Luận văn
Phân tích hợp tác thương mại Việt Nam- Liên
minh Châu Âu trong lĩnh vực dệt may.
trong lĩnh vực dệt may .
CHƯƠNG 1
MỘT VÀI NÉT VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU(EU) Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay trong nền kinh tế thế
giới xuất hiện nhiều loại hình liên kết kinh tế . Trong đó liên minh
Châu Âu ( cộng đồng Châu Âu – EU trước đây ) là khối liên kết kinh tế
hình thành sớm nhất và có hiệu quả nhất . Trước ngưỡng cửa của thế
kỷ 21, với GDP khoảng 8500 tỷ USD, dân số khoảng 375 triệu người
chiếm giữ khoảng 40-50% sản lưởng công nghiệp của các nước tư bản
phát triển EU đang trở thành một cực rất mạnh trong nền kinh tế thế
giới .
1.1. Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu .
Ngay từ thời Saclơ đại đế thuộc đế chế La Mã ( TK8 – Sau công
nguyên ) những mơ tưởng về thống nhất Châu Âu đã được hình thành .
Tuy nhiên trong một thời gian dài , ý đồ thống nhất Châu Âu chỉ thuộc
về một vài nhà chính trị , quân sự có nhiều tham vọng và một bộ phận
các nhà tri thức . Đại bộ phận Châu Âu vẫn thờ ơ thậm chí không hề có
ý tưởng gì về điều đó , mặc dù Châu Âu đã mang sẵn trong mình các
yếu tố thống nhất .
Đến năm 1923 , Bá Tước người Áo –Condenhve Kalerg đã đề nghị
thành lập một liên minh Châu Âu theo kiểu Liên Bang Thuỵ Sĩ năm
1648 hay liên bang Hoa Kỳ năm 1776 năm 1929 Bộ trưởng Pháp lúc
bấy giờ – Arstide Briand cũng đưa ra đề án thành lập liên minh Châu
đạt một bước phát triển mạnh mẽ kéo theo sự phát triển cả nền kinh tế
sáu nước . Thành tích kinh tế là to lớn song còn một kết quả quan trọng
khác mà cộng đồng than thép Châu Âu mang lại đó là tác động tâm lý
đối cới người Tây Âu . Lần đầu tiên họ thấy rằng không cần chiến
tranh mà vẫn có thể thống nhất được Châu Âu và thống nhất theo chiều
hướng Siêu quốc gia .
Tại cuộc họp các ngoại trưởng của các quốc gia Tây Âu ở Messine
năm 1955 đã đưa ra đề án mở rộng liên kết của các quốc gia Tây Âu
song các lĩnh vực khác và cử ngài Paul Henry Spack – ngoại trưởng
Italia làm chủ đề án . Đến 1956 họ đã nhất trí thành lập cộng đồng kinh
tế Châu Âu ( Eurpean Economic Community – EEC ) và cộng đồng
năng lượng nguyên tử Châu Âu . Ngày 25/ 7/ 1957 hiệp ược về việc
thành lập 2 tổ vhức này đã được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 1/ 1/ 1958 . Mỗi tổ chức có một chức năng riêng : EEC có nhiệm
vụ chung liên quan đến những vấn đề kinh tế với việc tạo lập một thị
trường chung , trong đó không còn sự ngăn cản vận động của hàng
hoá, tư bản , sức lao động … giữa các nước Tây Âu với nhau , cộng
đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu quan tâm đến việc nghiên cứu
phổ biến kiến thức , bảo đảm nguồn cung cấp thường xuyên các
nguyên liệu hạt nhân thúc đẩy đầu tư lập các cơ sở sản xuất năng lượng
hạt nhân chung lập thị trường nguyên tử chung giữa các nước .
Bước vào đầu thập kỷ 90 , sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu đã làm thay đổi cục diện thế giới từ hai cực trở
thành đa cực . Trong trật tự mới , các thế lực đều đang dốc sức chuẩn
bị lực lượng để chiếm vị trí tối ưu cho mình trong tương lai . Mặc dù
đến thời điểm này cộng đồng Châu Âu đã đạt được những thành tựu
nhất định nhưng nói chung về kinh tế , chính trị lẫn quân sự vẫn còn
thua kém Mỹ và Nhật Bản . Do vậy trong cuộc cạnh tranh quyết liệt
trước mắt các nước Tây Âu vẫn sẽ phải thống nhất lại , đẩy manh công
cuộc xây dựng cộng đồng tạo ra sức mạnh tập thể để đối phó với hai
quốc tế hoá không chỉ lực lượng sản xuất mà cả quan hệ sản xuất .
1.2. Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á .
Quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU và các nước trong khu
vực Châu Á đã có từ rất lâu , nhưng trong một thời gian tương đối dài
sau chiến tranh thế giới thứ hai , các nước lớn trong EU rất ít chú ý đến
Châu Á . Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với thị trường rộng lớn ở
Châu Phi đã hấp đẫn các nhà kinh doanh , đầu tư Châu Âu nhiều hơn
khu vực Châu Á . Trong giai đoạn này , quan hệ của các nước EU với
khu vực châu Á chủ yếu là viện trợ kinh tế .Tuy vậy từ sau thập kỷ 80
đến nay các nước Mỹ La Tinh đã bị lâm vào khủng hoảng nợ , trong
khi các nước đang phát triển Châu Á lạI có những chuyển biến trong
phát triển kinh tế . Các NiEs và ASEAN đã thực hiện thành công chính
sách kinh tế hướng về xuất khẩu và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới . Đồng thời sự suy sụp của Liên Xô và các nước Đông Âu đã làm
cho cục diện về kinh tế cũng như kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duy
trì ảnh hưởng của mình trong nền kinh tế thế giới . Việc thiết lập được
một sự hiện diện mạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở Châu Á sẽ cho
phép EU đảm bảo được lợi ích của mình tại khu vực này vào đầu thế
kỷ 21 . Để đạt được điều đó tháng 7/1994 , EU đã thông qua văn kiện
“Hướng tới một chiến lược mới đối với Châu Á” .
