KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ THỊ TRƯỜNG
TIÊU THỤ CÁC SẢN PHẨM TỪ CÂY SEN TẠI MỘT SỐ
TỈNH PHÍA BẮC VIỆT NAM
Hoàng Thị Nga1, Lã Tuấn Nghĩa1, Nguyễn Thị Ngọc Huệ2; Nguyễn Thị Thúy Hằng1, Lê Văn
Tú1, Trần Thị Ánh Nguyệt1, Nguyễn Phùng Hà1, Nguyễn Thị Hoa1, Trương Thị Hòa1.
TÓM TẮT
Kết quả điều tra 60 hộ gia đình tại 23 xã, thị trấn của 6 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải
Dương và Hưng Yên cho thấy: diện tích trồng sen đạt 356ha, có 21 nguồn gen cây sen hiện đang trồng. Tên các
giống sen được người dân địa phương gọi rất thân mật, gần gũi gắn liền với các đặc điểm nông sinh học của giống
hay nguồn gốc xuất xứ của chúng. Tên gọi các giống sen gắn với đặc điểm màu sắc cánh hoa (sen Hồng, sen cánh
Hồng và sen Trắng); đặc điểm về màu sắc, bề mặt của gương sen (sen Bát xanh, sen Bát tía và sen Mặt bằng); đặc
điểm hình dạng hạt (sen Lai hạt dài, sen Dé hạt tròn, hay sen Trâu); địa danh, nguồn gốc xuất xứ (sen Tây Hồ); thiên
nhiên (sen Cỏ). Phương thức khai thác sản phẩm từ cây sen cũng khác nhau ở mỗi địa phương. Gương sen xanh thu
hoạch chủ yếu tại Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên. Sen chè thu hoạch chủ yếu tại Ba Vì-Hà Nội, Hải Dương và
Hưng Yên. Sen lão thu hoạch tại Hà Nam, Hải Dương và Hưng Yên. Hoa sen ướp chè thu hoạch ở Tây Hồ-Hà Nội.
Có 21 sản phẩm khác nhau từ cây sen được tiêu thụ trên thị trường. Chế biến sen lão chỉ có tại cơ sở sản xuất của
Hưng Yên và sản phẩm sen trắng mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế nhất trong các sản phẩm từ sen lão. Cây sen ít
bị các loại sâu hại tấn công, có thể trồng trên đất kém dinh dưỡng, thời tiết hạn, ngập úng ít ảnh hưởng đến cây sen,
tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, giá bán ổn định, có hiệu quả kinh tế là những điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất
cây sen. Tuy nhiên người trồng sen chưa được tập huấn về kỹ thuật, thiếu các giống tốt, giống phù hợp, thiếu công
nghệ chế biến sen chè... là những hạn chế trong sản xuất cây sen. Vì vậy, đầu tư cho nghiên cứu chọn tạo giống; đầu
tư nghiên cứu công nghệ chế biến sản phẩm và nghiên cứu thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm từ cây sen là
những vấn đề cần được thực hiện để hỗ trợ cho phát triển cây sen ổn định.
Từ khóa: điều tra, thị trường tiêu thụ, cây sen, sản phẩm từ cây sen
I. MỞ ĐẦU:
Ở nước ta cây sen đã được trồng nhiều suốt từ Bắc vào Nam. Các giống sen hiện đang
được trồng ngoài sản xuất chủ yếu là các giống địa phương, một số ít là nhập nội hoặc giống
chưa rõ nguồn gốc. Mặc dù cây sen được người dân trồng và sử dụng khá rộng rãi, phổ biến
nhưng các nội dung nghiên cứu về cây sen chưa nhiều. Việc nghiên cứu trên cây sen chủ yếu
được tiến hành tại một số tỉnh ở phía Nam. Các nghiên cứu đó mới chỉ tập trung vào kỹ thuật
- Tiêu chí chọn hộ điều tra: 60 hộ nông dân là người trực tiếp trồng cây sen, người bán buôn, bán
lẻ các sản phẩm từ cây sen và 1 cơ sở sản xuất chế biến hạt sen lão đã được phỏng vấn tại các
điểm điều tra.
- Tiêu chí điều tra về tình hình sản xuất cây hoa sen bao gồm: tên các giống sen hiện trồng ngoài
sản xuất, diện tích trồng cây sen, số hộ tham gia trồng cây sen, năng suất của các sản phẩm được
khai thác từ cây sen và các kiến thức bản địa liên quan tại các điểm tiến hành điều tra.
