LUẬN VĂN: Phân tích quá trình lựa chọn Việt Nam làm địa điểm sản xuất và thị trường tiêu thụ của Yamaha-motor - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Phân tích quá trình lựa chọn Việt Nam
làm địa điểm sản xuất và thị trường tiêu
thụ của Yamaha-motor
LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây tình hình chính trị - xã hội Việt Nam tiếp tục ổn định,
nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh. Với việc triển khai các luật mới, thủ tục đầu tư
được đơn giản hóa, thể chế kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện, môi trường đầu tư,
kinh doanh ngày càng thông thoáng và minh bạch. Nhờ đó, hoạt động đầu tư nước ngoài đã
gia tăng đáng kể và năm 2007 vốn đăng ký đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Được đánh
giá là địa điêm sản xuất hấp dẫn nhất Châu Á, Việt Nam là lựa chọn của các doanh nghiệp
nước ngoài khi muốn mở rộng quy mô sản xuất.

máy.

Chương I : Yamaha-motor đầu tư vào Việt Nam.
1. Lịch sử của Yamaha-motor.
Tập đoàn Yamaha motor ra đời vào năm 1953,chủ tịch đầu tiên của tập đoàn là ông
Genichi Kwakami. Genichi Kawakami sinh năm 1912, là con trai cả của ông Kaichi
Kawakami, chủ tịch công ty Nippon Gakki (tập đoàn Yamaha Corporation ngày nay). Sau
khi gia nhập Nippon Gakki vào năm 1937, ông nhanh chóng tiến bộ, đạt được vị trí Giám
đốc nhà máy Tenryu Factory của tập đoàn (chuyên sản xuất nhạc cụ), và trở thành Chủ tịch
Tập đoàn vào năm 1950 khi mới 38 tuổi.
Vào năm 1953, Genichi bắt đầu nghiên cứu, tận dụng các động cơ cánh quạt máy bay được
sử dụng từ Thế chiến thứ II. Ông khám phá và thử nghiệm sản xuất nhiều sản phẩm bao

máy, chủ động công nghệ sản xuất, giảm nhập khẩu, nâng cao năng lực chuyên môn của
nhân lực
Sau gần 10 năm đầu tư nhà máy sản xuất tại Sóc Sơn (Hà Nội), cùng với việc mở
rộng quy mô sản xuất đặc biệt là dây chuyền sản xuất các loại xe máy mang nhãn hiệu
Yamaha; Công ty Yamaha Motor Việt Nam thu hút hơn 2000 lao động, chủ yếu là lao động
địa phương; tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 70%, nộp ngân sách hơn 41,4 triệu USD.
Ngày 29/06/2007 Yamaha Việt Nam đã khởi công xây dựng nhà máy sản xuất xe
máy thứ 2 của mình tại khu công nghiệp Nội Bài, Hà Nội. Có tổng số vốn đầu tư hơn 43
triệu USD, dự kiến nhà máy này sẽ chính thức đi vào hoạt động từ tháng 10/2008. Nhà máy
mới này có tổng diện tích 15ha, với tổng vốn đầu tư 43.065.000 USD, thuộc dự án mở rộng
của Công ty Yamaha Motor Việt Nam. Nhà máy dự kiến đi vào hoạt động vào tháng 10
năm 2008 và khi đi vào hoạt động sẽ nâng công suất sản xuất xe máy của Yamaha Việt
Nam lên 1,5 triệu xe/năm (nhà máy hiện nay của Yamaha tại Trung Giã - Sóc Sơn ( Hà Nội
) có công suất tối đa đạt 700.000 xe. Công ty Yamaha Motor Việt Nam quyết định mở rộng
qui mô sản xuất đầu tư xây dựng thêm nhà máy số 2 tại khu công nghiệp Nội Bài, Hà Nội
cũng nhằm đảm bảo khả năng cung cấp sản phẩm ra thị trường đúng hạn và đáp ứng tối đa
nhu cầu của khách hàng ngày một tăng. Yamaha Việt Nam cho biết năm 2007 họ dự kiến
bán được 500.000 xe máy. Trong 6 tháng đầu năm 2007, lượng xe tiêu thụ của họ đạt
250.000 xe.
Công ty Yamaha Motor Việt Nam quyết định mở rộng qui mô sản xuất đầu tư xây
dựng thêm nhà máy số 2 tại khu công nghiệp Nội Bài, Hà Nội cũng nhằm đảm bảo khả

