Xình ca của người Cao Lan đặc sắc ngôn từ nghệ thuật - Pdf 37

MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn

11

1.1. Cơ sở lí thuyết

11

1.2. Cơ sở thực tiễn

21

Chương 2: Ngôn từ nghệ thuật của xình ca xét về mặt hình thức

31

2.1. Kết cấu xình ca

31

2.2. Thể, vần và nhịp điệu trong xình ca

49

Chương 3: Ngôn từ nghệ thuật xình ca xét về mặt nội dung


Vietluanvanonline.com

Page 1


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Vietluanvanonline.com

Page 2




3

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1. Sán Chay là một trong 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có số dân là
(1)

147.315 người (1999), gồm 2 nhóm chính: Cao Lan và Sán Chỉ . Nhóm Cao Lan
(còn được gọi bằng tên khác: Hờn Bán, Chùng,…) hiện cư trú ở các tỉnh Yên Bái,
Lào Cai, Hoà Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang,
Lạng Sơn, Quảng Ninh…, nhưng tập trung đông nhất ở huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang (27.869 người). Theo một số nhà nghiên cứu và lời kể của đồng
bào, người Cao Lan vốn từ các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) sang
Việt Nam, cách đây khoảng 300-500 năm.

ca và cả ngôn ngữ - đang bị mai một, pha tạp, không được coi trọng đúng mức, từ
đó có nguyện vọng tìm hiểu nhằm bảo tồn và phát triển vốn văn hoá của dân tộc
mình, trước hết là vốn văn nghệ truyền thống trong đó có xình ca, từ góc nhìn
ngôn ngữ học. Nghiên cứu Ngôn từ nghệ thuật trong xình ca Cao Lan còn phục
vụ cho việc giảng dạy môn Ngữ văn ở trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên Quang nơi tác giả đang công tác.
2. LỊCH SỬ SƢU TẦM NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HOÁ NGƢỜI CAO LAN, VỀ XÌNH CA

VÀ NGÔN NGỮ TRONG XÌNH CA CAO LAN

2.1. Nghiên cứu về văn hoá Sán Chay (nói chung) và ngƣời Cao Lan (nói riêng)
Các mặt trong văn hoá Sán Chay (nói chung) và của người Cao Lan (nói
riêng) là những đề tài khoa học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đã có
không ít những công trình sưu tầm nghiên cứu, những hội thảo khoa học ở các
cấp, những bài báo, báo cáo..., bàn về những vấn đề này. Sự nghiên cứu và thảo
luận chủ yếu về văn hoá truyền thống Sán Chay và quan hệ giữa hai nhóm Cao
Lan và Sán Chỉ trong dân tộc Sán Chay.


Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- Hợp tuyển Văn học dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Sán Chay, Nxb
Văn hoá dân tộc, 1994.
- Phù Ninh - Nguyễn Thịnh (1999), Văn hoá truyền thống Cao Lan, Nxb
Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
- Khổng Diễn (2003), Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà
Nội.
- Lâm Quý (2003), Văn hoá Cao Lan, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Cho đến nay, vấn đề quan hệ giữa hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ trong dân
tộc Sán Chay vẫn chưa có được ý kiến thống nhất: Đây là các nhóm của một dân
tộc hay là hai dân tộc riêng biệt? Câu hỏi này đã được đặt ra và nhận được nhiều
ý kiến bàn luận rất khác nhau, đặc biệt trong Hội nghị xác định thành phần

Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Giang, Phú Thọ...
Một số công trình và bàibáo về văn nghệ dân gian Cao Lan đã được công bố
như:
- Phương Bằng (1981), Dân ca Cao Lan, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
- Lâm Quý (2003), Ngày xuân đi hát "Xình ca", Báo Tân Trào số tết 158+159.
- Lê Hồng Sinh (2003), Khảo sát đặc điểm truyện thơ Cao Lan "Kó Lau Slam",
Luận văn thạc sỹ khoa học Ngữ văn, Hà Nội.
- Nịnh Văn Độ (2003), Bảo tồn hát xình ca dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang, Đề tài
nghiên cứu, Sở Văn hóa Thông tin, Tuyên Quang.


