tìm hiểu tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ sa nhân tại huyện tiên phước, tỉnh quảng nam - Pdf 13

LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học
Nông Lâm, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình và tiếp
thu được một lượng kiến thức nhất định. Để có được kết quả đó,
ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi đã nhận được sự động
viên của gia đình, sự hướng dẫn, giảng dạy của thầy cô giáo trong
nhà trường và sự giúp đỡ chia sẻ của bạn bè. Nhất là trong kỳ thực
tập và làm khoá luận cuối khoá, sự động viên, hướng dẫn, giúp đỡ
đó đối với tôi thực sự quý báu.
Để có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình, tôi xin
trân trọng cảm ơn Thầy ThS. Nguyễn Trọng Dũng, người đã trực
tiếp hướng dẫn và luôn tạo điều kiện để cho tôi hoàn thành được
khoá luận của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong
trung tâm Khuyến nông - khuyến ngư tỉnh Quảng Nam, phòng
Nông nghiệp huyện Tiên Phước, UBND huyện Tiên Phước, UBND
xã Tiên Lập và xã Tiên Châu, các hộ dân ở hai xã và các tư thương
trên địa bàn huyện đã luôn tạo điều kiện để cho tôi có thể học hỏi,
nắm được các kiến thức thực tế phục vụ cho bài viết của mình được
hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên, do kiến thức của bản thân và thời gian thực tập
còn hạn chế nên nội dung đề tài không tránh khỏi những sai sót và
khiếm khuyết, kính mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý, chỉ dẫn
thêm của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Huế, 20 tháng 05 năm
2011
Sinh viên

Nguyễn Thị Phương Mẩn
1
Mục lục

4.2.2. Tình hình trồng sa nhân của người dân địa phương 29
4.2.3. Tình hình chế biến và bảo quản sa nhân tại huyện Tiên Phước 34
4.3. Hiệu quả kinh tế của sa nhân mang lại ở cấp nông hộ 36
4.3.1. Hiệu quả kinh tế của sa nhân mang lại đối với hộ khai thác tự nhiên 36
4.3.2. Hiệu quả kinh tế của sa nhân mang lại đối với hộ trồng 37
4.3.3. So sánh hiệu quả kinh tế của cây sa nhân và cây keo mang lại ở cấp nông hộ 39
4.4. Thị trường tiêu thụ sa nhân tại huyện Tiên Phước 41
4.4.1. Tình hình tiêu thụ sa nhân tại huyện Tiên Phước 41
4.4.2. Chuỗi giá trị của sa nhân tại huyện Tiên Phước 42
4.4.3. Hình thành giá sa nhân qua các tác nhân 52
4.5. Các giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động khai thác tự nhiên và trồng sa nhân
54
2
4.5.1. Giải pháp từ người dân 54
4.5.2. Giải pháp từ cán bộ địa phương 55
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1. Kết luận 56
5.2. Kiến nghị 57
Tài liệu tham khảo 58
3
Danh mục bảng biểu
Trang
Bảng 01. Thống kê một số loài mang tên Sa nhân ở Việt nam……………… 9
Bảng 02. Điều kiện khí hậu thời tiết của 2 xã Tiên Lập và Tiên Châu huyện
Tiên Phước…………………………………………………………………… 19
Bảng 03. Hiện trạng sử dụng đất tại Tiên Lập và Tiên Châu (2009)………… 19
Bảng 04. Tình hình dân số và lao động tại 2 xã Tiên Lập, Tiên Châu (2010)….20
Bảng 05. Số lượng các loài vật nuôi (con) tại 2 xã Tiên Lập và Tiên Châu… 21
Bảng 06. Đặc điểm nông hộ khai thác sa nhân (xã Tiên Châu)……………… 24
Bảng 07. Đặc điểm nông hộ trồng sa nhân (xã Tiên Lập)…………………… 28

