3
1
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Duy Tiến, cùng các thầy cô trong Bộ môn
lịch sử Việt Nam, khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên
đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học khoa học - Đại học Thái Nguyên,
Bộ môn Lịch sử; Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương
đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tác giả yên tâm công tác.
Trong thời gian đi điền dã thu thập tài liệu tác giả đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của các già làng, trưởng bản và những người cung cấp thông tin
ở nhiều xã trong huyện Định Hóa. Tác giả chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý
báu đó.
Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Tác giả
Dương Quốc Huy
Vietluanvanonline.com
Page 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
2.2. Nhà cửa ................................................................................................. 34
Vietluanvanonline.com
2.2.1. Nhà ở ..............................................................................................
34
Page 2
2.2.2. Kiến trúc công cộng ........................................................................ 43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
2.3. Trang phục ............................................................................................ 45
Tiểu kết chƣơng 2 ....................................................................................... 47
Chƣơng 3: VĂN HÓA TINH THẦN ............................................................. 48
3.1. Một số tục lệ trong chu kỳ đời người ..................................................... 48
3.1.1. Cưới xin .......................................................................................... 48
3.1.2. Sinh đẻ ............................................................................................ 56
3.1.3. Các nghi lễ liên quan đến làm nhà mới ............................................ 59
3.1.4. Ma chay .......................................................................................... 61
3.2. Văn học dân gian ................................................................................... 73
3.2.1. Truyện kể ........................................................................................ 73
3.2.2. Ca dao, tục ngữ, câu đố ................................................................... 80
3.2.3. Thơ ca ............................................................................................. 84
3.3. Lễ hội dân gian ...................................................................................... 99
3.3.1. Lễ hội Lồng tồng ............................................................................. 99
này đã hình thành nên khái niệm dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã xây dựng và
phát triển một nền văn hóa Việt Nam với tất cả sự phong phú và độc đáo của
54 dân tộc sinh sống trên đất nước ta. Việc phát triển văn hóa nhằm mục tiêu
tạo nên sự phát triển bền vững của văn hóa Việt Nam nhưng làm thế nào để
tạo dựng nên một sự bền vững khi trên con đường phát triển các dân tộc lại
đang đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Bên cạnh đó, hiện nay các
thế lực phản động trong nước và quốc tế đã và đang sử dụng văn hóa như một
công cụ để kích động mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc.
Do vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống
còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại đối với mỗi dân tộc.
Dân tộc Tày là cư dân bản địa và lâu đời ở nước ta. Họ phân bố trên
phạm vi rộng từ biên giới phía Bắc của các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai
xuống vùng trung du; từ biên giới phía đông của tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn,
Cao Bằng qua huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái và huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình.
Thái Nguyên là một trong những tỉnh đồng bào Tày có mặt lâu đời và có số
dân chiếm 9,08%. Trong đó người Tày ở Định Hóa có số dân trên 43367
Vietluanvanonline.com
Page 4
người chiếm 49,2 % dân số toàn huyện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
2
Do sớm có mặt ở Định Hóa lại chiếm tỷ lệ dân số khá đông, trong tiến
trình phát triển của lịch sử, đồng bào Tày nơi đây đã sớm xây dựng cho mình
Page 5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
Cuốn “Văn hóa Tày Nùng” của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư đã giới thiệu
khá đầy đủ về xã hội, con người và văn hóa của hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt
Nam nói chung. Tuy nhiên, nhiều đặc trưng văn hóa mang tính địa phương
của dân tộc Tày trong đó có Định Hóa chưa được tác giả quan tâm đầy đủ.
Cuốn “Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam” do Viện dân tộc học xuất
bản năm 1992 là công trình nghiên cứu có tính toàn diện và công phu nhất về
điều kiện tự nhiên, dân cư; Lịch sử tộc người, kinh tế truyền thống, văn hóa
vật chất, văn hóa tinh thần, tổ chức xã hội…của hai dân tộc Tày, Nùng nói
chung.
