TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Phân tích hợp tác thương
mại Việt Nam – Liên minh
Châu Âu
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
LỜI MỞ ĐẦU
Thập niên cuối của thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn lao
trên thế giới. Những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ càng thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá trên thế
giới diễn ra mạnh mẽ hơn xu thế hoà bình hợp tác pháp triển đang ngày
càng trở thành xu thế chủ yếu chi phối quan hệ ngoại giao các nước.
Trong thế giới ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau nhu cầu về phát triển, giao
lưu kinh tế, văn hoá nhằm tăng cường sự hiểu biết để hợp tác vì lợi ích
dân tộc đang trở nên cấp thiết . Với một môi trường quốc tế thuận lợi
như vậy, Quan hệ Việt Nam – EU đã có đIều kiện chuyển sang một
giai đoạn mới đầy triển vọng cả Việt Nam và EU đều có chung lơị ích
trong việc mở rộng và tăng cường quan hệ hữu nghị trên các lĩnh vực .
hình thành sớm nhất và có hiệu quả nhất . Trước ngưỡng cửa của thế
kỷ 21, với GDP khoảng 8500 tỷ USD, dân số khoảng 375 triệu người
chiếm giữ khoảng 40-50% sản lưởng công nghiệp của các nước tư bản
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
phát triển EU đang trở thành một cực rất mạnh trong nền kinh tế thế
giới .
1.1.
Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu .
Ngay từ thời Saclơ đại đế thuộc đế chế La Mã ( TK8 – Sau công
nguyên ) những mơ tưởng về thống nhất Châu Âu đã được hình thành .
Tuy nhiên trong một thời gian dài , ý đồ thống nhất Châu Âu chỉ thuộc
về một vài nhà chính trị , quân sự có nhiều tham vọng và một bộ phận
các nhà tri thức . Đại bộ phận Châu Âu vẫn thờ ơ thậm chí không hề có
ý tưởng gì về điều đó , mặc dù Châu Âu đã mang sẵn trong mình các
yếu tố thống nhất .
Đến năm 1923 , Bá Tước người Áo –Condenhve Kalerg đã đề nghị
thành lập một liên minh Châu Âu theo kiểu Liên Bang Thuỵ Sĩ năm
1648 hay liên bang Hoa Kỳ năm 1776 năm 1929 Bộ trưởng Pháp lúc
bấy giờ – Arstide Briand cũng đưa ra đề án thành lập liên minh Châu
Âu . Nhưng những ý tưởng này phải mãi đế sau chiến tranh thế giới thứ
hai mới trở thành hiện thực .
Sau chiến tranh thế giới thứ hai các nước Tây Âu đều kiệt quệ về
kinh tế . So với năm 1937 sản lượng của Đức 1946 chỉ bằng 31% ,
Italia 64% , Anh 96% . Trong khi đó nhờ chiến tranh mà kinh tế Mỹ đã
phát triển vượt bậc sức mạnh kinh tế của Mỹ còn lơns hơn sức mạnh
kinh tế của tất cả các nước Tây Âu gộp lại .Mặt khác sự phát triển
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng
năm 1955 đã đưa ra đề án mở rộng liên kết của các quốc gia Tây Âu
song các lĩnh vực khác và cử ngài Paul Henry Spack – ngoại trưởng
Italia làm chủ đề án . Đến 1956 họ đã nhất trí thành lập cộng đồng kinh
tế Châu Âu ( Eurpean Economic Community – EEC ) và cộng đồng
năng lượng nguyên tử Châu Âu . Ngày 25/ 7/ 1957 hiệp ược về việc
thành lập 2 tổ vhức này đã được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 1/ 1/ 1958 . Mỗi tổ chức có một chức năng riêng : EEC có nhiệm
vụ chung liên quan đến những vấn đề kinh tế với việc tạo lập một thị
trường chung , trong đó không còn sự ngăn cản vận động của hàng hoá
, tư bản , sức lao động … giữa các nước Tây Âu với nhau , cộng đồng
năng lượng nguyên tử Châu Âu quan tâm đến việc nghiên cứu phổ biến
kiến thức , bảo đảm nguồn cung cấp thường xuyên các nguyên liệu hạt
nhân thúc đẩy đầu tư lập các cơ sở sản xuất năng lượng hạt nhân chung
lập thị trường nguyên tử chung giữa các nước .