đất đai sử dụng không hiệu quả, phần lớn bị bỏ hoang hoá nên đời sống của họ
còn khó khăn vì vậy đã tạo áp lực lên tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài
nguyên rừng.
Trong vùng có nhiều loại lâm sản ngoài gỗ có thể phát triển thành mô hình
sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao mà vẫn đáp ứng được mục tiêu bền vững
như: mật ong, song mây, măng tre, sa nhân, các loại cây làm thuốc… Đáng chú ý
là cây sa nhân, một loại cây mang lại thu nhập cao cho người dân vùng núi.
Sa nhân là vị thuốc quý được dùng nhiều trong y học cổ truyền phương
Đông, còn được làm gia vị, chế tạo nước hoa, dầu gội, xà phòng thơm… Việt
Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có nguồn sa nhân mọc tự nhiên khá
phong phú. Hàng năm nước ta vẫn khai thác được vài trăm tấn sa nhân hoang dại
và trồng, đáp ứng cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu với giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên nạn phá rừng làm nương rẫy, khai thác không đúng cách và
nhiều nguyên nhân khác đã làm cho nguồn sa nhân thu hái được trong tự nhiên
ngày càng giảm sút. Trong khi đó, nhu cầu sa nhân trong nước, trên thế giới hiện
đang có xu thế tăng thêm. Trên thực tế, người dân các xã miền núi ở huyện Tiên
Phước đã và đang tiến hành trồng xen sa nhân dưới tán rừng trồng, trong vườn
nhà để cải thiện thu nhập nhưng lại không dám mở rộng sản xuất do họ chưa
nắm rõ kỹ thuật trồng và chưa biết hết giá trị kinh tế của cây sa nhân cũng như
nơi tiêu thụ.
Trong những năm gần đây việc sản xuất, buôn bán sa nhân còn bị thả nổi
vì sản lượng chưa cao. Việc thu mua xuất khẩu phần lớn do tư thương nắm
giữ, họ tự tìm kiếm thị trường nên tự điều phối giá thu mua và giá xuất sản
phẩm. Tuỳ theo giá cả do tư thương Trung Quốc ấn định mà giá cả thu mua tại
6
chợ cũng thay đổi. Bởi vậy, người sản xuất luôn bị tư thương khống chế về giá
mà không có sự can thiệp của Nhà nước nên không khuyến khích được sản xuất.
Để khắc phục những vấn đề trên, đồng thời phát triển vùng nguyên
liệu trồng sa nhân cho huyện Tiên Phước nói riêng, tỉnh Quảng Nam nói
chung cần có một báo cáo toàn diện về tình hình sản xuất và tiêu thụ sa

cấp.
Đó là nhu cầu tổng thể cho một sản phẩm với một giá đưa ra tại một vị trí
và thời điểm nhất định, với các tiêu chuẩn và điều kiện đặc thù (FAO, 1996).
Nhu cầu được hình thành bởi các đòi hỏi và mong muốn của khách hàng. Có
nhiều thị trường hoặc điểm trao đổi khác nhau cho các sản phẩm và dịch vụ.
Thị trường có thể tồn tại cho nguyên liệu (chẳng hạn như những loại thân
rễ thực vật dùng trong công nghệ nước hoa), cho hàng hoá bán thành phẩm
(chẳng hạn như những loại tinh dầu sẽ dùng trong công nghệ thực phẩm),
và các sản phẩm hoàn chỉnh (chẳng hạn như khăn ăn được dệt từ sợi tự
nhiên). Thị trường có thể là địa phương, khu vực, quốc gia hoặc là quốc tế
[3].
2.1.2 Các kênh thị trường
 Kênh thị trường (Market channe): Đây là một kênh mà qua đó thông
tin được chuyền tải đi và đến các thị trường và đồng thời qua đó các sản phẩm
8
được bán. Kênh thị trường thường được chia ra làm hai loại: kênh tập trung và
kênh phi tập trung.
• Một kênh thị trường tập trung là kênh mà trong đó những sản phẩm
của nông dân hoặc người thu gom được mua cùng nhau ở những điểm thị trường
(chợ) lớn và trung tâm. Tại những nơi đó, người chế biến hoặc những người
buôn bán sỉ thu mua sản phẩm từ những đại lý, môi giới hoặc đại diện của nông
dân. Khi mà tất cả cây dược liệu sản xuất từ những thôn bản rải rác được đưa đến
thị trấn huyện lỵ chính, từ đó chúng được nhà máy dược phẩm thu mua, việc này
cấu thành một ví dụ của một kênh thị trường tập trung.
• Một kênh thị trường phi tập trung là một kênh không sử dụng những
điều kiện thuận lợi thị trường lớn được hình thành, mà thay vào đó người chế
biến hoặc người buôn bán sỉ thu mua hoặc là trực tiếp từ nông dân hoặc là từ
những điểm bán sản phẩm nhỏ. Trong trường hợp này, người dân thường bán các
sản phẩm của riêng họ. Khi những người sản xuất mật ong trực tiếp bán sản sản
phẩm của họ cho thương gia đến tại thôn, thì đây là một ví dụ về một kênh thị