Cuốn “Văn hóa truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả Hoàng
Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn đã
miêu tả và trình bày khá đầy đủ về xã hội và văn hóa Tày Nùng, chữ Nôm
Tày- Nùng, Văn học dân gian, nghệ thuật làm nhà ở của người Tày, Nùng ở
Việt Nam.
Cuốn “Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc” của tác giả
Hoàng Quyết, Tuấn Dũng đã tập trung nghiên cứu sâu về đời sống văn hóa
tinh thần của dân tộc Tày ở khu Việt Bắc với những phong tục tập quán như
tục lệ đặt tên làng, tập quán nhà ở, ăn mặc, thờ cúng tổ tiên, lễ cưới từ xa xưa
của người Tày.
Đề tài nghiên cứu cấp bộ năm 1999 “Tín ngưỡng dân gian Tày lịch
Luận văn nghiên cứu về văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày ở
huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề văn hóa
vật chất và tinh thần là một phạm trù rất rộng mà thời gian và trình độ còn
nhiều hạn chế, cho nên tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu
sau đây:
- Về văn hóa vật chất: tác giả đi vào nghiên cứu về ăn uống, trang phục
và nhà ở của người Tày Định Hóa.
- Về văn hóa tinh thần: đi vào nghiên cứu một số lễ tục trong chu kỳ
đời người (sinh đẻ, cưới xin, làm nhà mới, tang ma); văn học dân gian (truyện
kể, dân ca, tục ngữ, câu đố…); lễ hội Lồng tồng, cầu mùa; Nghệ thuật (múa
rối, hoa văn trên vải, nghệ thuật tạo hình đàn tính).
3.3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về đời
Vietluanvanonline.com
Page 7
sống vật chất cũng như tinh thần của người Tày, rút ra những giá trị tiêu biểu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
Từ đó làm cơ sở giúp các nhà quản lý hoạch định những biện pháp,
chính sách để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Tày ở huyện
Định Hóa nói riêng và của đồng bào dân tộc Tày ở tỉnh Thái Nguyên nói
chung.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
6
nhất thống chí…; Các sách chuyên khảo và các bài viết đề cập đến lịch sử,
văn hóa của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học như: Văn hóa Tày
Nùng của Lã Văn Lô - Hà Văn Thư, Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam của
Viện dân tộc học…
5.2. Tài liệu điền dã
Lời kể của người già, thầy cúng dân tộc Tày, trực tiếp quan sát một số
hoạt động văn hóa của người Tày ở huyện Định Hóa để ghi chép, miêu thuật
một cách cụ thể.
6. Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối hệ thống về
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Tày ở huyện Định Hóa.
- Thông qua việc tìm hiểu một số vấn đề văn hóa của người Tày ở
huyện Định Hóa sẽ giúp cho các cơ quan chức năng đánh giá một cách toàn
diện hơn về công tác bảo tồn và phát triển những giá trị trong văn hóa truyền
thống của người Tày ở Định Hóa.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chƣơng 1: Vài nét về huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Chƣơng 2: Văn hóa vật chất của ngƣời Tày ở huyện Định Hóa tỉnh
Thái Nguyên
Chƣơng 3: Văn hóa tinh thần của ngƣời Tày ở huyện Định Hóa
tỉnh Thái Nguyên
Vietluanvanonline.com
Page 9
đạo, năm Quang Thuận thứ 7, Tuyên Hóa thuộc Thái Nguyên thừa tuyên.