- Lâm Quý (2003), Xịnh ca Cao Lan - đêm hát thứ nhất, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà
Nội.
- Đặng Đình Thuận (2005), Văn hoá dân gian của dân tộc Cao Lan, Nxb Khoa học
xã hội, 2005.
- Phạm Thị Kim Dung (2005), Khảo sát đặc điểm Xình ca dân tộc Cao Lan ở
Tuyên Quang, Luận văn tốt nghiệp, trường Đại học Sư phạm 1, Hà Nội.
- Ngô Văn Trụ (2006), Dân ca Cao Lan, Nxb Văn hóa Dân tộc,

Hà Nội.

- Trịnh Thành Công (2005), "Đi tìm câu hát xình ca", Báo Tuyên Quang số tết
Xuân Ất Dậu.
- Triệu Thị Linh (2006), “Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích về người mồ côi của
dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang”, Luận văn trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên, 2006.
- Triệu Thị Linh (2007), “Cách biểu thị thời gian nghệ thuật trong cổ tích Cao Lan”,
Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 11.
- Triệu Thị Linh (2007), "Một số biểu tượng trong xình ca Cao Lan", Hội thảo ngữ
học trẻ - Xuân 2008.

dùng lời láy để ngân nga”[44; tr.2].
Về ý nghĩa của lời ca, những người già Cao Lan thường khen rằng ý tứ
trong lời đối đáp của xình ca rất thâm sâu, nhiều hình ảnh ví von bất ngờ, thú vị.
Tuy nhiên, cảm nhận cũng như nghiên cứu về ngôn từ xình ca là một công
việc không dễ dàng. Ông Nịnh Văn Độ - một người con của đồng bào Cao Lan
đã


tâm sự: “Suốt quãng đời của tôi...tôi say sưa tìm hiểu về xình ca mà vẫn chưa cảm
nhận được hết cái hay cái đẹp của lời ca trong xình ca dân tộc mình”[8; tr.5].
Như đã liệt kê ở trên (mục 2.2), trong Hội thảo Ngữ học trẻ - Xuân 2008
(do Hội ngôn ngữ học Việt Nam tổ chức), tác giả của luận văn này đã trình bày
báo cáo về một khía cạnh nhỏ của NTNT trong XCCL - "Một số biểu tượng
trong xình ca Cao Lan".
Quả thật, NTNT của XCCL cho đến nay vẫn là một ẩn số, một vấn đề
khoa học chưa được chuyên luận nào trình bày đầy đủ và sâu sắc. Đây là hướng
gợi mở tích cực để tác giả luận văn này tiếp cận xình ca từ góc độ ngôn ngữ học,
với hi vọng hiểu rõ hơn cách tổ chức văn bản và các tầng ý nghĩa sâu sắc, thú vị
của lời ca, cách biểu đạt bằng ngôn từ độc đáo của các nghệ nhân Cao Lan.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN

3.1. Mục đích
- Chỉ ra đặc trưng NTNT của xình ca xét về mặt hình thức, như: kết cấu một đêm
hát, khúc hát, thể thơ, nhịp điệu, cách gieo vần...
- Chỉ ra đặc trưng NTNT của xình ca xét về mặt ngữ nghĩa, như các phép tu từ: ẩn
dụ, so sánh, nhân hoá; cách biểu thị thời gian, không gian nghệ thuật...
- Qua tìm hiểu các đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của ngôn từ xình ca, có được
một số nhận xét về những giá trị của NTNT trong xình ca, đồng thời chỉ ra được
phần nào những nét đặc trưng trong văn hoá như cách ứng xử, cách cảm, cách
nghĩ... của người Cao Lan.



học ra tiếng Việt. Chúng tôi đã tiến hành dịch nghĩa từng đơn vị từ của 266 khúc
hát này để hiểu và phân tích sâu hơn về ngôn từ trong xình ca.
Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn là ngôn từ của xình ca trong các văn
bản: "Dân ca Cao Lan", Nxb Văn hoá dân tộc, phát hành năm 2006 được tác giả
Ngô Văn Trụ sưu tầm và biên soạn, với 898 khúc hát; "Dân ca Cao Lan", Nxb
Văn hoá dân tộc, phát hành năm 1981, tác giả Phương Bằng sưu tầm và biên
soạn, với 665 khúc hát... Việc mở rộng đối tượng nghiên cứu trên nhiều văn bản
khác nhau là để có cái nhìn tổng thể về XCCL, từ đó có những nhận định về đặc
điểm hình thức và ngữ nghĩa của xình ca.
5.2. Phƣơng pháp
- Điền dã: sưu tầm, ghi âm và ghi chép về văn hoá truyền thống Cao Lan, phiên dịch
(dịch nghĩa từng từ và dịch văn học ra tiếng Việt) các bản xình ca.
- Miêu tả: với các thủ pháp phân tích và tổng hợp, trên cơ sở các văn bản xình ca
(nguyên bản và bản dịch).
- Thống kê: tính xác suất một số hiện tượng ngôn từ đáng chú ý trong các văn bản
XCCL.
6. BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồmcác chương mục sau:
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí thuyết
1.2. Cơ sở thực tiễn
CHƢƠNG 2: NGÔN TỪ NGHỆ THUẬTCỦA XÌNHCA XÉT VỀMẶT HÌNH
THỨC