cho các bên hoạt động trong ngành [3].
2.2. Giới thiệu về cây sa nhân
2.2.1. Đặc điểm cây sa nhân
Sa nhân thường phân bố ở dưới tán các khu rừng thứ sinh, đất ẩm mát,
nhất là ven khe, tán rừng dày, đất không dốc quá (< 15
0
) với độ tàn che tán rừng
0,3 - 0,5. Ở độ cao 100 - 800 m so với mặt nước biển, lượng mưa bình quân
1000 - 3000 mm.
Sa nhân thân thảo cao 1,5 - 2,5 m. Thân trên mặt đất (thân khí sinh) hình
trụ, đường kính 0,7 - 1 cm, nhẵn. Sa nhân sinh sản bằng thân ngầm bò ngang
dưới mặt đất, mang vẩy và rễ phụ. Từ thân ngầm mọc lên các thân ký sinh, quả
mọc từ gốc cây mẹ. Thân ngầm mọc bò ngang trên mặt đất, gồm nhiều đốt,
đường kính 0,6 - 0,8 cm, bao bọc bởi các lá vảy màu nâu. Lá mọc so le, xếp
thành 2 dãy, mọc xiên hướng lên phía trên. Lá gần như không có cuống, thân rễ
khỏe bò lan dưới lớp đất mỏng, có khi nổi lên trên mặt đất. Phiến lá hình elip dài
10
20 - 30 cm, rộng 5 - 6 cm, gốc lá hình nêm đều, mép nguyên, chóp lá nhọn có
đuôi. Hai mặt lá nhẵn có bẹ ôm thân bong ra ở gân đỉnh.
Hoa dạng bông mọc cụm từ thân cây, có cán dài mỗi cụm từ 3 - 5 hoa trở
lên. Lá bắc trong dạng mo hình ống, gốc trắng chia 3 thuỳ, ống tràng dài cũng
chia 3 thuỳ, thuỳ giữa to rộng hơn. Cánh môi hình trứng ngược, lõm dạng thìa.
Gốc môi có móng, đỉnh lồi xẻ thuỳ, phía lưng cong. Cánh hoa có màu hoặc gân
màu khác nhau tuỳ loài. Bầu hơi phồng có lông, vòi nhụy có lông tơ ngắn.
Quả cuống ngắn có gai, hình tròn hoặc trứng dài có 3 ô mang 3 khối hạt.
Hạt hình đa diện, đều có áo hạt, vỏ có vân hay u lồi. Quả dạng quả nang, hình
trứng hay gần hình cầu, dài 1,3 – 1,6 cm, đường kính 1,2 – 1,3 cm, chia thành 3
múi nông. Vỏ ngoài có gai ngắn, dày, màu tím nâu, khi già gai ngắn bớt và
chuyển sang màu tím đen hoặc đỏ. Khối hạt nhiều gồm từ 13 – 28 hạt, có áo hạt
màu trắng, vị hơi ngọt, cắn vỡ có vị cay, mùi thơm của tinh dầu.

kích thích tiêu hoá; chữa ăn uống không tiêu, bị nôn mửa, đau dạ dày, đau bụng
do lạnh, viêm ruột, ỉa chảy, kiết lỵ, sẩy thai, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, phù
thũng bệnh cao huyết áp, cao cholesterol máu… Trong quả sa nhân có tinh dầu
dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm. Hạt sa nhân còn dùng như gia vị, chế rượu màu.
Dịch ép từ rễ sa nhân chữa ho [7].
d. Những hiệu quả khi trồng sa nhân
Trồng sa nhân dưới tán rừng tự nhiên và tán rừng trồng góp phần hạn chế
xói mòn, lũ lụt nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống. Sa nhân
không tranh chấp đất với một số loại cây trồng khác mà chỉ tận dụng được đất
12
dưới tán rừng để tăng nguồn thu nhập trên một đơn vị diện tích. Sa nhân rất đa
dạng về thành phần loài nên ngoài giá trị kinh tế còn có ý nghĩa trong việc đóng
góp vào bảo tồn đa dạng sinh học [8].
2.3. Tổng quan về tình hình sản xuất và tiêu thụ sa nhân trên thế giới và Việt
Nam
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sa nhân trên thế giới
Trên thế giới, sa nhân là loài thuộc chi Amomum roxn, thuộc họ gừng
được Carolus Linnaeus công bố năm 1737. Theo số liệu bổ sung của Index
Kewensis thì số tên chính thức trong chi Amomun lên tới 250 loài, phân bố chủ
yếu ở vùng nhiệt đới núi cao. Ấn Độ có khoảng 48 loài, Malaysia có 18 loài.
Trung Quốc có 31 loài sa nhân được thống kê và mô tả, tập trung chủ yếu ở vùng
Nam Trung Quốc giáp với Việt Nam và Lào.
Sa nhân có phân bố ở hầu hết các nước Đông Nam Á và Nam Trung
Quốc. Trước đây, các nước này hàng năm xuất khẩu 400 - 500 tấn Sa nhân khô
giá 7 - 10 USD/kg. Ở Vân Nam (Trung Quốc) sa nhân có vai trò rất quan trọng,
tại đây người ta đã trồng khoảng 13.000 ha, giá khoảng 5,5 USD/kg. Tại
Indonexia diện tích trồng loài Amomum compactum đạt khoảng 1.000 ha, sản
lượng trên 900 tấn.
Sa nhân xuất khẩu là quả già phơi khô, bóc vỏ lấy cả khối hạt. Tên thương
mại của sa nhân là CARDAMOM, được dùng làm thuốc và gia vị. Các nước xuất