Bước vào đầu thập kỷ 90 , sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu đã làm thay đổi cục diện thế giới từ hai cực trở
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
thành đa cực . Trong trật tự mới , các thế lực đều đang dốc sức chuẩn
bị lực lượng để chiếm vị trí tối ưu cho mình trong tương lai . Mặc dù
đến thời điểm này cộng đồng Châu Âu đã đạt được những thành tựu
nhất định nhưng nói chung về kinh tế , chính trị lẫn quân sự vẫn còn
thua kém Mỹ và Nhật Bản . Do vậy trong cuộc cạnh tranh quyết liệt
trước mắt các nước Tây Âu vẫn sẽ phải thống nhất lại , đẩy manh công
cuộc xây dựng cộng đồng tạo ra sức mạnh tập thể để đối phó với hai
đối thủ lớn của mình . ĐIều này được thể hiện rất rõ tại Hội nghị
thượng đỉnh các quốc gia Tây Âu ở Maastricht – Hà Lan tháng 11 năm
1991 . Tại Hội nghị này các quốc gia thành viên đã thống nhất : Thứ
nhất tiếp tục mở rộng liên kết bằng cắch kết nạp thêm các thành viên
mới , thứ hai tạo lập đồng tiền chung Châu Âu làm cho Châu Âu thay
đổi một cách căn bản vào năm 2000 . Thứ ba , tiến tới thống nhất mặt
Quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU và các nước trong khu
vực Châu Á đã có từ rất lâu , nhưng trong một thời gian tương đối dài
sau chiến tranh thế giới thứ hai , các nước lớn trong EU rất ít chú ý đến
Châu Á . Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với thị trường rộng lớn ở
Châu Phi đã hấp đẫn các nhà kinh doanh , đầu tư Châu Âu nhiều hơn
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
khu vực Châu Á . Trong giai đoạn này , quan hệ của các nước EU với
khu vực châu Á chủ yếu là viện trợ kinh tế .Tuy vậy từ sau thập kỷ 80
đến nay các nước Mỹ La Tinh đã bị lâm vào khủng hoảng nợ , trong
khi các nước đang phát triển Châu Á lạI có những chuyển biến trong
phát triển kinh tế . Các NiEs và ASEAN đã thực hiện thành công chính
sách kinh tế hướng về xuất khẩu và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới . Đồng thời sự suy sụp của Liên Xô và các nước Đông Âu đã làm
cho cục diện về kinh tế cũng như kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duy
trì ảnh hưởng của mình trong nền kinh tế thế giới . Việc thiết lập được
một sự hiện diện mạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở Châu Á sẽ cho
phép EU đảm bảo được lợi ích của mình tại khu vực này vào đầu thế
kỷ 21 . Để đạt được điều đó tháng 7/1994 , EU đã thông qua văn kiện
“Hướng tới một chiến lược mới đối với Châu Á” .
Chiến lược mới này hướng tới các mục tiêu chủ yếu là :
Thứ nhất :
Tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại Châu Á
nhằm duy trì vai trò nổi trội của mình trong nền kinh tế thế giới . Việc
thiết lập một sự hiện diện đáng kể ở Châu Á sẽ cho phép EU chăm lo
những lợi ích của mình được tôn trọng hoàn toàn trong khu vực then
chốt này vào đầu thế kỷ 21 .
Thứ hai
: Góp phần vào sự ổn định ở Châu Á bằng cách khuyến
khích hợp tác và hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế .
Thứ ba
: Sau 40 năm hình thành và phát triển EU trở thành một siêu
cường cả về kinh tế , chính trị , dân số , diện tích … và sẽ trở nên mạnh
hơn khi đồng tiền chung Euro được sử dụng trước một trật tự thế giới
mới đang hình thành và đang đầy biến động phức tạp , EU đã chuyển
mình vươn lên tắch khỏi sự lệ thuộc với Mỹ, vươn tầm hoạt động sang
trung và Đông Âu, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, nhằm nâng cao hơn nữa
vị thế của mình trước thềm thế kỷ XXI . chính trong quá trình thực
hiện chiến lược toàn cầu của mình nói chung và chiến lược mới với
Châu Á nói riêng, EU đã tìm thấy ở Việt Nam những ưu thế địa chính
trị, địa kinh tế để lấy Việt Nam làm đIểm tựa quan trọng trong chiến
lược đối ngoại của mình với Châu Á.