2.1. Kết cấu xình ca
2.2. Thể, vần và nhịp điệu
Chƣơng 3: NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT XÌNH CA XÉT VỀMẶTNGỮ NGHĨA

Trong một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, khi nói về ngôn ngữ và
tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một cộng đồng thiểu số như Cao Lan, không thể
không nhắc đến các khái niệm “ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các tộc người”
(ở người Cao Lan hiện nay là tiếng Việt và trước đây là tiếng Hán); “ngôn


ngữ dân tộc/tộc người” (ở người Cao Lan đó là tiếng Cao Lan); “tiếng mẹ đẻ”:
ngôn ngữ con người học được trong những năm đầu của đời mình, thường là
công cụ tư duy và quan trọng nhất của mỗi người (ở người Cao Lan đó là
tiếng Cao Lan)...
1.1.1.2. Ngôn ngữ văn học
Hiện nay có hai cách hiểu về ngôn ngữ văn học: 1, là hình thức ngôn ngữ
trùng với “ngôn ngữ văn hoá” (ngôn ngữ toàn dân tộc có hệ thống chuẩn thống
nhất, được sử dụng trong mọi lĩnh vực đời sống văn hoá, chính trị, xã hội)
[53;tr.683]; 2, là hình thức ngôn ngữ được sử dụng trong sáng tác văn học. Trong
cách hiểu thứ hai này, ngôn ngữ được xem là yếu tố quan trọng nhất của văn học.
Hai cách hiểu trên không hoàn toàn đồng nhất, nhưng có điểm chung là chú ý
đến ngôn ngữ ở phương diện sử dụng trong đời sống xã hội. Mặt khác, khi đã
được dùng để sáng tác văn học, thì ngôn ngữ của một cộng đồng thường được
khẳng định những ưu điểm (chẳng hạn như “chuẩn mực” về ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp) và có khả năng sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống.
Tuy nhiên trong thực tế, một ngôn ngữ được sử dụng trong sáng tác văn
học (văn học hiểu theo nghĩa chung nhất, là “nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình
tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người” [52; tr.1079]), chưa hẳn đã có
được những ưu điểm và được "sử dụng trong mọi lĩnh vực đời sống”. Đây là
trường hợp trong cộng đồng Cao Lan ở Việt Nam.
Ở người Cao Lan, tiếng Cao Lan được sử dụng trong đời sống hàng ngày
và phần nào đã được sử dụng trong văn nghệ dân gian (xình ca là một loại sáng
tác như vậy). Tuy nhiên, hình thức “ngôn ngữ văn học” này chưa được xác định
là “chuẩn mực”, cũng chưa được sử dụng rộng rãi mà chỉ trong phạm vi gia

đặc trưng là: "tính hình tượng; tính biểu cảm; tính cụ thể; tính cá thể hoá; tính
chính xác; tính hàm súc; tính phóng đại; tính cách điệu [20]...
Có thể nói, từ ngôn ngữ chung đến NTNT là cả một quá trình, bắt đầu là
sự tìm kiếm, thu nạp những yếu tố ngôn ngữ chung, để rồi lựa chọn mài giũa
chúng, phát triển thành NTNT. Đó là con đường sáng tạo theo qui luật của cái
đẹp khiến NTNT không ngừng được hoàn thiện.
Tác giả Trần Đình Sử cho rằng "đặc trưng thứ nhất của lời văn là tính
hình tượng từ trong nội dung của lời nói" [20]. Trong các tác phẩm văn nghệ
nói chung, XCCL nói riêng, ngôn từ là chất liệu chính để xây dựng hình tượng.
Chắc hẳn, cùng với việc sáng tác theo khuôn mẫu có tính chất qui ước của dân
ca nói chung, các TGDG Cao Lan đã có những sáng tạo riêng trong sử dụng
ngôn từ để xây dựng hình tượng nghệ thuật, để xình ca có được sức sống lâu
bền và hấp dẫn.