năng cung cấp sản phẩm ra thị trường đúng hạn và đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng
ngày một tăng. Theo ông Đinh Quang Tuấn - Giám đốc bán hàng và Marketing Công ty
Yamaha Motor Việt Nam thì thị trường xe tay ga tại Việt Nam rất tiềm năng. Hiện nay xe
tay ga mới chiếm khoảng 17% thị phần và nó còn phát triển rất mạnh. Xu hướng chuyển
sang sử dụng xe tay ga ngày càng tăng. Chỉ tính riêng Yamaha Motor Việt Nam, nếu tháng

triệu USD, đưa tổng số lượt dự án tăng vốn trong 8 tháng lên 247 lượt dự án, với tổng số
vốn tăng thêm đạt 1,22 tỷ USD, giảm 39,6% về số dự án và 25,5% về vốn so với cùng
kỳ.Như vậy, tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm, trong 8 tháng qua, cả nước đã thu hút
thêm 8,324 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký, tăng 39,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong các
nước đầu tư vào Việt Nam, Hàn Quốc hiện đứng đầu với 238 dự án và 1,7 tỷ USD;
Singapore đứng thứ 2 với 50 dự án và 1,33 tỷ USD; British Virgin Islands đứng thứ 3 với
30 dự án và 861 triệu USD; Đài Loan đứng thứ 4 với 134 dự án và 600 triệu USD; Ấn Độ
đứng thứ 5 với 2 dự án và 527,3 triệu USD.Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
tuy số dự án tăng ít nhưng quy mô dự án tăng mạnh đã đẩy số vốn vào Việt Nam tăng cao.
Hiện nay, có khoảng 50 dự án với tổng vốn đăng ký dự kiến lên đến 50 tỷ USD đang xúc
tiến đầu tư vào Việt Nam.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định
Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986. Kể từ đó, Việt Nam
đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa
các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó
đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế
công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối
trong xã hội.
Nhiều năm liên tục, kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định. GDP
tăng bình quân trên 7% năm, riêng năm 2006 là 8,2% đứng thứ hai ở châu Á và dự kiến
năm 2007 là 8,5%. Việt Nam cũng đã chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội
nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới. Hiện nay đã có gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu

tiếng Anh ngày càng tăng.
- Chính sách ưu đãi về thuế
Về mặt phát triển kinh tế, Việt Nam còn chậm hơn Trung Quốc 10-12 năm. Tuy
nhiên, những chính sách hiện nay của Việt Nam lại là sự đúc kết giá trị các bài học từ mô
hình Trung Quốc hiện đại.
Việt Nam đã áp dụng một chương trình ưu đãi thuế thu nhập rất linh hoạt. Ví dụ như
miễn thuế bốn năm kể từ năm đầu tiên có lãi; tính thuế thu nhập bằng 50% mức thuế thông
thường trong vòng 7 năm. Mức thuế thông thường có thể là 10%, 15%, 20% tuỳ thuộc vào
lĩnh vực công nghiệp, phân loại đầu tư và vị trí địa lý. Trong khi đó, mức thuế chung cho
doanh nghiệp là 28%.
Khi một công ty lựa chọn địa điểm đầu tư, thì hàng loạt khu đất, các chính sách thuế
ưu đãi và điều kiện để được hưởng ưu đãi được giới thiệu. Ở đây có cả những chương trình
miễn thuế cho một số loại hàng hoá nhập khẩu.
Ông Charlie Blocker, Giám đốc điều hành Gannon Pacific Group cho biết : “Ưu đãi
thuế của Chính phủ Việt Nam là một trong những chính sách thuế tốt nhất châu Á. Các