Mối quan hệ Việt Nam – EU đã bắt đầu được thiết lập từ sau năm
1975, nhưng chỉ đơn thuần là viện trợ kinh tế . Bước chuyển biến to
lớn đánh dấu một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam- EU là việc hai
bên thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 10/1990. Trên cơ sở đó mối
quan hệ Việt Nam và EU đã phát triển nhanh chóng . Hai bbên đã có
hàng loạt cuộc tiếp xúc gặp gỡ thăm viếng hội thảo khoa học… nhằm
trao đổi thông tin và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau . Quan hệ Việt
Nam –EU bước vào giai đoạn lịch sử mới khi .
Hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU được ký kết vào tháng
7/1995 . Hiệp định đã tạo ra những yếu tố thuận lợi cho EU và mối
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
nước thành viên EU trong quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư với
Việt Nam . Có thể nói , hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU vừa là
cơ sở pháp lý vừa là động cơ thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam
và EU phát triên mạnh mẽ và toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực : hợp tác
thương mại, đầu tư khoa học kỹ thuật môi trường văn hoá giáo dục y
tế… đặc biệt là trng lĩnh vực dệt may. Bằng chứng là hai hiệp định dệt
may Việt Nam – EU giai đoạn 1993 – 1997 và 1998 – 2000 đã ký kết .
nhờ đó kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU đã
phẩm dệt may nhập khẩu . Tuy nhiên trong những năm gần đây , ngành
dệt may đã có kế hoạch đổi mới trang thiết bị , tăng sản lượng , giảm
giá thành , đa dạng hoá mẫu mã nhằm đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu
cầu của nhân dân trong nước .
Thứ hai , với đặc tính sử dụng nhiều lao động , đặc biệt là đối với
ngành dệt may Việt Nam thiếu thiết bị công nghệ hiện đại vì thế còn
rất nhiêù công đoạn sản xuất thủ công , nên ngành dệt may có khả năng
giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động . Hiện nay toàn ngành dệt
may Việt Nam đang sử dụng hơn 500. 000 lao động Con số này là nhỏ
khi so với tổng số 38 triệu người trong độ tuổi lao động của Việt Nam
nhưng là một con số khá lớn đối với một ngành công nghiệp , có ý
nghĩa không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn góp phần bình ổn
chính trị – xã hội .
Thứ ba , không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước , hiện nay sản phẩm
dệt may của Việt Nam đã có mặt ở rất nhiều thị trường nước ngoài .
Các sí nghiệp dệt may lớn ở Trung ương và địa phương đều đang cố
gắng dành năng lực tốt nhất cho sản xuất hàng dệt may . Ngành dệt
may đã phát huy và tận dụng hết tiềm năng sẵn có của đất nước , thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình đó . Trong thời gian tới , chúng ta cần phải có
những chính sách phù hợp để khai thác hiệu quả những ưu thế của
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
ngành dệt may nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá , hiện
đại hoá đất nước .
2.2.
Cơ cấu thị trường ngành dệt may Việt Nam
Nhiệm vụ đầu tiên của ngành dệt may là đáp ứng cho nhu cầu của
nhân dân trong nước “sau cái ăn là cái mặc ” . Nhưng trên thực tế ,
ngành dệt may chưa hoàn thành nhiệm vụ này , hàng năm chúng ta vẫn
có hạn ngạch do EU áp đặt . Nơi đây , loại hình gia công chiếm vhủ
yếu 80% kim ngạch xuất khẩu hầu như ổn định . Sau khi Hiệp định dệt
may thời kỳ đầu ( 1993 – 1997 ) được ký kết kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam sang EU không ngừng tăng lên . Thời kỳ đầu
có 105 chủng loại ( category – cat ) quản lý bằng hạn ngạch , sau khi
điều chỉnh ( tháng 8/ 1995 ) còn 54 cat và khi hiệp định thời kỳ 1998 –
2000 được ký kết thì số cat quản lý hạn ngạch chỉ còn 29 . Tính gia , có
122 đã được EU “giải phóng ” số lượng Cat được giải phóng này có
thể mang lạI một kim ngạch không nhỏ .