1.1.2. DÂN CA - XÌNH CA

1.1.2.1. Dân ca
Theo cách hiểu phổ biến nhất, dân ca là bài hát lưu truyền trong dân gian.
Trong cách định nghĩa mang tính thuật ngữ thì dân ca là “một loại hình sáng tác
dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp
với nhau trong diễn xướng” [9; tr.91].
Căn cứ vào đặc điểm âm nhạc, làn điệu có thể chia dân ca thành hai loại
chính: loại đa điệu và loại đơn điệu. Đa điệu là loại có nhiều làn điệu như dân ca
quan họ Bắc Ninh (có khoảng 200 làn điệu khác nhau). Đơn điệu như hát ví,
giặm Nghệ Tĩnh, hát trống quân, hát đúm...Ở loại dân ca đa điệu, “khi hát đối
đáp, người ta thường yêu cầu phải đổi giọng (nghĩa là bên nam hát làn điệu

nào



Xình ca hay xịnh ca, hay sịnh ca, sình ca? Căn cứ vào cách ghi phổ biến
hiện nay và “giọng” của người Cao Lan khi phát âm từ này, đồng thời căn cứ vào
sự tương ứng kí hiệu của chữ Quốc ngữ, theo chúng tôi, nên viết là xình ca.
1.1.3. KẾT CẤU - NHỊP ĐIỆU - VẦN

1.1.3.1. Kết cấu
Hiểu theo cách chung nhất, kết cấu là "sự phân chia và bố trí các phần, các
chương, các mục theo hệ thống nhất định để thể hiện nội dung của tác phẩm"
[53; tr.485]. Kết cấu đảm nhiệm chức năng rất đa dạng: bộc lộ tốt chủ đề và tư
tưởng của tác phẩm, triển khai hấp dẫn cốt truyện, cấu trúc hợp lí hệ thống tính
cách nhân vật, tổ chức điểm nhìn trần thuật của tác giả..., kết cấu tạo ra "tính
toàn vẹn của tác phẩm như một hiện tượng thẩm mĩ" [9; tr.131-132].
Trong kết cấu XCCL, những khái niệm như "chương hát", "bài hát", "khúc
hát", "câu hát", "lời hát" cần được hiểu một cách thống nhất.
Theo cách hiểu chung nhất, Chương là một "phần của sách có nội dung
tương đối trọn vẹn" [53; tr.203]. Chương hát xình ca cũng tương tự là một bộ
phận được chia ra và được đặt trong quan hệ với tổng thể đêm hát, có nội dung
tương đối hoàn chỉnh.
Trong chương hát có một đơn vị (trên chữ viết được ghi thành 4 "dòng
thơ", mỗi "dòng" 7 chữ) được các tác giả trước đây gọi bằng nhiều tên khác nhau
như: "câu", "bài" [34; tr.193], "bài", "câu", "lời ca" [48; tr.121-124].


Theo cách hiểu chung nhất, câu là "đơn vị cơ bản của lời nói, do từ tạo
thành, có một ngữ điệu nhất định, diễn đạt một ý trọn vẹn" [53; tr.137], đồng vì
vậy để dễ dàng trong miêu tả chúng tôi đề nghị một "dòng" thơ như trong XCCL
(trên chữ viết là một dòng) nên gọi là một câu.
Nếu hiểu "lời" là một "chuỗi âm thanh phát ra trong không khí nói mang
một nội dung trọn vẹn nhất định" [53; tr.582], thì một đến hai "dòng" thơ có thể
gọi là "lời". Như vậy, không nên gọi cả 4 "dòng" thơ 7 chữ hoặc những hình thức

