Chu và Đại Từ đã có 5 lô cốt đặt
tại các điểm: Chợ Chu, Hùng Sơn, Cù Vân, Hà Lam, Quảng Nạp. Ở Chợ Mới có
4 lô cốt đặt tại: Chợ Mới, Đồn Du, Giang Tiên, Ban Mua. Các lô cốt này nằm
chủ yếu bảo vệ các tuyến đường giao thông nội tỉnh và liên tỉnh.
Hệ thống quan lại thực dân ở Thái Nguyên bao gồm cả Công sứ và phó
Công sứ chứng tỏ đây là một tỉnh quan trọng. Chính quyền thực dân đã đặt thêm
ở đây chức phó Công sứ để cùng Công sứ nắm quyền cai trị trong tỉnh. Công sứ
có quyền quyết định và điều hành mọi hoạt động của các cơ quan trực thuộc và
các cơ quan chính quyền cấp dưới, kể cả lực lượng quân sự đồn trú trong tỉnh.
Trên tất cả những hệ thống công sở, trong đó có trại lính, sở công chính,
bưu điện, tài chính, kinh tế (đồn điền) đều có sự có mặt của người Pháp cai quản
và đứng đầu. Đặc biệt Pháp thiết lập ở đây một hệ thống toà án ở các cấp để chủ
yếu xét xử những người phạm tội.
Trong số những vị trí mà Pháp cài người của mình, thì quan Pháp ở Trại
lính khố xanh là nhiều nhất (8 viên). Điều này chứng tỏ Thái Nguyên là tỉnh có
số lượng đồn lính khố xanh vào loại nhiều nhất và lớn nhất Bắc Kì tại đây, Pháp
cũng cử những tướng giỏi để nắm giữ trách nhiệm chỉ huy những trại lính khố
xanh này.

coi là những đơn vị hành chính cấp trung gian giữa tỉnh và huyện (có một viên
quan mang hàm Tri phủ, có Giáo thụ, Thông ngôn, Lại mục). Pháp chia ra
những trung tâm hành chính để dễ bề cai trị, đồng thời Pháp cũng muốn tăng
cường sự có mặt của mình tại những cấp độ hành chính dưới tỉnh ở những địa
bàn quan trọng về mặt chiến lược, từ đây có thể dễ dàng cai quản hay mở rộng
quyền kiểm soát trực tiếp ở Thái Nguyên cũng như các vùng xung quanh.
b. Hệ thống quan lại người Việt
19
Xem phụ lục số 2
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status