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
Trước những khó khăn trong việc khai thác thị trường xuất khẩu như
đã nêu trên , việc mở rộng và tăng cường hơn lữa hợp tác với thị
trường EU là một đòi hỏi khách quan của nganhf dệt may Việt Nam .
Đó cũng chính là lý do mà toàn bộ chỉ đi sâu tìm việc thực trạng của
hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đi EU để rút ra thách thức
và thuận lợi .
2.3
. Cơ cấu của ngành dệt may Việt Nam .
Theo thống kê cuối năm 1995 , tổng số cơ sở dệt may là 109369.
Trong đó : số cơ sở dệt là 74633, may là 34736 đơn vị . Hiện nay các
cơ sở dệt may phân bố hầu như khắp các tỉnh thành trong cả nước .
Song , hiệu quả hoạt động của các cơ sở ở các tỉnh khác nhau là khác
nhau . Theo thống kê chung , các cơ sở miền trung hoạt động kém hiệu
quả , sản phẩm không đủ chất lượng để cạnh tranh trên thị trường quốc
tế do thiếu công nghệ hiện đại , thiếu thông tin về thị trường , cơ sở hạ
tầng lạc hậu …Các doanh nghiệp hoàt động có hiệu quả thường tập
trung ở thành phố Hồ Chí Minh , Đồng Nai , Nha Trang , Hải Phòng ,
Hà Nội …Sự phát triển không đồng bộ này chính là câu hỏi đặt ra với
bớt sự phụ thuộ về nguyên liệu trong ngành dệt – may vừa là mong
muốn chủ quan vứa là yêu cầu khách quan .
Ngoài ra ngành dệt may còn phải nói đến đổi mới công nghệ , theo
đánh giá chung thiết bị và công nghệ của ngành dệt may Việt Nam hiện
nay lạc hậu khoảng 10-20 năm so với thế giới . Tuy nhiên so với năm
gần đây , có khá nhiều thiết bị , máy móc tiên tién đã được đưa vào sản
xuất thay thế cho thiết bị cũ , đặc biệt là ngành may . Nhiều doanh
nghiệp đã trang bị nhữnh thiết bị chuyên dùng như máy thêu tự động ,
máy cắt , hệ thống ủi hơi hập từ các nước công nghiệp tiên tiển . Điều
đáng buồn là việc đầu tư trong ngành dệt may không được xem xét
dưới các góc độ bảo đảm sự phát triển kinh tế bền vững của một ngành
nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung . Đầu tư không đồng bộ giữ
ngành may và ngành dệt và giữa các công đoạn trong quá trình sản
xuất của một doanh nghiệp . Hầu hết , các chủng loại máy may và công
nghệ đang sử dụng trong nghành may đều là máy mới . Ngược lại
ngành dệt may chưa có sự thoả đáng , ngành dệt còn 50% thiết bị đã sử
dụng trên 20 năm . Sự đồng bộ này còn được thể hiện ngay ở lượng
FDI vào ngành dệt may Việt Nam trong những năm vừa qua .
Với tình hình trên , nếu việc đầu tư đổi mới công nghệ dệt – may
không được cải tiến và không có một chiến lược xét trên giác ngộ toàn
ngành dệt sẽ mãi mải tụt hậu so với ngành may và ngành may cũng sẽ
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
bị suy giảm khi Việt Nam không còn thế mạnh là nước có giá trị nhân
công rẻ .
2.4.