Cơ sở của khái niệm này là từ Hy Lạp “Rhythmós”, có nghĩa là “tính nhịp
nhàng, đều đặn”. Từ điển giải thích thuật ngữ văn học định nghĩa “Sự lặp lại
đều đặn các đơn vị lời nói giống nhau, được dùng để thực hiện các chức năng
cấu trúc, cấu tạo văn bản và chức năng cảm xúc - biểu cảm” [46. tr.292] được
xem là "tiết điệu", hay còn gọi là "tiết tấu".
Có thể xem nhịp điệu như đặc trưng của một tác phẩm nghệ thuật có hình
thức thể hiện là lời ca. Đó là “lặp lại cách quãng đều đặn và có thay đổi của các
hiện tượng ngôn ngữ, hình ảnh, môtip... nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về
thế giới” [9; tr.205]. Nhịp điệu, tiết tấu tạo ra cảm giác vận động nhịp nhàng có
qui luật, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của tác phẩm.
Tác giả Mã Giang Lân khẳng định rằng "nhịp điệu là linh hồn của thơ ca,
vần và nhịp điệu còn gắn liền với thể" [18; tr.20]. Ở mỗi thể, nhịp điệu được sử
dụng khác nhau, chẳng hạn trong thơ: thơ 2 chữ - nhịp 2/2 giống đồng dao; thơ 3
chữ - nhịp 1/2; thơ 4 chữ - nhịp 2/2; thơ 5 chữ - nhịp 3/2 và 2/3; thơ 6 chữ - nhịp
2/2/2 và 2/4; thơ 7 chữ - nhịp 2/2/3, nhịp 3/2/2, nhịp 4/3, nhịp 3/4; thơ 8 chữ nhịp 3/2/5. Thơ lục bát chủ yếu ngắt nhịp 2, có khi ngắt nhịp 1, nhịp 3…
hoặc


hỗn hợp cho thích ứng với nội dung cảm xúc; thơ tự do - nhịp được sử dụng linh
hoạt, phong phú.
Trong cấu trúc ngôn ngữ của các tác phẩm nghệ thuật dân gian nói chung,
XCCL nói riêng đều có những yếu tố ngôn ngữ được lặp lại, luân phiên tạo thành
nhịp điệu. Chức năng của nhịp điệu không chỉ là cấu trúc, cấu tạo văn bản mà
còn được sử dụng để tạo cảm xúc và sự gợi cảm.
1.1.3.3. Vần
Nói đến nhịp điệu trong thơ ca, không thể không nhắc đến vần. Theo cách
hiểu chung nhất, vần được sử dụng trong thơ ca là hiện tượng lặp lại một (hoặc
các) bộ phận của âm tiết ở một (hoặc những) vị trí nhất định trong câu, để tạo nên
nhịp điệu. Đồng thời, vần có vai trò liên kết các câu trong khúc ca hay bài thơ.
Phân biệt theo vị trí gieo vần, ta có vần chân và vần lưng; phân biệt theo

yếu ở nét nghĩa biểu cảm, nghĩa bóng.
Từ hình ảnh trở thành biểu tượng phải trải qua một quá trình biến đổi ý
nghĩa. Quá trình chuyển hoá này diễn ra trong một phạm vi khác nhau: đời sống


văn hoá, nghệ thuật, văn học… Vì vậy, khi nghiên cứu về biểu tượng cần phân
biệt rõ các khái niệm: "biểu tượng văn hoá", "biểu tượng nghệ thuật", "biểu
tượng NTNT".
- Biểu tượng văn hoá:
"Những thực tế vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, ý niệm,…) có
khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn
tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hoá nhất định"
[12] là những biểu tượng văn hoá. Biểu tượng văn hoá bao gồm cả những biến
thể vật thể (trong các ngành nghệ thuật như kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc,…) và
phi vật thể (tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, văn học).
- Biểu tượng nghệ thuật: là các biến thể loại hình của biểu tượng văn hoá trong
những ngành nghệ thuật khác nhau như hội hoạ, âm nhạc, văn học…
- Biểu tượng NTNT: là các biểu tượng nghệ thuật được thể hiện dưới dạng tín hiệu
ngôn ngữ trong văn học, còn gọi là "từ - biểu tượng" (word-symbols) [12]. Nếu như
biểu tượng chỉ là hình ảnh cảm tính của con người về các hình thức vật chất cụ thể
ở hiện thực khách quan, thì biểu tượng ngôn từ là sự tín hiệu hoá các hình thức vật
chất cụ thể ấy qua hệ thống âm thanh ngôn ngữ.
Có thể nói, "ngôn từ đã mở ra cho biểu tượng những quan hệ mới, những
khả năng mới, những khả năng kết hợp còn đang tiềm ẩn hoặc không xuất hiện
trong thực tế khách quan, hiện thực hoá và phát triển ý nghĩa của một biểu tượng
trong một năng lực biểu hiện to lớn" [12].
Cấu trúc NTNT trong các tác phẩm nghệ thuật nói chung, xình ca nói
riêng có thể xem như một tổng thể các tín hiệu thẩm mĩ, trong đó vai trò quan
trọng thuộc về các "từ - biểu tượng" với tư cách là những điểm nhấn trong tổng
thể cấu trúc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status