HIỆN TRẠNG VÀ THÁCH THỨC CỦA NGHỀ NUÔI CÁ TRÊ LAI (Clarias macrocephalus × Clarias gariepinus) Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ - Pdf 37

Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 477-487

Trường Đại học Cần Thơ

HIỆN TRẠNG VÀ THÁCH THỨC CỦA NGHỀ NUÔI
CÁ TRÊ LAI (Clarias macrocephalus × Clarias
gariepinus) Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Trương Thị Lệ Thảo và Lê Xuân Sinh1

ABSTRACT
Hybrid catfish are the mix of clarias catfish and African catfish, commonly
cultured in Vietnam and the Mekong Delta because they are easily to be
cultured, delicious, and good taste to Vietnamese consumers. Hybrid catfish
are mostly cultured at household farm level with the average area of 1,867.6
m2 in 1-2 ponds and water depth of 2.2 m. Fingerlings are mostly stocked for
the first crop from the middle of March to the end of April, and 2-3 crops/year.
Average stocking density is 82 fingerlings/m2 and most of fingerlings are
bought from seed suppliers in the city. About 919.2 tones of feed, mostly homemade feed are used per ha per crop. Aof farmers obtained negative profit
showing that a high level of risk faced by hybrid catfish farmers. The farmers
with negative profit tend to stop farming hybrid catfish or shifting to culture
other fish species. Good public water, good farming experience, and
availability of lands/water bodies are considered major advantage. Lack of
capita, fluctuation of fish price and increasing price of feed are difficulties for
farming hybrid catfish. This species is rarely infected by diseases, but high
stocking density and large amount of feed used in association with direct
discharge of waste water to the rivers or public canals causing environmental
problems. In order to have an appropriate development of hybrid catfish
farming in Can Tho the farmers are suggested to stock the fingerlings at the
size of 200-220 individuals/kg and the density of 75-100 individuals/m

2

nuôi cá sử dụng chủ yếu với hệ số tiêu tốn thức ăn khá cao là 3,3 ( ± 0,88).
Năng suất cá thu hoạch đạt 267,6 tấn/ha/vụ và chịu ảnh hưởng với mức ý
nghĩa 5% bởi các yếu tố sau: (i) Số vụ nuôi/năm; (ii) Mực nước trong ao nuôi;
(iii) Mật độ giống thả; (iv) Kích cỡ cá giống; (v) Thời gian nuôi/vụ; và (vi) Tỷ
lệ thức ăn tự chế trong tổng lượng thức ăn sử dụng. Tổng chi phí bình quân
cho nuôi cá là 4.240,4 triệu đồng/ha/vụ, mang lại lợi nhuận khoảng 270,2 triệu
đồng/ha/vụ. Sự biến động lớn về lợi nhuận/ha/vụ và 22,2% số hộ bị lỗ thể hiện
mức độ rủi ro cao trong nuôi cá trê. Những hộ bị lỗ có xu hướng nghỉ nuôi
hoặc chuyển sang nuôi đối tượng khác. Hầu hết người nuôi cho rằng: nguồn
nước thuận tiện, kinh nghiệm nuôi, đất đai sẵn có là những yếu tố thuận lợi.
Nhưng thiếu vốn, biến động của giá bán cá trên thị trường và giá thức ăn tăng
cao là các khó khăn chủ yếu. Cá trê lai ít bệnh, nhưng do nuôi với mật độ cao
và sử dụng nhiều thức ăn tự chế cũng như việc xả trực tiếp nước ao nuôi ra
kênh rạch nên có ảnh hưởng xấu đến môi trường nước công cộng. Để phát
triển mô hình nuôi cá trê lai một cách hợp lý ở địa bàn Tp. Cần Thơ, người
nuôi nên thả cá giống có kích cỡ 200-220 con/kg với mật độ vừa phải (75-100
con/m2), nuôi trong 90-100 ngày/vụ có cân nhắc tới thời điểm thu hoạch để
tránh thu hoạch cá nuôi vào thời điểm chính vụ của hoạt động khai thác thủy
sản tự nhiên trong mùa lũ. Cần thay thế thức ăn tự chế bằng thức ăn công
nghiệp, giữ mực nước ao nuôi từ 2-2,5m, kết hợp với việc sử dụng ao lắng xử
lý nước thải trước khi xả nước ra sông, rạch. Cũng cần tăng cường công tác
quản lý ngành cũng như một số giải pháp hỗ trợ về vốn và kỹ thuật.
Từ khóa: cá trê lai, thức ăn, năng suất, chi phí, lợi nhuận, ô nhiễm.

478


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 477-487

Trường Đại học Cần Thơ

Việc khảo sát được thực hiện từ tháng 12/2009 đến tháng 05/2010 trên cơ sở
phỏng vấn trực tiếp 72 hộ nuôi cá trê lai bằng cách sử dụng bảng phỏng vấn
soạn sẵn sau khi đã phỏng vấn thử và hiệu chỉnh. Phương pháp thống kê mô tả
được áp dụng để mô tả hiện trạng thông qua các giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, tần suất và phần trăm. Phân tích hồi quy
tương quan đa biến được áp dụng nhằm tìm ra các biến độc lập (Xi) có ảnh
hưởng đến năng suất cá nuôi (Y) và qua đó phân tích ảnh hưởng đối với lợi
nhuận thu được. Với a là hằng số, bi là hệ số tương quan của từng Xi và ε là sai
số ước lượng thì mô hình tương quan được viết theo dạng sau:
Y = a + b1X1 + b2X2 + … + b3X3 + ε
479


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 477-487

Trường Đại học Cần Thơ

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khía cạnh kỹ thuật
Các hoạt động sản xuất chủ yếu của 72 hộ nuôi cá trê lai được khảo sát ở địa
bàn TP Cần Thơ là nuôi cá, làm vườn và làm lúa. Với diện tích trung bình của
hộ là 8.714,3 m2/hộ trong đó có 38,8% diện tích sử dụng để nuôi cá trê lai.
Theo kết quả khảo sát thì lý do các hộ chọn nuôi cá trê lai vì cá trê lai là đối
tượng có thể sống trong điều kiện nước có hàm lượng oxygen thấp, ăn tạp, cá
có thời gian tăng trưởng nhanh chiếm 97,2% và có 34,7% ý kiến của hộ nuôi cá
cho rằng hoạt động nuôi cá trê lai mang lại lợi nhuận cao và ổn định, ngoài ra
một số hộ chọn nuôi cá trê lai là theo phong trào nhằm tăng thu nhập của hộ.
Người nuôi cá tiếp cận nguồn thông tin kỹ thuật chủ yếu là qua việc học hỏi
kinh nghiệm lẫn nhau (chiếm 94,4%).
Đa số các hộ nuôi cá trê lai có 1– 2 ao với trung bình 1 ao nuôi là 1.073,9 m2

Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 477-487

Trường Đại học Cần Thơ

Vì giá thức ăn viên cao hơn giá thức ăn tự chế bình quân 2,43 lần nên để tiết
kiệm chi phí thức ăn thì nhiều hộ đã chọn thức ăn tự chế (chiếm 97,2% tổng
lượng thức ăn sử dụng) thay vì thức ăn viên với thành phần dinh dưỡng cao
hơn. Nhưng hệ số tiêu tốn thức ăn của thức ăn viên thấp hơn so với thức ăn tự
chế (1,3 so với 3,3). Như vậy, các hộ chưa sử dụng loại thức ăn phù hợp để
mang lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật tốt hơn.
Đa số các hộ thay nước bằng cách bơm nước trực tiếp từ sông rạch vào ao, chế
độ thay nước bình quân 7,3 lần/tuần ( ± 3,4) thể hiện rằng người nuôi cá rất
quan tâm đến môi trường nước trong ao nuôi, các hộ thay nước ít nhất 1
lần/ngày và 2,8% số hộ chỉ thay nước 1 lần/tuần với lượng nước thay bình
quân từ 30 – 50% thể tích nước trong ao (79,1% số hộ nuôi).
Cá trê lai cũng có một số bệnh nhưng so với các loài cá có vẩy thì cá da trơn dễ
trị bệnh hơn, các bệnh mà các hộ nuôi cá thường gặp phải là bệnh đường ruột
hay còn gọi là bệnh trướng bụng (65,3%) và bướu mang tên khoa học là bệnh
sưng mình (56,9%). Có 56,9% số hộ sử dụng thuốc có hiệu quả nhưng chi phí
trị bệnh cho cá khá cao 3,4 triệu/vụ.
Cá trê lai có thời gian sinh trưởng ngắn nên thời gian nuôi trung bình kéo dài từ
100 – 120 ngày. Cá được thu hoạch 1 lần/vụ với kích cỡ từ 3 – 4 con/kg. Tỷ lệ
sống của cá trê lai cao 88,7% với năng suất trung bình 267,6 tấn/ha/vụ (176,7)
tương đương với kết quả của Nguyễn Trung Hiền (2007). Việc tham khảo giá
từ nhiều thương lái trước khi thu hoạch và bán cá được 48,2% số hộ thực hiện.
Hiện nay người nuôi quan tâm đến cả 2 yếu tố là giá cá trên thị trường và kích
cỡ cá lúc thu hoạch thay vì chỉ là giá cả như trước đây.
3.2 Chi phí thu nhập và lợi nhuận trong nuôi cá trê lai
Chi phí đầu tư cho hoạt động NTTS cao hơn so với các hoạt động làm lúa hoặc
làm vườn,… chiếm 92,2% tổng chi phí của hộ. Do trong những năm gần đây

giá thành sản xuất cá trê lai tương đối cao, có 22,2% số hộ nuôi cá trê lai bị lỗ
với mức lỗ trung bình là 384,41 triệu đồng/ha/vụ. Xu hướng của các hộ nuôi cá
bị lỗ là sẽ chuyển sang nuôi đối tượng khác, hoặc ngưng NTTS hoặc chuyển
sang nghề khác.
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất cá nuôi
Năng suất cá trê lai khá cao (267,6 tấn/ha/vụ), hàm năng suất có R = 80,5%, R2
= 64,8%, R điều chỉnh = 61,5%, df = 6, sig. F = 0,000 thể hiện sự ảnh hưởng
đồng thời của 6 yếu tố sau: (1) Mực nước trong ao nuôi; (2) Số vụ nuôi/năm;
(3) Kích cỡ cá giống; (4) Mật độ giống thả; (5) Thời gian nuôi/vụ; và (6) Tỷ lệ
thức ăn tự chế trong tổng lượng thức ăn sử dụng. Phương trình tương quan đa
biến của năng suất cá trê lai được viết ở dạng sau:
Y = -153.852,9 + 45.317,8X1 + 52.622,7X2 - 759,6X3 + 1.769,1X4 + 2.242,2X5
- 2.089,3X6 + ε
Như vậy, khi tăng số vụ nuôi, mực nước ao nuôi, mật độ thả, thời gian nuôi lên
so với mức độ bình quân hiện nay (và các yếu tố khác không đổi) thì năng suất
cá trê lai cũng tăng theo. Nhưng nếu tăng kích cỡ cá giống và tỷ lệ thức ăn tự
chế lên so với mức bình quân hiện nay thì năng suất cá lại giảm xuống. Để tăng
năng suất của mô hình cần quan tâm đến các yếu tố trên và cần đặt trong mối
quan hệ với lợi nhuận. Khi phân tích ảnh hưởng của 6 biến độc lập trên đối với
năng suất và lợi nhuận được kết quả như sau:
Phân tích số liệu cho kết quả: năng suất và lợi nhận hằng vụ đạt mức cao nhất
trong khoảng độ sâu mực nước nuôi 2-2,5 m, tương ứng với 275,5 tấn/ha/vụ và
352,97 triệu đồng/ha/vụ. Nếu tiếp tục tăng mực nước ao nuôi thì năng suất có
thể tăng thêm (tới 364,63 tấn/ha/vụ) nhưng ngược lại thì lợi nhuận giảm dần
(còn 99,38 triệu đồng/ha/vụ) với mực nước cao nhất (3-3,5 m). Vì vậy, độ sâu
mực nước ao nuôi từ 2 – 2,5 m là phù hợp để cá trê lai phát triển tốt cho năng
suất khá và lợi nhuận cao nhất (Hình 1).

482


2,5 đến 3
m

3 đến 3,5
m

Hình 1: Quan hệ giữa mực nước ao nuôi với năng suất và lợi nhuận

Số vụ nuôi trong năm mà các hộ nuôi cá trê lai nuôi phổ biến ở địa bàn khảo
sát 2 và 3 vụ/năm. Do cá trê lai có thời gian sinh trưởng ngắn nên có thể nuôi
nhiều vụ trong năm. Đối với hộ nuôi chỉ 2 vụ/năm thì năng suất là 279,3
tấn/ha/vụ với tỷ suất lợi nhuận 0,13 lần nhưng đối với hộ nuôi 3 vụ/năm thì
năng suất và B/C thấp hơn (184,9 tấn/ha/vụ và 0,07 lần.
Bảng 1: Mối quan hệ giữa năng suất, lợi nhuận và số vụ nuôi trong năm

Số vụ
(vụ/năm)

Năng suất (tấn/ha/vụ) Lợi nhuận (triệu đ/ha/vụ)

B/C (lần)

2,0

279,30 ± 166,02

296,24 ± 825,55

0,13 ± 0,26


200000
0.05

100000

0

0
220

Hình 2: Quan hệ giữa kích cỡ cá giống với năng suất và lợi nhuận
483


Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 477-487

Trường Đại học Cần Thơ

Kích cỡ cá giống cũng ảnh hưởng đến năng suất của mô hình, đối với những hộ
thả cá giống kích cỡ 200-220 con/kg thì đạt năng suất cá trung bình là 339,06
tấn/ha/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 0,23 tức 1 đồng vốn bỏ ra thu về 0,23 đồng lời
( ± 0,41). Nhưng khi tăng kích cỡ giống lên trên 220 con/kg thì năng suất nuôi
cá trê lai giảm xuống và lợi nhuận cũng giảm theo với tỷ suất lợi nhuận chỉ còn
0,11 lần ( ± 0,12). Vì vậy, người nuôi cá cần chọn kích cỡ cá giống cho phù

>100

Hình 3: Quan hệ mật độ cá giống/vụ với năng suất và lợi nhuận
Bảng 2: Ảnh hưởng của thời gian nuôi lên năng suất và lợi nhuận

Thời gian nuôi Số mẫu Năng suất (tấn/ha/vụ) Lợi nhuận (triệu đ/ha/vụ)
(ngày/vụ)
< 90
16
183,19 ± 120,88
324,69 ± 665,73
90 – 100

18

203,06 ± 112,94

447,19 ± 912,22

100 - 110
110 - 120

17
28

277,08 ± 173,67
304,61 ± 193,55

403,80 ± 959,68
150,36 ± 567,28

350000
300000
250000

Năng suất (kg/ha/vụ)

200000

Lợi nhuận (000đ/ha/vụ)

150000
100000
50000
0
0 - 10 lần

10 - 20 lần 20 - 30 lần 30 - 40 lần

>40 lần

Hình 4: Quan hệ giữa tỷ lệ thức ăn tự chế/tổng lượng thức ăn với năng suất và lợi
nhuận

3.4 Nhận thức của người nuôi cá trê lai
3.4.1 Nhận thức của người nuôi đối với môi trường nước xung quanh khu vực
nuôi cá
Các cán bộ địa phương (phòng Kinh tế, phòng Nông nghiệp và các liên trạm
Khuyến nông ở các quận huyện thuộc Tp. Cần Thơ) đều cho rằng cá trê lai là
loài dễ nuôi, chịu được điều kiện môi trường sống khắc nghiệt, sử dụng tốt
thức ăn tự chế và cho năng suất cao. Tuy nhiên, khi chi phí quá cao và giá thức



Các khu vực nuôi cá chịu ảnh hưởng từ hoạt động của các khu công
nghiệp, nhà máy, xí nghiệp (chiếm 13,9% số hộ).

3.4.2 Thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá trê lai:
Kết quả khảo sát cho thấy những thuận lợi chung chủ yếu của các hộ nuôi cá ở
địa bàn Tp. Cần Thơ gồm: nguồn nước kênh rạch thuận tiện là thuận lợi cho
NTTS (chiếm 68,1% trong tổng số các ý kiến); kinh nghiệm nuôi thủy sản lâu
năm, nghề truyền thống của người dân trong vùng ĐBSCL (chiếm 29,2% các ý
kiến của hộ); tận dụng được lao động gia đình (16,7%); 15,3% ý kiến số hộ dựa
vào đất đai sẵn có của gia đình.
Các khó khăn chính của các hộ nuôi cá trê lai ở địa bàn nghiên cứu gồm có:
chưa chủ động về nguồn vốn (chiếm 34,3% số hộ trả lời), giá cá trên thị trường
rất biến động (chiếm 31,4% số hộ trả lời); giá thức ăn tăng cao (chiếm 27,1%);
đặc biệt 15,7% ý kiến số hộ cho rằng nuôi cá trê lai làm môi trường nước xấu
hơn ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng xung quanh.
Tóm lại, đa số các hộ nuôi cá đều nhận thức được sự ảnh hưởng xấu của việc
xả nước trực tiếp ra sông rạch chưa qua xử lý. Nhưng các hộ cho rằng diện tích
đất nhỏ hẹp nên không thể đào ao lắng, chi phí cao nên cũng chưa có biện pháp
xử lý nước. Thâm canh hóa sẽ đi đôi với ô nhiễm nguồn nước vì vậy cần có
những chính sách cũng như biện pháp quy hoạch vùng nuôi cá trê lai về lâu dài
nhằm phát triển một cách hợp lý mô hình nuôi trong mối quan hệ giữa hiệu quả
kinh tế - kỹ thuật và môi trường.
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Cá trê lai trở thành đối tượng khá nuôi khá quen thuộc của người dân ở địa bàn
Tp. Cần Thơ. Năng suất cá trê nuôi cao hơn nhiều loài cá khác và thu nhập mà
đối tượng này mang lại cũng khá cao. Tuy nhiên, sự biến động lớn về lợi nhuận
và 22,2% số hộ bị lỗ thể hiện mức độ rủi ro cao trong nuôi cá trê lai, đi kèm là
vấn đề ô nhiễm môi trường nước xung quanh khu vực nuôi đang cần được

Lê Hà, 2001. Nuôi cá da trơn ở Đông Nam Á. Tạp chí Thủy sản. Trang 38 – 39.
Lê Xuân Sinh, 2005. Giáo trình môn Kinh tế Thủy sản. Khoa Thủy sản, Đại học
Cần Thơ.
Lê Xuân Sinh, 2009. Thị trường nông sản ở xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp.
Cần Thơ. Báo cáo nghiên cứu thị trường, tư vấn cho Dự án JIRCAS, Đại học
Cần Thơ.
Nguyễn Trung Hiền, 2007. Phân tích hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi
cá ao mương vườn ở khu vực dự án thủy lợi Ô Môn - Xà No. Luận văn Đại
học, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.
Tổng cục Thống kê TP. Cần Thơ, 2008. Niên giám thống kê TP. Cần Thơ.
Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Hải Dương, 2009. Quy trình nuôi cá trê lai.
/>130&lang=vn&expand=news. Cập nhật ngày 24/02/2009.
UBND Tp Cần Thơ, 2008. Bản đồ hành chánh TP Cần Thơ.
.

487




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status