- Tiêu chí điều tra về thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây sen: các loại sản phẩm được khai
thác từ cây sen, giá thị trường của từng loại sản phẩm được tiêu thụ.
2. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin thứ cấp về khí tượng nông nghiệp, đất đai và điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội của các điểm nghiên cứu từ các phòng, ban ngành liên quan như sở, phòng Nông nghiệp
và PTNT các tỉnh, Trung tâm khuyến nông, các phòng thống kê, Trung tâm dự báo khí tượng
thủy văn ...
Những dữ liệu này được tổng hợp và phân tích dựa trên các tài liệu, báo cáo tổng kết hàng
năm về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại các điểm nghiên cứu. Đồng thời
tham khảo số liệu trên sách báo, các trang web và các báo cáo khoa học có liên quan.
- Thu thập số liệu sơ cấp: Được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp có sự tham gia
của người dân.
- Phân tích hệ thống, phân tích SWOT để đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu của sản xuất cây sen
tại đồng bằng sông Hồng.
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu: gồm 23 xã, thị trấn của 11 huyện thuộc 6 tỉnh Bắc Giang,
Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hưng Yên và Hải Dương.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả điều tra tình hình sản xuất cây sen tại 6 tỉnh phía Bắc
1.1. Diện tích và cơ cấu các giống sen hiện trồng tại các điểm điều tra
Kết quả điều tra tình hình sản xuất cây hoa sen tại 6 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nam,
Hà Nội, Hải Dương và Hưng Yên được trình bày trong bảng 1.
* Tại Bắc Giang: Xã Mai Đình huyện Hiệp Hòa có diện tích trồng sen đạt 12,5ha với 4 hộ tham
gia, có 3 giống sen còn trồng ngoài sản xuất: sen Bát xanh, sen Bát tía và sen Trâu.
* Tại Bắc Ninh: Diện tích trồng sen đạt 79,2ha với 15 hộ tham gia với 6 giống sen, tại 8 xã:
Số hộ tham gia
trồng sen
Bắc Giang
Mai Đình-Hiệp Hòa
Bắc Ninh
Đông Khê-Yên Phong
Hòa Tiến-Yên Phong
Hà Mãn-Thuận Thành
Hoài Thượng-Thuận Thành
Thị trần Hồ-Thuận Thành
Gia Đông-Thuận Thành
Mão Điền-Thuận Thành
Trạm Lộ-Thuận Thành
3
Sen Trâu, Sen Bát tía, Sen Bát xanh
6
Sen Hồng
Sen Hồng
Sen Hồng, Sen Cảnh
Sen Bát xanh, sen Bát tía
Sen Bát xanh, sen Bát tía
Sen Bát xanh, Sen Bát tía
Sen Bát xanh, sen Bát tía
Sen Lai, Sen Cỏ
4
4
5
Sen Lai, Sen Ta, Sen Ngố
1
8
2
7,2
88,5
7,5
Mộc Nam-Duy Tiên
Sen Lai, Sen Ngố, Sen Cảnh
5
51,0
Chuyên Ngoại-Duy Tiên
Sen Lai, Sen cánh hồng
1
30,0
Hà Nội
Sơn Đà-Ba Vì
Nhật Tân-Tây Hồ
7
5
2
10
2
2
3
1
1
1
60
96,0
80,0
16,0
39,5
24,5
15,0
40,3
8,7
3,8
9,8
10,0
6,0
2,0
356,0
* Tại Hà Nội: Kết quả điều tra ở 2 điểm của thành phố Hà Nội cho thấy tại mỗi điểm điều kiện
canh tác rất khác nhau từ giống sen cho tới mục đích sử dụng. Tổng diện tích trồng sen tại 2
điểm điều tra của thành phố Hà Nội đạt 96 ha: xã Sơn Đà-Ba Vì trồng các giống sen lấy hạt với
người dân không trồng bổ sung lại những diện tích khuyết thiếu sen của vụ trước. Tuy nhiên tại
Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương và Hưng Yên đều trồng bổ sung cây sen ở vụ thứ hai. Người dân
cho rằng, khi trồng cấy bổ sung sẽ giúp mật độ đảm bảo, phát triển tốt, cho năng suất ổn định.