Một số đánh giá về thực trạng thương mại dệt may Việt Nam-EU
Từ khi nền kinh tế nước ta mới chập chững vận hành theo cơ chế thị
trường ngành công nghiệp dệt may đã chứng tỏ vai trò quan trọng của
Thành quả đã đạt được trong những năm qua là kết quả của những lỗ
lực từ hai phía . Phía Việt Nam , chúng ta không ngừng cải tiến mẫu
mã , nâng cao chất lượng , hạ giá thành sản phẩm để đáp ứng nhu cầu
các khách hàng EU . Ngược lại EU cũng dành cho chúng ta những điều
kiện có lợi để thúc đẩy quan hệ buôn bán mặt hàng này . Tuy nhiên ,
việc thâm nhập một thị trường kỹ tính như EU trong khi chúng ta chưa
phải là thành viên của WTO quả là đIều hết sức khó khăn . Mặc dù ,
kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường EU có tăng , song đó vẫn
chưa phải là tất cả những gì chúng ta mong đợi . Nguyên nhân của việc
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
này cũng chính là khó khăn thách thức má các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam phải đối đầu khi thâm nhập thị trường EU .
Thứ nhất
: Phương châm “may làm lối ra cho dệt” chưa được thể
hiện trong việc sản xuất và xuất khẩu sang thị trường EU . Vải sản xuất
trong nước không đáp ứng được độ đồng đều về mầu sắc , độ co rút sự
đa dạng chủng loại , tính thời trang … Chẳng hạn với tiêu chuẩn vải
may sơ mi xuất khẩu sang thị trường EU là sợi bông 100% nhưng yêu
cầu hình thức như Polyeste thì các công ty dệt may Việt Nam đều
không đáp ứng được .
Ngoài chênh lệch sản phẩm giữa dùng sợi nội và sợi ngoại là khá lớn
, giá bán vải nội có khi còn cao hơn cả giá vải nhập khẩu ,dùng vải nội
phải chịu mấy lần tính thuế ( thuế sợi , vải mộc , vải thành phẩm …)
Với tình hình trên phía các doanh nghiệp may chưa tìm thấy sự hấp dẫn
của vải nội và cũng chưa tích cực tìm kiếm cơ hội . Mặt khác vấn đề
nguyên liệu chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
phương thức gia công chiếm tỷ lệ chủ yếu trong kim ngạch xuất khẩu
dệt may Việt Nam sang EU .
Thứ hai
: Ở Việt Nam ngành kinh doanh mẫu mốt chưa trở thành
sản xuất, còn thị trường là của đối tác EU .
Thứ tư
: Cho đến hôm nay, số nhóm mặt hàng xuất đi EU bị khống
chế bởi hạn ngạch chỉ còn 29 cat, nhưng vẫn là nhiều so với các nước
xung quanh ( 29 so với 20 của Thái Lan, 8 của Singapore, 10 của
Indonesia … ) Xét về khối lượng quota thì Việt Nam vẫn bị đối sử
không công bằng so với Trung Quốc cũng như một nước ASEAN khác
vì họ được xuất khẩu nhưng mặt hàng tương tự vào EU với lượng lớn
hơn của Việt Nam
Việc sử dụng các nguyên phụ liệu nhập khẩu từ EU để làm hàng
thành phẩm xuất khẩu trở lại EU là một giải pháp tình thế không có lợi
cho các doanh nghiệp Việt Nam . nếu dùng nguyên phụ liệu tương tự
nhập khẩu từ các nước Châu Á với giá thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo số
lượng mà được EU chấp nhận thì sẽ có lợi hơn cho các doanh nghiệp
dệt may Việt Nam .
Theo đánh giá của Bộ thương mại , trong những năm tới thị trường
Mỹ còn có nhều phức tạp , thị trường các nước Châu Á vẫn chịu ảnh
hưởng vủa cuộc khủng hoảng nên trọng tâm của thị trường hàng dệt
may Việt Nam sẽ là liên minh Châu Âu và các nước Liên Xô cũ .
Trong đó , thị trường EU vẫn là thị trường xuất khẩu chủ đạo . Để khai
thác thị trường EU có hiệu quả , các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
phải nỗ lực để tranh thủ tốt nhất những lợi thế hạn chế những bất lợi .
Đặc biệt phải phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm , cải tiến mẫu
Chuyªn ®Ò thùc tËp NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
mã đáp ứng đúng thị hiếu của người tiêu dùng , nâng cao uy tín để chủ
động chiếm lĩnh thị trường Châu Âu .