công ty đều công nhận tầm ảnh hưởng lớn của những khuyến khích tài chính này tới nguồn
thu nhập của họ’’.
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng khi gặp làn sóng đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài. Chính phủ Việt Nam đã cam kết phát triển cân bằng cơ sở hạ tầng,
đặc biệt là cung cấp điện nước, dịch vụ cảng biển và viễn thông. Các khoản cho vay và tài
trợ song phương vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam với số lượng lớn.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) tại diễn đàn doanh nghiệp vừa tổ chức
tại thành phố Hồ Chí Minh, trong 10 nǎm qua, kể từ nǎm 1990, hạ tầng cơ sở của Việt Nam
đã được cải thiện đáng kể, nhờ có sự tài trợ của nhiều quốc gia và tổ chức tài chính quốc tế.
Bên cạnh đó chính sách mở cửa để thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam cũng đã góp

phép, thủ tục, các loại phí… Tính trong giai đoạn 2000-2004, đã có 73.000 doanh nghiệp
tư nhân đăng ký mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999. Cho đến năm 2004, đã có
150.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, với tổng số vốn
điều lệ là 182.000 tỷ đồng. Từ năm 1991 đến năm 2003, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư
nhân trong GDP đã tăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tế ngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên
4,5%, kinh tế cá thể giảm từ 35,9% xuống 31,2%, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng
từ 6,4% lên 14%. Từ 1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung cho cả doanh
nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của các
doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, không phân
biệt hình thức sở hữu.
Việt Nam đã dần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và hệ thống pháp luật đáp
ứng nhu cầu hội nhập và tạo ra một môi trường pháp lí bình đẳng thông thoáng và minh
bạch cho đầu tư.Đặc biệt, việc ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư cùng các bộ
luật quan trọng khác đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng thể chế và
cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam.
- Tình hình chính trị - xã hội ổn định
Công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam được tiến hành từ năm 1986 đến nay đã
mang lại nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã trở thành một đất nước
có chế độ chính trị-xã hội ổn định với nền dân chủ đang phát triển tốt đẹp và ngày càng
được tăng cường, nhân dân Việt Nam vui mừng về thành tựu của đất nước, tin tưởng vào

đường lối và chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Đời sống các tầng lớp nhân dân
không ngừng được cải thiện.
Việt Nam kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì hoà bình và phát
triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ
động và tích cực hội nhập sâu hơn và toàn diện hơn vào nền kinh tế quốc tế trên tinh thần
Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực và xây dựng của cộng đồng quốc

hiện nay và khoảng 10 năm nữa. Đó là cơ hội lớn cho các nhà sản xuất, bởi VN hiện đang
là một trong những quốc gia tiêu thụ xe máy lớn nhất thế giới với mức trung bình khoảng 2
triệu xe/ năm (Châu Á chiếm hơn 80% sản lượng sản xuất, tiêu thụ xe máy toàn cầu). Tuy
nhiên, thị trường xe máy VN có những nét cơ bản so với các thị trường trong khu vực.
Thứ nhất là sự phân bổ xe máy tại các khu vực. Khác với Thái Lan, Malaysia, Đài
Loan - có tỷ lệ xe máy tính trên đầu người cao hơn VN nhưng chúng ta ít nhìn thấy loại
phương tiện này xuất hiện trên đường như ở VN. Có nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng
là lượng ôtô của họ cũng tương đương, hệ thống giao thông, hạ tầng của họ tốt hơn và sự
phân bổ đồng đều xe máy giữa các khu vực, tỉnh thành. Trong khi đó, cho đến thời điểm
hiện tại, lượng xe máy vẫn tập trung chủ yếu vào các thành phố lớn và vùng phụ cận, gây
ra tình trạng đi đâu cũng thấy tràn ngập xe máy. Có những thời điểm kéo dài khoảng 2 - 3
năm, lượng xe máy được tiêu thụ tại các thành phố, đô thị và vùng phụ cận chiếm tới 2/3
tổng sản lượng xe máy bán ra.
Thứ hai, thị trường xe máy VN được đánh giá là luôn sôi động và đầy tiềm năng.
Điều này nhờ vào tâm lý tiêu dùng được thay đổi theo thời gian. Những năm 90, phần
nhiều người xem xe máy vừa là phương tiện đi lại, vừa là tài sản, một cách giữ tiền. Xe
máy chỉ như một loại hàng hoá đơn thuần vào đầu 2001, khi mà làn sóng xe Trung Quốc
giá rẻ tràn vào VN qua các DN lắp ráp trong nước. Sau khoảng 3 năm, xe máy Trung Quốc