K.Schum
Sa nhân đỏ Ba Vì, Thanh Hoá, Phú Yên
8 A.bislorum Jack Sa Nhân 2 hoa Đắc Lắc, Quảng Nam,Đà Nẵng
9 A. repoense Pierre Sa Nhân Quảng Nam, Đà Nẵng
10 A.vespertilio Gagnep Sa Nhân Thầu dầu
se đất
Yên Bái, Bắc Kạn, Thái
Nguyên, Phú Thọ
11 A.schmidtii Gagnep Sa nhân hồi Lai Châu, Sơn La
12 A.thyr Soideum Gagnep Sa nhân hoa thưa Ninh Bình
13 A. repens Sorner Sa nhân. Rễ gấm Lào Cai, Ninh Bình
14 A.davieanum Pierre Sa nhân Lai Châu, Sơn La
15 A.cardamomum Willd Đậu khấu Trung Bộ
Ở Việt Nam, tiềm năng về nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ nói chung
và cây sa nhân nói riêng rất lớn, nhưng ít được quan tâm. Nguồn sa nhân chủ yếu
14
được khai thác từ tự nhiên. Từ năm 1992 đến nay, sa nhân đã được đưa ra trồng
ở một số địa phương ở các tỉnh phía Bắc (Tân Lạc – Hoà Bình, Chân Mộng –
Đoan Hùng – Phú Thọ, huyện Bảo Thắng và thị xã Lào Cai – Lào Cai, Đại Từ –
Thái Nguyên). Mặc dù cây được trồng ở môi trường khí hậu, thời tiết hơi khác
với nơi mọc tự nhiên, nhưng sa nhân tím vẫn sinh trưởng phát triển tốt và ra hoa
kết quả nhiều. Những nơi trồng nhiều như Phú Thọ khoảng 300 ha cho thu nhập
hàng năm từ 180 - 270 triệu đồng. Một số nơi cho năng suất hạt đạt từ 100 - 200
kg/ha. Bình quân mỗi năm chúng ta xuất khẩu khoảng 250 - 400 tấn sa nhân hạt
[11].
Hình 3: Sa nhân trồng xen cây ăn quả (Bảo Thắng- Lào Cai)
Tại cao nguyên Vân Hòa, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, tiến sĩ Nguyễn
Thanh Phương, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ
cùng Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ Phú Yên đã thực hiện dự
án “Phát triển vùng nguyên liệu cây sa nhân tím phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng

hoạch, chế biến, bảo quản. Đây là cơ sở khoa học để chuyển giao cho nhân dân
trồng sa nhân tím đại trà dưới tán rừng khu vực miền núi của tỉnh [12].
Đất rừng Vĩnh Sơn chủ yếu là đất đỏ bazan, lại ở độ cao khoảng 700 m so
với mặt nước biển. Theo một số tài liệu khoa học, cây sa nhân trồng được dưới
tán rừng tự nhiên, rừng cây ăn quả. Thời vụ trồng thường vào vụ xuân. Giống
cây lấy bằng thân ngầm hay gieo từ hạt. Mật độ trồng khoảng 300 cây/ha. Sau 3
năm cây bắt đầu cho quả, năng suất khoảng 100 - 200 kg quả khô/ha/năm.Thông
thường cứ 10 kg quả tươi cho 1,5 - 1,8 kg quả khô, bóc được 0,7 - 0,8 kg hạt.
Hiện nay, quả sa nhân khô có giá 70.000 đồng/kg [12].
Mô hình ở Hòa Bình là trồng trẩu, xoan, dưới tán trồng sa nhân. 1 ha trồng
10.000 bụi, sau 3 năm mỗi bụi cho trên dưới 1 kg quả tươi (2 - 3 lạng quả khô).
Giá bán trên 100.000 đ/kg quả khô, hay trên 100 triệu đồng/tấn. Sa nhân cho
khai thác quả 7 - 8 năm mới phải thay thế.
17
Sa nhân yêu cầu về nước tưới được đưa lên hàng đầu, lô trồng tại Tân Lạc,
Hòa Bình vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1992, do thời tiết mùa xuân có mưa
phùn, không cần tưới nước, tỉ lệ sống đạt từ 91,0 - 96,4%. Trong khi đó, lô trồng
ở xã Quân Chu, Đại Từ, Thái Nguyên vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2004,
lúc này ít mưa và đất khô, mặc dù được tưới nước ngay sau khi trồng nhưng tỉ lệ
sống và mọc chồi chỉ đạt 86,4% [13].
Đối với khai thác tự nhiên, người dân thường vào rừng tự nhiên thu hái
quả sa nhân rồi bán tươi, có khi phơi khô đem bán ở chợ hoặc cho người đi thu
mua. Sau khi thu mua người ta mới tiến hành chế biến rồi đem bán ra thị trường.
Tiêu thụ trong nước chủ yếu là cho các thầy lang, còn xuất khẩu thì sang Trung
Quốc, Nhật Bản.
Cách đây vài chục năm (trước năm 1975), khi diện tích rừng chưa bị phá
hoại nghiêm trọng, sa nhân phân bố rộng rãi và trữ lượng tương đối lớn. Nhà
nước độc quyền thu mua, xuất khẩu riêng, miền Bắc mỗi năm cũng xuất khẩu từ
vài chục đến hàng trăm tấn sa nhân khô. Nhưng hiện nay, do diện tích rừng bị
thu hẹp nhanh chóng, việc khai thác bảo vệ cây sa nhân không được chú ý tốt

+ Hiệu quả kinh tế của sa nhân mang lại đối với hộ khai thác tự nhiên
+ Hiệu quả kinh tế của sa nhân mang lại đối với hộ trồng
+ So sánh hiệu quả kinh tế của cây sa nhân và cây keo mang lại ở cấp
nông hộ
- Thị trường tiêu thụ sa nhân tại huyện Tiên Phước
+ Tình hình tiêu thụ sa nhân
19
+ Chuỗi giá trị của sa nhân: Các kênh tiêu thụ sa nhân, các tác nhân tham
gia vào chuỗi, vị trí địa lý của các tác nhân.
+ Hình thành giá qua các tác nhân
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn mẫu
Chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng
Nam. Đảm bảo các tiêu chí:
- Mang tính đại diện cho hoạt động khai thác và trồng sa nhân tại huyện.
- Là các xã có sản lượng sa nhân cao, người dân có tiến hành khai thác và
trồng sa nhân.
- Thuận lợi cho việc điều tra thu thập số liệu trong quá trình nghiên cứu.
Cụ thể, xã được chọn là xã Tiên Châu có truyền thống khai thác sa nhân từ
lâu đời, xã Tiên Lập với số lượng hộ trồng sa nhân nhiều và tập trung.
Chọn mẫu nghiên cứu
- Tiêu chí chọn hộ: các hộ tham gia vào hoạt động khai thác tự nhiên sa
nhân (Tiên Châu) và trồng sa nhân (Tiên Lập).
- Phương pháp chọn mẫu: thu thập danh sách hộ thông qua các trưởng
thôn. Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên không lặp lại theo danh
sách.
- Dung lượng mẫu: 40 hộ, bao gồm 10 hộ khai thác sa nhân tại thôn 4 xã
Tiên Châu, 20 hộ trồng tại thôn 4 xã Tiên Lập và 10 hộ thu gom trên địa bàn
huyện Tiên Phước.