Năm Quang Thuận thứ 10 đổi thành Ninh Sóc thừa tuyên. Đến thời Hồng
Đức, châu Tuyên Hóa thuộc xứ Thái Nguyên. Đến thời vua Gia Long, châu
Tuyên Hóa được đổi thành châu Định Hóa, thuộc phủ Phú Bình. Theo sách
Đại Nam Nhất thống chí chép lại, châu Định “đông tây cách nhau 172 dặm,
nam bắc cách nhau 98 dặm, phía đông đến địa giới huyện Phú Lương 46
dặm, phía tây đên địa giới châu Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang 126 dặm,
phía
nam đến địa giới huyện Văn Lãng 146 dặm, phía bắc đến địa giới châu
Thông
Hóa 47 dặm. Xưa là đất bộ Vũ Định, thời thuộc Minh gọi là huyện Tuyên
Hóa, đời Lê gọi là châu Tuyên Hóa, sau đổi làm châu Định Hóa, thuộc phủ
Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời quản trị…” [40, tr.158-159].
Dưới thời Lê sơ theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi viết năm 1438
huyện Định Hóa đổi thành châu Định Hóa thuộc phủ Phú Bình trong số 9
huyện châu. Định Hóa lúc đó có 40 xã, 12 trang.
Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1832), châu Định Hóa thuộc tỉnh Thái
Nguyên. Năm Minh Mạng thứ 16 (năm 1836) cắt 4 huyện là Định Châu, Văn
Lãng, Đại Từ, Phú Lương đặt thành phủ Tòng Hóa và đặt chức Lưu quan. Địa
giới phủ Tòng Hóa: “cách tỉnh 99 dặm về phía tây, đông tây cách nhau 153
nhau
Vietluanvanonline.comdặm, nam bắc cách
Page
12 187 dặm” [40, tr.158]. Phía đông đến Đồng Hỷ phủ
Phú Bình. Phía tây đến địa giới huyện Sơn Dương, tỉnh Sơn Tây và châu
8
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Phía nam giáp Phổ Yên, phủ Phú Bình. Phủ
9
mang đầy đủ tính chất nhiệt đới gió mùa với một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều
và một mùa đông lạnh, hanh khô.
Đất đai của huyện Định Hóa gồm 3 loại đất chính là đất feralit đỏ
vàng, đất feralit hình thành trên đồi núi thấp màu đỏ hoặc vàng và đất
thung lũng chủ yếu do tích tụ phù sa của sông, suối thích hợp cho việc
trồng lúa. Đất này chủ yếu ở phía Nam nên phía Nam của huyện trở thành
vựa lúa của toàn huyện.
Về thủy văn. Định Hóa không có các con sông lớn mà là hệ thống kênh
suối nhỏ nên không có giá trị về giao thông đường thủy, chủ yếu phục vụ sinh
hoạt, tưới tiêu nước cho gần 7200 ha đất canh tác của huyện.
Rừng là tài nguyên thiên nhiên quan trọng của huyện, chiếm 90% diện
tích tự nhiên. Rừng ở Định Hóa có nhiều lâm sản quý như nghiến, lim, sến,
nứa, trám, măng,… và nhiều loại thú rừng, thuốc nam quý hiếm. Đặc biệt là
nơi có khả năng phát triển cây công nghiệp nhất là cây chè.
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên trên, Định Hóa có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp,… và là nơi thuận lợi để các
dân tộc định cư lâu dài.
1.3. Các thành phần dân tộc trong huyện
Định Hóa là mảnh đất giàu tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội và có
vị trí chiến lược về quân sự, nơi đây cũng là nơi tụ cư của nhiều dân tộc.
Cho đến nay, Định Hóa trở thành nơi sinh sống của các dân tộc: Tày, Nùng,
Kinh, Dao, Cao Lan - Sán Chí, Hoa, Sán Dìu, Mông, Mường. Các dân tộc
này cư trú gần gũi với nhau, cùng nhau đoàn kết bảo vệ và xây dựng quê
hương Định Hóa.
Xưa kia, dân cư ở Định Hóa còn thưa thớt. Trải qua quá trình phát triển
%
1
Tày
43367
49,2
2
Kinh
30698
34,8
3
Cao Lan - Sán Chí
8053
9,1
4
Nùng
Mông
101
0,06
9
Mường
97
0,05
Ghi chú
Nguồn: UBND huyện Định Hoá (2009)
Căn cứ vào bảng thống kê trên thì thành phần cư dân huyện Định Hóa
gồm nhiều bộ phận hợp thành. Người Tày, Nùng, Kinh sinh sống xen cư, trong
đó người Tày là đông nhất 43367 người chiếm 49,2% dân số toàn huyện.