Thời điểm ra hoa kéo dài từ cuối tháng 5 đến hết tháng 8, vì vậy thời gian thu hoạch
gương sen cũng kéo dài từ tháng 7 đến tháng 8. Riêng các địa phương thu sen lão thì thời gian
thu hoạch còn kéo dài sang tận tháng 9.
Phân bón: Người dân trồng sen thường không sử dụng phân bón bổ sung khi canh tác cây
sen. Tuy nhiên theo kết quả điều tra: khi diện tích sen mọc kém, mật độ cây thưa người dân sử
dụng 25kg NPK tổng hợp/1 sào để bón cho cây phát triển thuận lợi hơn. Tại Bắc Giang và Bắc
Ninh người dân hoàn toàn không bón phân cho cây sen.
Vệ sinh đồng ruộng: Đối với những địa phương nơi trồng sen kết hợp với thả cá để tăng
thu nhập thì cuối vụ sen (tháng 11-12) người dân thu hoạch cá, kết hợp vệ sinh ao đầm khử trùng
tiêu độc để giảm nguy cơ dịch bệnh cho cá, đồng thời tạo điều kiện cho cây sen phát triển tốt hơn
vào vụ sau. Thông thường bón từ 15-20kg vột bột/sào để khử trùng ao đầm.
Bảng 2: Kết quả điều tra về phương thức canh tác cây sen
STT
Địa điểm
Vật liệu trồng cây
sen
Từ năm thứ 2
Thời gian
ra hoa
Thời điểm
thu gương
Tháng 7-8
Không
Không
2
Bắc Ninh
Ngó giống, củ giống
Tháng 7-8
Không
Không
3
Hà Nam
Ngó giống,
Tháng 7-9
NPK tổng
hợp
NPK tổng
Trồng bổ sung
4
Tháng 7-8
Tháng 7-9
Tháng 7-8
Để tự nhiên
Phơi ao, vãi
vôi
1.3. Các sản phẩm từ cây sen và hiệu quả kinh tế
Các sản phẩm chính từ cây sen, năng suất từng loại sản phẩm trình bày trong bảng 3.
Gương sen xanh là sản phẩm thu hoạch chính tại Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên.
Năng suất gương sen xanh dao động từ 1.200-1.600 gương/sào, tùy thuộc vào từng giống sen,
điều kiện canh tác của địa phương và quá trình chăm sóc, thu hoạch. Năng suất gương sen xanh
đạt cao nhất tại Bắc Ninh với 1.500-1.600gương/sào, tiếp đến tại Bắc Giang đạt
1.400-1.500gương/sào và Hưng Yên đạt 1.200-1.400 gương/sào.
Sen chè là sản phẩm thu hoạch chính tại Ba Vì-Hà Nội, Hải Dương và Hưng Yên. Năng
suất sen chè dao động khá lớn, tại Ba Vì-Hà Nội đạt 60-65kg/sào, tại Hưng Yên đạt 50-60kg/sào,
riêng tại Hải Dương đạt được năng suất gấp đôi so với Ba vì và Hưng Yên, đạt 100-120kg/sào.
Kết quả điều tra cũng cho thấy, năng suất gương sen, hạt sen phụ thuộc nhiều vào điều
kiện thời tiết. Trong vụ sen nếu bị ảnh hưởng của bão hoặc gió tây thì sen cho năng suất kém
thậm chí không cho thu hoạch. Ngoài ra vấn đề chuột phá hoại hoa sen, gương sen, hạt sen là vấn
đề lớn gặp phải cho người trồng sen, đặc biệt rất khó kiểm soát chuột trong điều kiện trồng sen
trên ruộng hay đầm trũng. Có thể đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sai khác
lớn về năng suất sen chè tại các vùng trồng sen khác nhau. Trong quá trình trồng sen nếu chăm
Bắc Ninh
Gương sen xanh
1.500-1.600 gương/sào
3
4
Hà Nam
Hà Nội
40-60kg/sào
60-65kg/sào
1.500-2.000 hoa/sào
5
Hải Dương
6
Hưng Yên
Sen lão
Sen chè,
Hoa sen ướp
chè
Sen lão,
Sen chè
10.000.000
Hoa sen
3.300.000
Hoa sen làm cảnh
4.050.000
2. Kết quả điều tra về thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây sen
Có 21 loại sản phẩm khác nhau từ cây sen được đưa ra thị trường để tiêu thụ (bảng 4).