Chiến lược mới này hướng tới các mục tiêu chủ yếu là :
Thứ nhất : Tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại Châu Á
nhằm duy trì vai trò nổi trội của mình trong nền kinh tế thế giới . Việc
thiết lập một sự hiện diện đáng kể ở Châu Á sẽ cho phép EU chăm lo
những lợi ích của mình được tôn trọng hoàn toàn trong khu vực then
chốt này vào đầu thế kỷ 21 .
Thứ hai : Góp phần vào sự ổn định ở Châu Á bằng cách khuyến
khích hợp tác và hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế .
mình vươn lên tắch khỏi sự lệ thuộc với Mỹ, vươn tầm hoạt động sang
trung và Đông Âu, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, nhằm nâng cao hơn nữa
vị thế của mình trước thềm thế kỷ XXI . chính trong quá trình thực
hiện chiến lược toàn cầu của mình nói chung và chiến lược mới với
Châu Á nói riêng, EU đã tìm thấy ở Việt Nam những ưu thế địa chính
trị, địa kinh tế để lấy Việt Nam làm đIểm tựa quan trọng trong chiến
lược đối ngoại của mình với Châu Á.
Mối quan hệ Việt Nam – EU đã bắt đầu được thiết lập từ sau năm
1975, nhưng chỉ đơn thuần là viện trợ kinh tế . Bước chuyển biến to
lớn đánh dấu một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam- EU là việc hai
bên thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 10/1990. Trên cơ sở đó mối
quan hệ Việt Nam và EU đã phát triển nhanh chóng . Hai bbên đã có
hàng loạt cuộc tiếp xúc gặp gỡ thăm viếng hội thảo khoa học… nhằm
trao đổi thông tin và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau . Quan hệ Việt
Nam –EU bước vào giai đoạn lịch sử mới khi .
Hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU được ký kết vào tháng
7/1995 . Hiệp định đã tạo ra những yếu tố thuận lợi cho EU và mối
nước thành viên EU trong quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư với
Việt Nam . Có thể nói , hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU vừa là
cơ sở pháp lý vừa là động cơ thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam
và EU phát triên mạnh mẽ và toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực : hợp tác
thương mại, đầu tư khoa học kỹ thuật môi trường văn hoá giáo dục y
tế… đặc biệt là trng lĩnh vực dệt may. Bằng chứng là hai hiệp định dệt
may Việt Nam – EU giai đoạn 1993 – 1997 và 1998 – 2000 đã ký kết .
nhờ đó kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU đã
tăng lên nhanh chóng . Vẫn đề này sẽ được nghiên cứu kỹ ở chương
tiếp theo. CHƯƠNG 2
nhưng là một con số khá lớn đối với một ngành công nghiệp , có ý
nghĩa không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn góp phần bình ổn
chính trị – xã hội .
Thứ ba , không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước , hiện nay sản phẩm
dệt may của Việt Nam đã có mặt ở rất nhiều thị trường nước ngoài .
Các sí nghiệp dệt may lớn ở Trung ương và địa phương đều đang cố
gắng dành năng lực tốt nhất cho sản xuất hàng dệt may . Ngành dệt
may đã phát huy và tận dụng hết tiềm năng sẵn có của đất nước , thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình đó . Trong thời gian tới , chúng ta cần phải có
những chính sách phù hợp để khai thác hiệu quả những ưu thế của
ngành dệt may nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá , hiện
đại hoá đất nước .
2.2. Cơ cấu thị trường ngành dệt may Việt Nam
Nhiệm vụ đầu tiên của ngành dệt may là đáp ứng cho nhu cầu của
nhân dân trong nước “sau cái ăn là cái mặc ” . Nhưng trên thực tế ,
ngành dệt may chưa hoàn thành nhiệm vụ này , hàng năm chúng ta vẫn
phải nhập một lượng lớn nguyên liệu lẫn hàng dệt may thành phẩm .
Điều này chứng tỏ rằng trong quá trình phát triển và hướng ngoại
ngành dệt may Việt Nam đã để lại một khoảng trống sau lưng mình ,
đó là thị trường may mặc trong nước Hiện nay các sí nghiệp dệt may
lớn Trung ương và địa phương đều đang cố gắng dành những năng lực
tốt nhất cho sản xuất hàng dệt may xuất khẩu , phần nào không xuất
được thì để lại tiêu dùng trong nước . bằng chứng là thỉnh thoảng mọt
doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu nào đó lạI đưa ra “cửa
hàng giới thiệu sản phẩm” của mình những lô hàng kém phẩm chất bán
cho hàng tiêu dùng , đó là những chiếc quần áo rộng quá cỡ , khác biệt
về màu sắc và kiểu mốt đối với người Việt Nam . Hoạt động của ngành
dệt may trên thị trường nội địa có thể được phản ánh như sau :
hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đi EU để rút ra thách thức
và thuận lợi .
2.3. Cơ cấu của ngành dệt may Việt Nam .
Theo thống kê cuối năm 1995 , tổng số cơ sở dệt may là 109369.
Trong đó : số cơ sở dệt là 74633, may là 34736 đơn vị . Hiện nay các
cơ sở dệt may phân bố hầu như khắp các tỉnh thành trong cả nước .
Song , hiệu quả hoạt động của các cơ sở ở các tỉnh khác nhau là khác