thung lũng nhỏ. Phần lớn còn lại là đất gò đồi, trong đó 6.500 ha đang phát triển
vườn nhà, vườn đồi, vườn rừng để trồng các cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế
cao. Trên 10.000 ha đất trồng có khả năng canh tác cây trồng dài ngày chưa được
sử dụng có hiệu quả.
Theo số liệu điều tra nông hóa thổ nhưỡng năm 1978, huyện có đến 12
loại đất, nhưng trong đó tập trung chủ yếu là đất feralit đỏ vàng (chiếm 60%),
phát triển trên nền đá granit, đá gơnai, đá filit có tầng canh tác dày, tơi xốp, độ
pH trung tính, giàu đạm.
Khí hậu của huyện mang đậm đặc tính của khí hậu gió mùa. Vì nằm giữa
miền núi và đồng bằng nên mùa mưa thường đến sớm với những trận mưa giông,
mưa đầu mùa vào các tháng 7, 8, 9, lượng mưa hàng năm đạt 2.200 - 2.600 mm.
Nhiệt độ trung bình hằng năm 25,5
0
C, lúc cao nhất là 40
0
C, thấp nhất là 16
0
C.
Độ ẩm trung bình 84,4%.
Tài nguyên thiên nhiên của huyện khá phong phú và đa dạng, có nhiều
loại gỗ quý như lim, chò, gõ, … hơn 500 loại dược liệu thuộc 135 loại thực vật,
động vật (các loại như voi, heo rừng, nhím, tê tê, ong …).
4.1.2. Tình hình cơ bản của 2 xã điều tra
Vị trí địa lý
Xã Tiên Lập cách trung tâm huyện 15 km về hướng Đông Nam, cách tỉnh
Quảng Nam 21 km về hướng Tây Nam. Nằm ở trung tâm 3 xã vùng Đông Nam
22
của huyện, gần Tiên Thọ trung tâm kinh tế phía Đông của huyện, có 2 tuyến
đường huyện đi qua nối các xã với tỉnh lộ 616.
+ Phía Đông giáp với xã Tam Lãnh huyện Phú Ninh,

Nhiệt độ trung bình năm
0
C 29 26
Lượng mưa trung bình hàng năm mm 2.200 2.490
Độ ẩm không khí trung bình % 85 85
Lượng bốc hơi trung bình % 73 73
(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội của 2 xã Tiên Lập và Tiên Châu,
2010)
c. Diện tích đất các loại
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng,
không thể thay thế được. Nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu sản xuất có
tính chất giới hạn theo bề mặt không gian. Quy mô và trình độ sử dụng nguồn
lực này có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập từ sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, việc
tìm hiểu tình hình sử dụng đất đai rất quan trọng, nó giúp chúng ta bố trí cây
trồng hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Đất đai ở 2 xã chủ yếu là đất
Feralit đỏ vàng có tầng canh tác dày, tơi xốp, độ pH trung tính, giàu đạm. Tình
hình sử dụng đất đai của 2 xã được thể hiện qua bảng 3.
Bảng 03. Hiện trạng sử dụng đất tại Tiên Lập và Tiên Châu năm 2009
Xã ĐVT Tiên Lập Tiên Châu
Tổng diện tích đất tự nhiên ha 2.537,32 4.088,78
Diện tích đất đã sử dụng
Đất lâm nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất chuyên dùng
Đất ở
Đất khác
1.894,20
1.368,81
375,45
15,08

lại sự phát triển kinh tế khi công ăn việc làm, đời sống nhân dân không được đảm
bảo. Bảng 4 mô tả tình hình dân số và lao động của 2 xã năm 2010.
Bảng 04. Tình hình dân số và lao động tại 2 xã Tiên Lập, Tiên Châu năm 2010
Chỉ tiêu ĐVT Tiên Lập Tiên Châu
1. Tổng số nhân khẩu người 2.989,00 5.069,00
2. Tổng số hộ gia đình hộ 694,00 1.094,00
3. Mật độ dân số người/km
2
115,00 107,00
4. Số lao động trong độ tuổi
Số lao động nông nghiệp
Số lao động phi nông nghiệp
người
người
người
1.438,00
1.366,00
72,00
2.838,00
2.554,00
284,00
5. Tỉ lệ hộ nghèo hộ 185,00 371,00
Tính bình quân
6. Bình quân lao động/hộ người 2,07 2,59
7. Bình quân nhân khẩu/hộ người 4,31 4,63
(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội của 2 xã Tiên Lập và Tiên Châu,
2010)
Qua số liệu bảng 4 cho thấy số dân cư phân bổ tại 2 xã rõ ràng có sự chi
phối rất mạnh mẽ bởi yếu tố diện tích đất tự nhiên, xã Tiên Lập có diện tích đất
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status