Gương sen xanh, hạt sen xanh: được dùng để ăn tươi, tại Bắc Giang và Bắc Ninh giá bán
từ 25.000-30.000đ/10 gương và từ 40.000-50.000đ/kg hạt xanh.
Hạt sen chè: được bán ở 2 dạng là sen chè chưa tách vỏ hạt và sen chè đã tách vỏ hạt. Hạt
sen chè chưa tách vỏ được người trồng sen xuất trực tiếp cho các thương lái để tiêu thụ. Giá bán
của sản phẩm sen chè chưa tách vỏ dao động từ 30.000-50.000đ/kg tùy từng thời điểm: giá từ
45.000-50.000đ/kg (đầu vụ và cuối vụ), 30.000đ/kg (chính vụ). Sen chè đã tách vỏ giá bán dao
động từ 100.000-120.000đ/kg. Tuy nhiên sản phẩm này không bảo quản được lâu, với đều kiện
thời tiết nắng nóng của mùa hè (tháng 6 đến tháng 8 âm lịch) hạt sen chè bị mất nước nhanh, chất
lượng giảm rõ rệt: giảm độ ngọt và giảm hương vị. Theo kết quả điều tra cho biết: sản phẩm sen
chè tách vỏ chỉ có thể tiêu thụ trong vòng 1-2 ngày. Đây là vấn đề khó khăn trong quá trình bảo
quản hạt sen tươi.
Sen lão: Sản phẩm sen lão được thu mua chủ yếu tại các cơ sở chế biến sen khô (sen
trắng) tại Hưng Yên. Giá sen lão dao động khác nhau giữa các vùng sản xuất sen: sen lão có
nguồn gốc từ trong Nam hoặc được nhập khẩu từ Lào, Campuchia có giá từ 20.000-25.000đ/kg;
ngược lại sen lão có nguồn gốc trồng tại miền Bắc giá rất cao từ 40.000-60.000đ/kg. Như vậy giá
sen lão được trồng tại miền Bắc gấp đôi thậm chí gần gấp 3 lần so với sen lão có nguồn gốc từ
miền Nam hoặc nhập khẩu. Nên sản phẩm sen trắng có nguồn gốc từ sen lão miền Bắc cũng có
Hình 1: Một số hình ảnh về hoạt động điều tra tình hình sản xuất, thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây sen
6
Bảng 4. Kết quả điều tra thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây sen, 2012-2013
STT
Các sản phẩm
từ cây sen
Giá bán
1
2
3
Gương sen xanh
Hạt sen xanh
Hạt sen chè chưa tách vỏ
4
5
8
9
10
11
12
Rượu tua sen
Rượu hạt sen
6
7
25.000-30.000đ/10 gương
40.000-50.000đ/kg
30.000-50.000/1kg
Thời gian xuất hiện
của sản phẩm
trên thị trường
3 tháng (Tháng 6-8)
3 tháng (Tháng 6-8)
3 tháng (Tháng 6-8)
Địa điểm phổ biến
tiêu thụ sản phẩm
Điểm trồng sen
Điểm trồng sen
Nơi sản xuất - tiêu thụ
100.000 -120.000đ/1kg
20.000-25.000đ/kg
3 tháng (Tháng 6-8)
6tháng (Tháng 7-12)
Nơi sản xuất - tiêu thụ
Quanh năm
4 tháng (Tháng 5-8)
3 tháng (Tháng 6-8)
3 tháng (Tháng 6-8)
3 tháng (Tháng 6-8)
Nơi sản xuất - tiêu thụ
Nơi sản xuất - tiêu thụ
Nơi sản xuất - tiêu thụ
Nơi sản xuất - tiêu thụ
Điểm trồng sen
Điểm trồng sen
Tây Hồ-Hà Nội
Tây Hồ-Hà Nội
3 tháng (Tháng 6-8)
Quanh năm
4 tháng (tháng 5-8)
4 tháng (tháng 1-4)
Hiếm gặp
Hiếm gặp
Cơ sở sản xuất chè sen
Nơi sản xuất - tiêu thụ
Điểm trồng sen
Điểm trồng sen
Tây Hồ-Hà Nội
Tây Hồ-Hà Nội
Gạo sen, chè sen Tây Hồ: Gạo sen dùng ướp chè, giá bán từ 2.500.000-3.000.000đ/kg. Vì
nhỏ, dài, còn hạt sen lão có nguồn gốc ở miền Bắc thì tròn và kích thước hạt to hơn.