Dân tộc Tày: Trong quá trình phát triển của lịch sử, một bộ phận người
Kinh xuôi lên sinh sống lâu đời ở huyện Định Hóa, dần chuyển hóa thành
người Tày. Đồng bào Tày chủ yếu làm ruộng lúa nước, ngoài ra họ còn tiến
hành các nghề thủ công khác nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống hàng
ngày của gia đình như kéo sợi, dệt vải, đan lát, làm mộc, rèn đúc cuốc, dao…
Bên cạnh đó họ con chăn nuôi trâu, bò lấy sức kéo, chăn nuôi lợn, gà, vịt, cá…
tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình. Dù là ngời Tày bản địa hay người Tày gốc
Kinh đều đã sớm hòa nhập, cố kết với nhau thành một khối Tày thống nhất
Vietluanvanonline.com
„chằm” thay cho lầy lội. Về điều này người Tày có câu thành ngữ “Keo già
hoá Thổ” tức là người Kinh ở với người dân tộc ít người như Tày, Nùng, Dao
lâu cũng mang những đặc điểm như người dân tộc họ ở gần.
Dân tộc Nùng Chiếm 3,3% dân số toàn huyện. Người Nùng vốn là một
trong bốn dòng họ lớn ở Trung Quốc và trở thành tên gọi chính thức vào thế
kỉ 15. Những người Nùng sinh sống trước kia ở nước ta đã hoà vào dân tộc
Vietluanvanonline.com
Page 17
Tày, còn những người Nùng hiện nay mới di chuyển vào Việt Nam khoảng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
12
200 năm nay. Người Nùng Định Hoá định cư lâu đời ở đây, một số họ từ
Tuyên Quang sang hoặc Bắc Kạn chuyển đến.
Người Nùng có rất nhiều nét tương đồng về văn hoá với người Tày họ
cũng sống tập trung thành từng bản trên triền núi, triền sông. Đời sống vật
chất của người Nùng Định Hoá rất giản dị, đạm bạc. Họ ở nhà sàn, ăn cơm
tẻ với những thực phẩm thông thường như măng, rau rừng, thú rừng. Ngày
lễ tết họ làm nhiều loại bánh như bánh chưng dài, bánh khảo, bánh gio, bánh
dày và giết lợn, gà để cúng tế tổ tiên. Người Nùng có tục lệ không cúng giỗ
người chết mà chỉ làm sinh nhật khi còn sống. Trang phục người Nùng giản
dị, kín đáo.
Dân tộc Hoa: Chiếm 1,4% dân số toàn huyện. Dân tộc Hoa tập trung
đông nhất ở huyện Định Hoá chiếm 48,89% số người Hoa trong tỉnh Thái
Các dân tộc khác như Cao Lan - Sán Chí, Mông, Dao, Sán Dìu, Mường
chiếm 16% dân số toàn huyện. Các dân tộc này định cư thành làng riêng.
Người Cao Lan - Sán Chí, Sán Dìu thường ở sâu trong bản. Họ sản xuất nông
nghiệp là chính, cuộc sống tương đối định cư và có ngôn ngữ riêng. Người
Dao trước đây sống du canh du cư, ngày nay nhờ cuộc vận động định canh
định cư, sự giúp đỡ của các cấp, ngành trong huyện mà cuộc sống của họ ổn
định. Người Dao sống chủ yếu dựa vào nương rẫy kết hợp chăn nuôi một số
gia súc gia cầm. Người Mông thường cư trú ở các khu vực núi cao, thường
khó khăn về giao thông, khắc nghiệt về khí hậu. Hoạt động kinh tế chủ yếu là
nương rẫy và khai phá ruộng bậc thang nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ, phương thức
canh tác lạc hậu…
Mặc dù các dân tộc trong huyện Định Hóa có những nét riêng biệt về
vật chất và tinh thần nhưng từ lâu họ đã sống gần gũi, quay quần với nhau,
giúp đỡ lẫn nhau về nhiều mặt trong cuộc sống. Từ việc ma chay, cưới xin,
các ngày lễ tết… cho đến việc làm nhà, đào mương dẫn nước vào ruộng…
đều có sự quan tâm thăm hỏi và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong vùng.
