Tổ chức dạy học giải quyết vấn đề, tích hợp ca dao, tục ngữ vào môn giáo dục công dân” - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Viễn cảnh sôi động, tươi đẹp nhưng cũng nhiều thách thức, đòi hỏi
ngành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ
về mọi mặt. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học
và phương tiện dạy học. Trong kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Trung
ương 2 khoá VIII đã chỉ rõ những yếu kém và nguyên nhân: “Hoạt động học
tập trong các nhà trường ở mọi cấp học chủ yếu vẫn là hướng vào mục đích
khoa cử, chưa quan tâm làm cho người dạy ,người học, người quản lý coi
trọng thực hiện mục đích học tập đúng đắn. Phương pháp giáo dục nặng về
áp đặt thường khuyến khích tiếp thu một cách máy móc, chưa khuy ến khích
sự năng động, sáng tạo của người học...”
Những thiếu sót trên đây đã được pháp chế trong luật giáo dục điều 24.2
“Phương pháp giáo d ục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. (Luật giáo dục năm 2005).
Chúng ta biết rằng, môn giáo dục công dân về thực chất là giáo dục con
người, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Nhưng giáo dục
như thế nào để hiệu quả, giáo dục như thế nào là đủ, là đúng thì chúng ta vẫn
chưa có câu trả lời chính xác. Học sinh thường có tư tưởng xem nhẹ môn học
coi đó là môn phụ, thấy môn học khô khan, dễ nhàm chán, trừu tượng, khó
hiểu, những điều học xong thường không được thực hành. Việc học môn học
này đối với học sinh thường mang tư tưởng đối phó, học vẹt. Một tuần chỉ học
có một tiết mà môn học lại không thi tốt nghiệp nên học sinh thờ ơ, xem nhẹ.
Học sinh thường tỏ ra không hứng thú, thiếu đầu tư cho môn học, thiếu
nghiêm túc khi học.

1




- Tìm hiểu nội dung chương trình môn giáo dục công dân để tích hợp ca dao,
tục ngữ vào giảng dạy.
- Tìm hiểu phương pháp dạy học tích hợp phát huy tính tích cực, năng lực
sáng tạo của học sinh.
- Tìm hiểu phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của tiến trình dạy
học đã thiết kế và phân tích các ưu điểm, nhược điểm của phương pháp dạy
học hiện đại.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu, phân tích lí luận.
- Điều tra, quan sát, phỏng vấn.
- Thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông.
6. Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học có tích hợp ca dao, tục ngữ sẽ góp
phần phát huy tính tích cực, hứng thú của học sinh trong học tập, qua đó giúp
các em phát huy năng lực bản thân, hình thành nhân cách đạo đức.
7. Cấu trúc sáng kiến
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, sáng kiến gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận.
Chương 2. Thiết kế tiến trình dạy học giải quyết vấn đề tích hợp ca dao,
tục ngữ vào một số bài học môn giáo dục công dân.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.

3


CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÍ LUẬN


Cùng với xu thế đổi mới về giáo dục tại Việt Nam, thì chương trình dạy
nghề trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp được thiết kế theo quan điểm kết
hợp môn học và mô đun kỹ năng hành nghề. Các mô đun được xây dựng theo
quan điểm hướng đến năng lực thực hiện. Mô đun là một đơn vị học tập có
tính trọn vẹn, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành để người học sau khi học
xong có năng lực thực hiện được công việc cụ thể của nghề nghiệp. Như vậy
dạy học các mô đun thực chất là dạy học tích hợp nội dung để nhằm hướng
đến mục đích sau :
- Gắn kết đào tạo với lao động.
- Học đi đôi với hành, chú trong năng lực hoạt động.
-

Dạy học hướng đến hình thành các năng lực nghề nghiệp, đặc biệt năng

lực hoạt động nghề.
-

Khuyến kích người học học một cách toàn diện hơn (Không chỉ là kiến

thức chuyên môn mà còn học năng lực từ ứng dụng các kiến thức đó).
- Nội dung dạy học có tính động hơn là dự trữ.
- Người học tích cực, chủ động, độc lập hơn...
1.1.3. Đặc điểm của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp có những đặc điểm sau :
1.1.3.1. Lấy người học làm trung tâm:
Dạy học lấy người học làm trung tâm được xem là phương pháp đáp ứng
yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, có
khả năng định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học,
quá trình cá nhân hóa người học. Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi

lực thực hiện là định hướng chú ý vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo
xem người học có thể làm được cái gì vào những công việc thực tiễn để đạt
tiêu chuẩn đầu ra. Như vậy, người học để làm được cái gì đó đòi hỏi có liên
quan đến chương trình, còn để làm tốt công việc gì đó trong thực tiễn như
mong đợi thì liên quan đến việc đánh giá kết quả học tập. Người học đạt được
những đòi hỏi đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người. Trong đào tạo,
việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng trong quá trình đào
tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và sử dụng trong một
thời gian dài, đồng thời còn góp phần tạo niềm tin cho khách hàng.
6


Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học để vận dụng
vào công việc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải
đảm bảo chất lượng và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ. Từ những kết quả đầu
ra đi đến xác định vai trò của người có trách nhiệm tạo ra kết quả đầu ra này,
một vai trò tập hợp các hành vi được mong đợi theo nhiệm vụ, công việc mà
người đó sẽ thực hiện thật sự. Do đó, đòi hỏi người dạy phải dạy được cả lý
thuyết chuyên môn nghề nghiệp vừa phải hướng dẫn quy trình công nghệ,
thao tác nghề nghiệp chuẩn xác, phổ biến được kinh nghiệm, nêu được các
dạng sai lầm, hư hỏng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, biết cách tổ
chức hướng dẫn luyện tập.[2]
1.1.3.3. Dạy và học các năng lực thực hiện
Dạy học tích hợp do định hướng kết quả đầu ra nên phải xác định được
các năng lực mà người học cần nắm vững, sự nắm vững này được thể hiện ở
các công việc nghề nghiệp theo tiêu chuẩn đặt ra và đã được xác định trong
việc phân tích nghề khi xây dựng chương trình. Xu thế hiện nay của các
chương trình dạy nghề đều được xây dựng trên cơ sở tổ hợp các năng lực cần
có của người lao động trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Phương pháp
được dùng phổ biến để xây dựng chương trình là phương pháp phân tích nghề

người học ở phần thực hành; đồng thời kích thích, động viên người học nẩy
sinh nhu cầu, động cơ hứng thú để tạo ra kết quả mới, tức là chuyển hóa
những kinh nghiệm đó thành sản phẩm
của bản thân.
Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của
đời sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết
nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá
những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã
được giáo viên sắp xếp. Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các
phương tiện nghe, nhìn,...và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát
hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng. Từ đó, người
học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực hành. Như vậy,
người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các
thao tác thực hành.
8


Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, người
dạy cũng cần có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những
nhận thức chưa đúng. Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá,
điều chỉnh. Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là
người học phải thực hành được các công việc giống như người công nhân
thực hiện trong thực tế. Việc đánh giá riêng từng người khi họ hoàn thành công
việc, đánh giá không phải là đem so sánh người học này với người học khác mà
đánh giá dựa trên tiêu chuẩn nghề.[3]
1.2. Dạy học giải quyết vấn đề
1.2.1. Khái niệm
Dạy học giải quyết vấn đề là cách thức, con đường mà giáo viên áp dụng
trong việc dạy học để làm phát triển khả năng tìm tòi khám phá độc lập của
học sinh bằng cách đưa ra các tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động

xuôi (khâu này có thể được làm nhiều lần cho đến khi tìm ra hướng đi đúng).
- Trình bày cách giải quyết vấn đề.
Bước 3: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải.
- Kiểm tra sự đúng đắn và phù hợp thực tế của lời giải.
- Kiểm tra tính hợp lý hoặc tối ưu của lời giải.
- Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả.

10


- Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật
ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể.
* Thực hiện dạy học giải quyết vấn đề theo 4 bước

Hình 1.3: Cấu trúc dạy học giải quyết vấn đề theo 4 bước
Bước 1:Đưa ra vấn đề: Đưa ra các nhiệm vụ, tình huống và mục đích của hoạt động
Bước 2:Nghiên cứu vấn đề: Thu thập hiểu biết của học sinh, nghiên cứu tài liệu
Bước 3:Giải quyết vấn đề: Đưa ra lời giải, đánh giá chọn phương án tối ưu
Bước 4:Vận dụng: Vận dụng kết quả để giải quyết bài tình huống, vấn đề
tương tự.
c. Quá trình dạy học theo quan điểm GQVĐ bao gồm nhiều hình thức tổ
chức đa dạng: Quá trình học tập có thể diễn ra với những cách tổ chức đa
dạng lôi cuốn người học tham gia cùng tập thể, động não, tranh luận dưới sự
dẫn dắt, gợi mở, cố vấn của giáo viên; ví dụ:
- Làm việc theo nhóm nhỏ (trao đổi ý kiến, khuyến khích tìm tòi…).
- Thực hiện những kỹ thuật hỗ trợ tranh luận (ngồi vòng tròn, chia nhóm nhỏ
theo những ý kiến cùng loại...).
- Tấn công não (brain storming), đây thường là bước thứ nhất trong sự tìm tòi
giải quyết vấn đề (người học thường được yêu cầu suy nghĩ, đề ra những ý
hoặc giải pháp ở mức độ tối đa có thể có của mình).

mình. Nhận thức đúng đắn quá trình hình thành và phát triển của thế giới. Tin
tưởng vào sự phát triển của xã hội, tránh xa những hủ tục, lạc hậu và mê tín dị
đoan. Trở nên bình tĩnh trước mọi tình huống của cuộc sống. Có thái độ cầu
thị trong học tập,rèn luyện và lao động sản xuất. Tránh cho học sinh tư tưởng
chủ quan, coi thường việc nhỏ. Đây là những đức tính tốt giúp ích rất nhiều
trong quá trình học tập và nghiên cứu của học sinh sau này. Là con đường để
hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa

12


Thứ ba: Giáo dục công dân là phương tiện hữu hiệu để giúp học sinh
hình thành kỹ năng sống. Kỹ năng sống của học sinh là khả năng vận dụng
những kiến thức ( khái niện, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một
nhiệm vụ. Bất cứ kỹ năng nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết. Những kiến thức
mà môn giáo dục công dân đã cung cấp cho học sinh chính là những cơ sở
đầy đủ và mang tính khách quan nhất. Kỹ năng quan trọng mà học sinh tiếp
nhận được khi học môn giáo dục công dân là những kỹ năng như: kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng tiếp nhận thông tin, kỹ năng nhận biết, kỹ
năng phán đoán, kỹ năng phân tích, kỹ năng phản hồi thông tin,…. Nhờ
những kỹ năng này mà học sinh có thể tự tin hơn trong cuộc sống, sống có
trách nhiệm với bản thân gia đình và xã hội.
Như vậy có thể nói môn giáo duc công dân có một vai trò vô cùng to lớn
đối với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Nó giúp cho học sinh có
những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để ứng xử phù hợp trong cuộc sống. Việc
dạy học có hiệu quả môn giáo dục công dân sẽ giúp giảm thiểu những tệ nạn
xã hội đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra trong xã hội. Xây dựng môi trường
văn hóa học đường lành mạnh, không còn lối ứng xử thiếu văn hóa, không
còn tình trạng bạo lưc trong giáo dục, một xã hội chỉ có tình yêu thương, sự
tôn trọng, hòa bình, hạnh phúc.

- Và những điều cần phải tránh.
Những lời răn dạy ấy là những bài học quý giá, rất phong phú đa dạng,
những chuẩn mực về lối sống và nhân cách Việt Nam, đậm đà bản sắc Việt
Nam. Đó là một cuốn sách giáo khoa có giá trị vào loại bậc nhất (nếu không
nói là độc nhất vô nhị) về luân lý và đạo đức học, vì đấy là cái nền để rồi đến
khi hấp thu được tư tưởng đạo đức mới của thời đại mới, mới có thể trở thành
được những con người Việt Nam vừa dân tộc vừa hiện đại. Đó là một mẫu
người Việt Nam đẹp nhất, những con Rồng cháu Tiên xuất hiện dưới thời đại
Bác Hồ, sẽ là những người Việt Nam có tâm hồn đạo đức đẹp nhất từ xưa đến
nay. Cái đẹp của người Việt Nam mới là sự hợp thành bởi hai sắc thái đạo
đức Truyền thống và Hiện đại. Hai yếu tố ấy như là hai phần trong một cơ thể
Người - Thiếu đi một phần sẽ trở nên “bất thành nhân dạng”, không thể nào
trở thành được một Con người mới, của Thời đại mới.
14


Những lời răn dạy này gần gụi với mọi mặt cuộc sống của con người từ
gia đình tới ngoài xã hội, đặc biệt là quan hệ giữa người và người. Những lời
răn dạy này thường rất sâu đậm, do đã được kiểm nghiệm qua thời gian, thể
hiện một nhãn quan sáng suốt, nhìn xa trông rộng, nêu ra được chân lý để mọi
người vươn tới, thấy cái xấu phải tránh và tốt phải theo, để xây dựng được
một tương lai tốt đẹp. Từng lời răn dạy đều toát lên một tình cảm yêu thương
nồng nàn chân thành tha thiết, chí nghĩa chí tình, chất chứa, thấm đậm một
tâm hồn Việt Nam vô cùng cao xa và nhân hậu.
Nhân dân ta cũng đã từng coi tục ngữ ca dao như là những Luật tục,
những khuôn phép nề nếp, những thuần phong mỹ tục, ca ngợi cái tốt cái
thiện, phê phán cái xấu, cái ác, để hướng hành động cho cộng đồng. Những
tình cảm đạo đức này được mô tả chân thực vì được rút ra từ chính cuộc sống
của những người sáng tạo. Vì vậy nó trở thành chân lý vĩnh cửu, được nhân dân
yêu mến thuộc lòng, tâm niệm, phấn đấu vươn tới, cũng có khi còn dùng nói xen

đạo đức không phải chỉ có giá trị trên những ngôn từ trừu tượng mà là thực sự
biến ra thành những sức mạnh thần kỳ. “Đạo đức, đó là cái để phá hủy xã hội
cũ của bọn bóc lột và để đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh
giai cấp vô sản, đang sáng tạo ra xã hội mới, xã hội cộng sản.”
V.I. Lênin.
1.2.1. Ca dao tục ngữ răn dạy về cách ăn ở trong gia tộc .
a. Nhớ tới cội nguồn :
Uống nước, nhớ nguồn.
Con người có tổ, có tông,
Như cây có cội, như sông có nguồn.
Con chim có tổ, con người có tông.
Con chim tìm tổ, con người tìm tông.
Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,
Ăn gạo, nhớ kẻ đâm xay giần sàng.
Ăn quả, nhớ kẻ trồng cây,
Ăn khoai, nhớ kẻ cho dây mà trồng.
Ăn cây nào, vào cây ấy.
Ăn cây nào, rào cây ấy.
16


b. Đạo làm con
Thứ nhất thì tu tại gia,
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ, mới là chân tu.
Nâng niu bú mớm đêm ngày,
Công cha, nghĩa mẹ, coi tày bể non.
Có nuôi con, mới biết lòng cha mẹ.
Lên non, mới biết non cao,

Học ăn, học nói, học gói, học mở.
Tiếng chào, cao hơn mâm cỗ.
Dao năng liếc thì sắc,
Đa ngôn, đa quá.
Rượu nhạt, uống lắm cũng say,
Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.
Nói chín, thời nên làm mười,
Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.
Nói lời, thì giữ lấy lời,
Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
Một lời nói, được quan tiền tấm lụa,
Một lời nói, được dùi đục cẳng tay.
Một lời nói, được quan tiền tấm bánh,
Một lời nói, được đòn gánh phang nghiêng.
Roi song đánh đoạn thời thôi,
Một lời xiết cạnh, muôn đời chẳng quên.
18


Con ơi, mẹ bảo con này,
Học hành chăm chỉ, cho tày người ta
Con đừng học thói chua ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười,
Dù no, dù đói, cho tươi,
Khoan ăn, bớt ngủ, là người lo toan.
Bảo vâng, gọi dạ, con ơi,
Vâng lời sau trước, con thời chớ quên.
Công cha, nghĩa mẹ, khôn đền,
Vào thưa, ra gửi, mới nên con người.
1.2.3. Những lời răn dạy về nhân đức

1.2.5. Những lời răn dạy về giữ tình nghĩa vợ chồng.
Gia đình là hạt nhân của xã hội. Nếu trong xã hội mà có gia đình bền
vững thì nền tảng của xã hội cũng sẽ được củng cố và phát triển vững chắc
hơn. Đối với mỗi gia đình, mỗi thành viên đều có vai trò quan trọng nhưng bố
mẹ, ông bà, vợ chồng chính là trụ cột, là hạt nhân tạo nên hạnh phúc gia đình.
Từ thuở xa xưa, ông cha ta đã quan tâm đến việc xây dựng hạnh phúc gia
đình thông qua tình cảm của những người trong gia đình với nhau. Làm thế
nào để giữ được hạnh phúc của gia đình, bao giờ người ta cũng nghĩ ngay đến
tình cảm của vợ chồng đối với nhau. Bởi tình cảm vợ chồng, bố mẹ, ông bà
chính là những người giữ vai trò quyết định trong tình cảm gia đình.
Từ xa xưa, ông cha ta đã có rất nhiều bài ca dao và dân ca nói về hạnh
phúc gia đình. Bắt đầu bài viết này, tôi đưa một câu ca dao lên đầu để nói với
tất cả mọi người rằng:
Đêm khuya gió lặng, thanh trời.
Khuyên chàng bớt ngủ nghe lời em than.
Lời than của người vợ đối với chồng ở đây có rất nhiều nghĩa. Nhưng
chắc chắn nghe qua câu ca dao này, ai cũng biết đây là một người vợ rất yêu
chồng, sống vì chồng.Ta thường thấy trong gia đình, người mẹ, người vợ bao
giờ cũng là trung tâm của tình cảm. Người vợ dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào,
bao giờ họ cũng rất yêu chồng.
Với người phụ nữ khi đã có chồng, họ thường cho đó là số kiếp mà trời đã
đã định, là số phận đã an bài nên không thể thay đổi, họ chỉ biết một mực
chung thủy với chồng:
20


Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Những câu ca sau đây, từ đời này qua đời khác, người ta truyền cho nhau,
chẳng bao giờ ai quên, chẳng thế hệ nào quên. Người ta luôn nhắc nhau hằng

Ta rằng ta chẳng có ghen
Chồng ta ta giữ, ta nghiến, ta nghiền, ta chơi
Hạnh phúc còn là những điều rất bình dị, đơn sơ:
Làm trai cho đáng nên trai
Ăn cơm với vợ, lại nài vét niêu
Con vợ nó cũng biết điều
Thắt lưng con cón cạy niêu với chồng
Hạnh phúc họ chỉ có được khi hai người thực sự hiểu nhau và yêu nhau thắm
thiết. Đây là tình cảm của người vợ đối với người chồng:
Chồng em vừa xấu vừa đen
Vừa kém nhan sắc, vừa hèn chân đi
Chồng em rỗ sứt, rỗ sì
Chân đi chữ bát mắt thì ngưỡng thiên
Bao giờ vào đám tháng giêng
Bắt chồng em đến khêng chiêng cho làng.
Bài ca dao này chứng tỏ người vợ rất yêu chồng. Mặc dù tự nhận thấy
chồng mình hèn kém và xấu xí đủ thứ, nhưng nếu đến tháng Giêng mà chồng
đến khêng chiêng cho làng thì chồng nàng lại trở thành một người đàn ông rất
đáng giá và sẽ được nhiều người quý trọng. Thực tế, biết có việc khêng
22


chiêng hay không nhưng người vợ cứ hy vọng như vậy. Niềm hy vọng ngây
thơ đó đã gắn chặt hơn tình cảm vợ chồng và tình cảm gia đình.
Còn người chồng nghĩ về vợ, cũng tương tự như vậy. Bài ca dao sau đây viết
theo lối ngoa dụ cho ta thấy rất rõ tấm lòng của người chồng rất yêu vợ.
Lỗ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo: “Râu rồng trời cho”
Đêm nằm thì ngáy o o…
Chồng yêu chồng bảo: “Ngáy cho vui nhà”

ngon, đâu cần phải ăn cao lương, mỹ vị. Vợ chồng cốt sống với nhau chân
thành, yêu thương và chung thủy nhau hết mực sẽ có hạnh phúc đó.
Người phụ nữ Việt Nam khi có chồng rồi bao giò cũng nghĩ đến gia đình,
nghĩ đến đạo vợ chồng, chung thủy trước sau như một.
Có chồng bớt áo thay vai
Bớt màu trang điểm kẻo trai nó lầm
Hoặc:
Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm, xông hương mặc người
Có cặp vợ chồng nào mà thương yêu nhau như cặp vợ chồng còng này:
Chồng còng lấy vợ cũng còng
Nằm phản thì trật, nằm nong thì vừa.
Câu ca dao trên cho thấy, con người Việt Nam dù đàn ông hay đàn bà, dù chồng
hay vợ ai cũng đều tìm mọi cách để giữ gìn và nâng niu hạnh phúc gia đình.Có
nhiều câu ca dao khác nữa cũng nói về sự nhường nhịn của mỗi người trong gia
đình để gìn giữ tình cảm vợ chồng và bảo vệ hạnh phúc gia đình.
24


Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa chẳng rơi hạt nào.

1.3. Kết luận chương 1
Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là chu trình
sáng tạo khoa học và tương ứng với chu trình này đối với việc xây dựng một
kiến thức cụ thể là tiến trình khoa học giải quyết vấn đề
Dạy học theo định hướng giải quyết các vấn đề học tập là điều kiện tốt
để phát huy tính tích cực nhận thức và năng lực nhận thức sáng tạo của HS.
Để phát huy tốt tích cực, sáng tạo của HS thì khi tổ chức HĐ giải quyết vấn
đề, GV cần biết rõ: Các biểu hiện, mức độ, nguyên nhân và các biện pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status