Bước 2. Tách vỏ hạt sen lão (chặt hạt): Lớp vỏ cứng bên ngoài sẽ được máy tách ra khỏi phần
thịt hạt. Vỏ hạt sen lão sẽ được tách ra mà không làm ảnh hưởng tới phần thịt hạt bên trong.
Bước 3: Sàng lọc lại sen lão: Nhằm lọc ra những hạt sen lão chưa được tách vỏ. Bước này sử
dụng máy sàng lọc hạt sen lão hoặc sử dụng nhân lực thủ công.
Bước 4: Loại bỏ lớp vỏ lụa: Vỏ lụa của hạt sen thường có màu nâu nhạt và có độ chát nhất định.
Nhờ quá trình ma sát mà lớp vỏ lụa bị mài mòn, làm hạt sáng trắng hơn.
Bước 5: Loại bỏ tâm sen: Hạt sen được ngâm nước, đãi như đãi gạo, để ráo nước, cắt bỏ 2 đầu
của phần thịt hạt, dùng kim nhọn đẩy phần tâm sen ra ngoài.
Bước 6: Sấy khô: Hạt tiếp tục được sấy khô xuống độ ẩm cần thiết để tránh bị nấm tấn công.
Bước 7: Làm sạch hạt: các tạp chất còn lại trong quá trình chế biến (tâm sen, hạt vỡ, hạt chất
lượng kém...) sẽ được loại bỏ để đảm bảo độ sạch và chất lượng hạt sen trắng.
Bước 8: Đóng gói hạt sen trắng: Là khâu cuối cùng của công đoạn chế biến sen trắng. Bước này
giữ cho hạt sen khô bảo quản được tốt trước khi đến tay người tiêu dùng.
Quá trình chế biến hạt sen lão tạo ra các sản phẩm: sen trắng, tâm sen, bột hạt sen, vỏ
cứng của hạt. Nhờ sự hỗ trợ của máy móc hạt sen lão được chế biến ra sen trắng với hiệu suất từ
60-70%. Đồng thời sen trắng là sản phẩm có giá trị và mang lại hiệu quả cao nhất so với các sản
phẩm khác được chế biến từ sen lão.
1. Phân loại hạt sen lão
2.Tách vỏ hạt sen lão
3. Sàng lọc lại hạt sen lão
4. Loại bỏ lớp vỏ lụa
5. Loại bỏ tâm sen
6. Sấy khô hạt
Các địa điểm được điều tra là các vùng có truyền thống trồng sen lâu đời, nổi tiếng về
chất lượng thơm ngon. Ngoài ra, cây sen thích nghi với điều kiện trồng có nước, tốc độ sinh
trưởng nhanh, khả năng phát tán lớn là các yếu tố thuận lợi cho mở rộng sản xuất cây sen.
Bảng 5. Các yếu tố thuận lợi và hạn chế trong sản xuất cây sen tại các điểm điều tra
Các yếu tố
1. Yếu tố sinh học
Thiếu giống tốt, giống phù hợp
Sâu xanh ăn lá
Sâu xám
Rệp chích nhựa thân lá
Bệnh thối thân do nấm
2. Yếu tố phi sinh học
Úng ngập (mưa nhiều)
Hạn
Bão
Gió tây
Cá (chim, trắm)
Thiếu phân bón NPK
Đất trồng nghèo dinh dưỡng
Không trồng bổ sung lại hàng năm
3. Yếu tố kinh tế, xã hội
Thiếu vốn đầu tư (giống, máy móc)
Thiếu tập huấn kỹ thuật mới
Thiếu công nghệ chế biến sen lão
Thiếu công nghệ chế biến sen chè
Thiếu lao động
Thiếu hệ thống cung ứng giống
Tiêu thụ các sản phẩm khó khăn
Giá bán các sản phẩm không ổn định
Hiệu quả kinh tế thấp
0,0
0,0
12,5
37,5
12,5
6,3
20,0
0,0
37,5
42,8
0,0
0,0
0,0
14,3
60,0
0,0
0,0
0,0
10,0
39,5
2,3
5,4
3,2
23,2
0,0
100,0
31,3
25,0
50,0
0,0
14,3
100,0
100,0
100,0
28,6
28,6
14,3
10,0
10,0
100,0
100,0
100
0,0
10,0
10,0
2,8
15,7
88,3
86,7
90,6
14,2
19,1
37,5
50,0
100,0
50,0
100,0
25,0
50,0
0,0
0,0
12,5
42,9
100,0
57,1
100,0
14,3
71,4
0,0
14,3
14,3
40,0
100,0
0,0
100,0
30,0
70,0
10,0
10
đầu tư giống, máy móc cũng là yêu cầu cấp thiết của sản xuất, với tỷ lệ ghi nhận đạt 43,4%. Đặc
biệt là thiếu tập huấn kỹ thuật trong sản xuất cây sen, thiếu công nghệ chế biến sen chè được ghi
nhận với tỷ lệ 100% tại các vùng trồng sen. Gương sen xanh, hạt sen xanh và hạt sen chè đã tách
vỏ sau khi thu hoạch cần được tiêu thụ càng nhanh càng tốt, nếu để lâu chất lượng hạt sẽ giảm rõ
rệt và không tiêu thụ được. Điều này đòi hỏi cần có công nghệ chế biến hạt sen chè, sen xanh
càng trở lên cần thiết. Thiếu công nghệ chế biến sen lão được ghi nhận với tỷ lệ là 67,9%.