Các dân tộc đã tạo nên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể hết
sức đặc sắc. Từ ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày đến các trang phục
của các dân tộc đều hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ của mỗi
dân tộc.
Dân tộc nào cũng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đa
dạng, đậm đà bản sắc dân tộc phản ánh nhiều mặt của cuộc sống có tác dụng
tích cực trong việc giáo dục nhân cách con người…
Vietluanvanonline.com1.4. Vài nét về ngƣời
PageTày
19 ở huyện Định Hóa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Vietluanvanonline.com
20
thống mương, phai đặc Page
biệt người
Tày ở Định Hóa nói riêng và đồng bào Tày
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
nói chung biết sáng tạo ra những chiếc cọn dẫn nước từ khe suối lên ruộng
bậc thang, đảm bảo việc tưới tiêu có hiệu quả.
Khi canh tác lúa nước, người Tày tiến hành các bước kỹ thuật như sau:
từ cày lật đất rồi cày lại lần hai, bừa lần 1, bón lót, bừa lần hai cho phẳng rồi
mới cấy lúa. Ruộng để gieo mạ được làm rất kỹ. Đất được cày bừa bằng trâu
sau đó người ta bón phân chuồng lên ruộng rồi bừa cho mặt ruộng phẳng, láng
nước. Thóc được làm giống được chọn rất kỹ phải là hạt già, mẩy và đều hạt.
Trước khi đem ủ mầm, thóc được ngâm trong nước khoảng 1 ngày, sau đó
đem ủ từ 2 - 3 ngày khi hạt đã nảy mầm đều thì đem ra ruộng gieo. Khi mạ
gieo xong, để khoảng 4 ngày cho mầm thóc ổn định mới cho nước vào. Từ
khi gieo mạ đến khi cấy khoảng 25 - 30 ngày.
Ruộng để cấy được cày, bừa kỹ càng. Khi làm ruộng, đồng bào đã sử
dụng phân chuồng hoặc phân xanh để bón cho lúa. Ngày nay, nhờ áp dụng
khoa học và cải tiến kỹ thuật nên người Tày đã sử dụng các loại phân đạm
hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cho lúa, nhờ vậy nên năng suất cây trồng
được nâng cao.
nào cũng đào ao nuôi cá vừa để cải thiện đời sống, vừa tạo cảnh quan môi
trường sống sạch đẹp hơn. Nếu là ao chuyên canh thì đồng bào nuôi nhiều
loại cá khác nhau, thời vụ ngắn, dài khác nhau như cá chép, cá trôi, cá mè, cá
trắm,… là cá dài ngày, cá diếc, cá rô,…là cá ngắn ngày. Thông thường cứ 1
hoặc 2 năm người ta tháo ao bắt cá và sửa sang, nạo vét ao cá. Riêng cá nuôi
ở ruộng sau 1 hoặc 2 vụ lúa thì đồng bào thường nuôi các loại cá ngắn ngày,
năng suất thấp.