mất dần vị trí, được thay thế bởi các mẫu mã mới chất lượng cao hơn, kiểu dáng đẹp hơn
và tại các thành phố lớn, khu đô thị xe tay ga đang trở nên hút khách hơn bao giờ hết. Mức
sống càng tăng bao nhiêu thì nhu cầu về xe máy tăng mạnh bấy nhiêu. Trong khi cư dân
thành thị có điều kiện thay xe, đổi mới chủng loại (do điều kiện sống tăng nhanh) thì hầu
hết các vùng nông thôn, miền núi, vùng xa (lượng tiêu thụ nhỏ) nhu cầu, thị hiếu vẫn vậy.
Theo dự báo, nhu cầu xe máy trong nước sẽ khoảng 1-1,5 triệu xe/năm vào năm
2010. Với công suất hiện có, bên cạnh đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, các doanh nghiệp
lắp ráp phải tính đến phương án xuất khẩu.

phần của các doanh nghiệp xe máy có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng mạnh.
Theo Phòng cảnh sát Giao thông Công an TP Hà Nội, trong 2 tháng đầu năm 2007 lượng
xe máy đăng ký mới tăng đột biến. Có những ngày trên địa bàn lượng xe đăng ký kỷ lục,
trên 1.400 xe.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đăng ký xe máy tăng là do những điểm
“mở” nhất của Thông tư 01/2007 của Bộ Công an (có hiệu lực từ 8/2/2007).
Việc đăng ký xe máy hiện nay đã giảm đi nhiều thủ tục phiền toái như giấy phép lái xe, hộ
khẩu. Theo quy định hiện hành, điều kiện cấp giấy phép lái xe chỉ cần là công dân Việt
Nam, có chứng minh thư nhân dân khi đi đăng ký ô tô, xe máy. Thời hạn cấp đăng ký mới
cho chủ xe cũng được rút ngắn từ 7 ngày xuống còn 3 ngày
Sự điều chỉnh trên khiến nhiều người dân có điều kiện không ngại thay hoặc mua thêm xe.
So với thời điểm trước khi thực hiện Thông tư 01, lượng xe máy đăng ký mới tăng 30 -
80%.
Việc giảm thuế nhập khẩu xe máy dẫn đến giá cả ổn định cũng làm cho số xe bán ra trong
nước tăng lên.
Ngoài ra, một bộ phận đáng kể khách hàng có nguồn thu từ chứng khoán, tiền thưởng tết
có nhu cầu đổi xe mới cũng khiến cho thị trường xe máy càng sôi động hơn.
"Hiện nay mặt hàng xe máy bán chạy là do nhiều người dân bắt đầu có nhu cầu đổi
xe mới. Ngoài ra, các công ty sản xuất, lắp ráp xe máy cũng đang thực hiện những chương
trình khuyến mại rất hấp dẫn", anh Hoàng Đức Chính, Tống đại lý Honda, 128 Xuân Thuỷ,
Cầu Giấy Hà Nội, cho biết.

Anh cho biết thêm: “Những tháng đầu năm 2007, số lượng người mua sắm xe máy mới
ngày một đông. Mỗi một ngày chúng tôi bán được 20 chiếc xe. Đây là con số chưa từng có
từ trước đến nay”.
Đặc biệt, từ dòng xe liên doanh, nhập khẩu đến xe trong nước sản xuất đều bán chạy, vì

hiếu giới trẻ
Số liệu thống kê của 4 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là Honda Việt
Nam, Suzuki Việt Nam, SYM, Yamaha Việt Nam cho thấy nếu tháng 9/2006 lượng xe tiêu
thụ là 107.000 chiếc/tháng thì đến tháng 12/2006 là 127.000 chiếc/tháng, mức tăng gần
20%.Theo dự tính từ tháng 9/2007 trở đi đến cuối năm, lượng xe tiêu thụ của 4 doanh
nghiệp này sẽ ở mức không dưới 150.000 chiếc/tháng.
Theo ông Đinh Quang Tuấn - Giám đốc bán hàng và Marketing công ty Yamaha
Việt Nam thì thị trường xe tay ga tại Việt Nam rất tiềm năng. Hiện nay xe tay ga mới
chiếm khoảng 17% thị phần và nó còn phát triển rất mạnh. Xu hướng chuyển sang sử dụng
xe tay ga ngày càng tăng. Chỉ tính riêng Yamaha Việt Nam nếu tháng 1/2007 các loại xe
tay ga bán ra chiếm khoảng 20% tổng số xe thì tới tháng 6/2007 đã chiếm tới 30% trong
tổng số xe.Theo ông Tuấn việc chuyển sang sử dụng xe tay ga đang diễn ra khá nhanh,
nhất là tại các thành phố bởi xe tay ga ngày càng có giá rẻ và mẫu mã đẹp. Đây cũng chính
là cơ hội lớn và không doanh nghiệp nào muốn bị bỏ lỡ.
Yamaha Motor Việt Nam sẽ sản xuất hơn 450.000 xe máy trong năm 2006. Đây là
một con số đáng giật mình, bởi mới cách đây khoảng 1 tháng, trao đổi với phóng viên Báo
Đầu tư, đại Yamaha Motor Việt Nam đưa ra cho kế hoạch bán hàng trong năm nay mới
chỉ khoảng 250.000 xe.
Không chỉ có vậy Yamaha Motor Việt Nam , cũng dự tính sẽ sản xuất 700.000 xe
máy vào năm 2008. Nếu điều này trở thành hiện thực thì sự “tăng tốc” của Yamaha Motor
Việt Nam trên thị trường xe máy là rất “đáng nể”, bởi dù tăng tốc đều đều, nhưng Honda
Việt Nam (HVN) phải mất tới 10 năm mới đạt con số hơn 700.000 xe sản xuất trong năm
nay.

Chương III. Một số giải pháp đối với các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe máy ở
Việt Nam.
Thị trường xe máy Việt Nam hứa hẹn còn rất nhiều tiềm năng, hy vọng với những định

Thị trường xe máy Việt Nam hứa hẹn còn rất nhiều tiềm năng, hy vọng với những định
hướng sau đây các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp xe máy Việt Nam sẽ thu được nhiều kết
quả tốt đẹp. Song trên hết, các doanh nghiệp cần phải chủ động, sáng tạo đi lên bằng chính
đôi chân của mình. Có vậy, mới có thể đưa ngành Công nghiệp Xe máy Việt Nam phát
triển, cạnh tranh với các thương hiệu xe máy nổi tiế
KẾT LUẬN

Có thể khẳng định hiện tại Việt Nam đang trở thành lựa chọn số một của các nhà
đầu tư khi muốn mở rộng sản xuất tại Châu Á. Việc đánh giá đúng tiềm năng của thị
trường có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đồng thời
cũng đỏi hỏi Việt Nam cần có các chính sách, đường lối cải thiện môi trường đầu tư nhằm
thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài. Hy vọng với tiềm năng như vậy trong

4.

5.
6.
7
8.
9.
10.
11.
12.

Mục lục
Lời mở đầu ……………………………………………………………… 2
Chương I : Yamaha-motor đầu tư vàoViệt Nam 4
1. LịchsửcủaYamaha-motor …………………………………. 4
2. Yamaha-motor chọn Việt Nam làm địa điểm sản xuất…… 5
Chương II : Phân tích quá trình lựa chọn Việt Nam làm địa điểm sản xuất và thị
trường tiêu thụ của Yamaha-motor ………………………………………… 7

1.Tại sao Yamaha-motor lại chọn Viêt Nam làm địa điểm sản xuất và thị trường tiêu
thụ………………………………………………………………………………. 7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status