5. Đề xuất hướng khắc phục tồn tại, khó khăn trong sản xuất
Từ kết quả điều tra ở trên chúng tôi đưa ra một số đề xuất dưới đây nhằm khắc phục tồn
tại và những khó khăn trong sản xuất cây sen.
- Đầu tư cho nghiên cứu về cây sen: thực tế đòi hỏi cần có các giống sen tốt, giống sen phù hợp
cho từng vùng sản xuất. Trước tiên là đầu tư cho công tác điều tra, thu thập bảo tồn các nguồn
gen cây sen hiện còn ở ngoài sản xuất. Tiếp đến đầu tư cho công tác nghiên cứu mô tả đánh giá
các nguồn gen hoa sen từ đó phân lập các nguồn gen cây sen theo mục đích sử dụng chính của
chúng. Điều này phục vụ tốt cho công tác bảo tồn nguồn gen và chọn tạo giống sen. Tập huấn về
kỹ thuật cho người dân nhằm nâng cao kiến thức hiểu biết về sản xuất cây sen.
- Nghiên cứu công nghệ chế biến: hiện nay khâu chế biến hạt sen lão mới phát triển tại thành phố
Hưng Yên, cần được nhân rộng ra các địa phương trồng sen khác để giảm chi phí sản xuất, tăng
hiệu quả kinh tế. Công nghệ chế biến sen tươi (sen chè) hiện nay chưa có, việc tách vỏ hạt sen
chè hoàn toàn thủ công, năng suất lao động thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế giảm.
- Hướng xuất khẩu sản phẩm từ cây sen: Các sản phẩm củ sen, ngó sen, hạt sen được thị trường
Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc... rất ưa chuộng. Đầu tư cho xuất khẩu các
sản phẩm từ cây sen sẽ là định hướng lâu dài cho phát triển cây sen ở nước ta.
IV. KẾT LUẬN
* Kết luận:
Kết quả điều tra tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây sen tại 6
tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương và Hưng Yên cho thấy:
- Diện tích trồng sen của 60 hộ gia đình tại 23 xã thị trấn của 6 tỉnh đạt 356ha, diện tích trồng sen
lớn nhất đạt 96ha tại Hà Nội, tiếp đến là Hà Nam 88,5ha, Bắc Ninh 79,2ha, Hưng Yên 40,3ha,
Hải Dương 39,5ha và Bắc Giang 12,5ha. Có 21 giống sen hiện đang được trồng, tên các giống
sen gắn với đặc điểm của giống (sen Hồng, sen Trắng, sen Bát xanh, sen Bát tía, sen Mặt bằng)
nông thôn tháng 12 năm 2012, trang:126 - 130.
4. Hoàng Thị Nga, Lã Tuấn Nghĩa, Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Phùng Hà, Trương Thị
Hòa, Nguyễn Thị Hoa (2013), Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống hoa sen Tây Hồ,
N05(44), 2013 Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Việt Nam, trang: 72 - 78.
5. Đài truyền hình Việt nam VTV1 />Keywords: investigation, lotus, lotus products,production.
11