Không chỉ có chăn nuôi và trồng trọt, đồng bào Tày còn tiến hành hái
lượm và đánh bắt. Sau buổi làm nương, đồng bào tranh thủ hái các loại rau
rừng, nấm, măng về làm thức ăn. Đánh bắt cá ở khe suối, sông, hồ tự nhiên
cũng là một hoạt động kiếm sống mang tính tự nhiên khá phát triển của đồng
bào Tày Định Hóa. Đồng bào sử dụng các loại dụng cụ từ thô sơ như việc bắt
bằng tay đến các loại công cụ cao hơn như chài lưới, dùng thuyền, mảng…
Kinh tế thủ công nghiệp
Đồng bào Tày ở Định Hóa có một số nghề thủ công truyền thống như:
nghề dệt vải, nghề đan lát, nghề làm mộc…
Nghề dệt vải truyền thống của người Tày nơi đây mang tính xã hội cao
và gắn bó khá mật thiết với người phụ nữ Tày. Người Tày ở huyện Định Hóa
Vietluanvanonline.com
Page 22
đã sớm biết trồng bông nhuộm chàm, tạo khung dệt vải. Nhờ bàn tay lao động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
Page 23
tự quản và những quy định riêng. Quy mô của các bản vừa và nhỏ, mỗi bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
18
thường chỉ có 30 đến 60 nóc nhà. Làng bản của người Tày thường được tạo
dựng ở thung lũng có sông, suối hay có đồi núi bao quanh… Tên gọi của bản
thường được đệm từ “nà” (ruộng), “pác” (cửa), “khuổi” (suối) như: Nà
Loòng, Nà Poọc, Pác Máng, Pác Cáp…
Mỗi bản có phạm vi cư trú và đất đai trồng trọt riêng, đường phân giới
thường là đường mòn, khe núi, khe suối, đèo cao… được công nhận theo quy
ước của dân bản. Mặc dù những quy ước đó không được ghi thành văn bản cụ
thể nhưng do sự tôn trọng và tin tưởng nhau nên dân bản đều công nhận. Ý
thức về địa vực cư trú ấy được truyền từ đời này sang đời khác trong dân cư
của làng bản.
Dân cư trong bản bao gồm nhiều họ, trong đó có một đến hai họ đông
người hơn và thường là những họ của người đến cư trú đầu tiên. Mỗi bản đều
có những nghi lễ chung liên quan đến nghề nông, chăn nuôi, lễ cúng thổ thần,
lễ xuống đồng… nhằm cầu mong cho người, cây trồng và vật nuôi phát triển,
làng bản ấm no, hạnh phúc.
Trong mỗi bản làng của người Tày thì quan hệ huyết thống dân tộc là
mật thiết nhất. Bên cạnh đó là quan hệ láng giềng đồng tộc hay khác tộc cũng
là yếu tố quan trọng để giúp nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Trong mỗi bản
đều có miếu thờ thổ công là linh thần cai quản cương giới của làng bản, che
chở cho cư dân của làng bản. Thông qua lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa
dòng cha, mang tính chất phụ quyền ảnh hưởng theo lễ giáo phong kiến Nho
giáo. Trước đây, người Tày ở Định Hóa còn tồn tại nhiều gia đình lớn nhiều
thế hệ, nhưng ngày nay phổ biến là gia đình nhỏ với hai thế hệ bố mẹ và con
cái chưa lập gia đình. Con cái sinh ra lấy theo họ bố, trường hợp con trai đi
làm rể đời để thờ cúng hương hỏa nhà vợ thì con sinh ra lấy theo họ mẹ. Đây
là một trong những đặc trưng phản ánh tính chất phụ quyền trong gia đình
người Tày.
Mỗi tiểu gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, có tài sản riêng, tiêu
dùng riêng. Chủ gia đình là người cha, người chồng. Chủ gia đình làm chủ
toàn bộ tài sản, có quyền quyết định tất thảy mọi công việc trong nhà, điều
khiển mọi công việc sản xuất, tổ chức sinh hoạt, có trách nhiệm cúng bái và là
người thay mặt gia đình giải quyết những vấn đề liên quan với bên ngoài. Khi
xem xét, giải quyết những công việc quan trọng người chủ gia đình thường
bàn bạc với vợ con nhưng tiếng nói quyết định thuộc về chủ gia đình.
Vietluanvanonline.com
Page 25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên