THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ NỘI SINH Ở VIỆT NAM
3.1. Thực trạng về năng lực khoa học công nghệ ở nước ta
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi không chỉ nâng cao chất
lượng đào tạo mà việc phát triển năng lực khoa học công nghệ trở thành nhu cầu
cấp thiết của đất nước. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã bước vào giai đoạn
phát triển cao của khoa học công nghệ, trong khi đó nước ta vẫn còn trong tình
trạng khá lạc hậu, chưa ứng dụng hoặc ứng dụng nhiều thành tựu khoa học công
nghệ tiên tiến. Nhiệm vụ đặt ra của thời ký quá độ ở nước ta là xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại cho đất nước, từng bước đưa nước ta trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, chỉ có phát huy năng lực khoa
học – công nghệ mới thực hiện được mục tiêu đó. Mặt khác, chỉ có trình độ
khoa học công nghệ cao mới có khả năng tiếp thu công nghệ tiên tiến cũng như
sáng tạo ra công nghệ mới.
Nhận thức được vị trí, vai trò của năng lực khoa học công nghệ đối với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong những năm qua Đảng,
Nhà nước ta đã từng bước có những chính sách đúng đắn nhắm thúc đẩy sự phát
triển của khoa học công nghệ. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX (2001) của Đảng đã nhận định: "Thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến
đối. Khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò
ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển của lục lực sản xuất". Với những
chính sách đúng đắn nói trên, nền táng về năng lực khoa học công nghệ ở nước
ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Chúng ta đã đầu tư xây dựng và hình
thành các khu cộng nghệ cao ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và đang từng
bước xây dựng phát triển các khu công nghệ cao ở các tỉnh trong cả nước. Thị
trường khoa học công nghệ đã từng bước hình thành và phát triển và đi liền với
nó là các quy định pháp lý về khoa học công nghệ cũng được bổ sung, hoàn
thiện. Ngân sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học cũng từng bước tăng lên. Sự
ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10% doanh thu.
Chúng ta cũng chưa hình thành một thị trường khoa học công nghệ theo
đúng ngĩa của nó. Chính thực tế này đã dẫn đến tình trạng vi phạm bản quyền
và tác phẩm, tác giả trong quá trình khai thác sử dụng. Điều này không tạo được
động lực nghiên cứu, sáng tạo của đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam phục vụ
quá trình cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội.
Hệ thống giáo dục của nước ta có một độ chênh khá lớn về chất lượng so
với các nước trong khu vực ASEAN và theo đánh giá của các chuyên gia thì độ
chênh đó ngày càng có xu hương rộng ra, thiên về bất lợi cho Việt Nam. Hiện
nay chưa có trường đại học nào của Việt Nam cấp bằng được quốc tế thừa nhận.
Chính từ thực tế này mà chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế chảy đôla
ra các nước do quá trình thương mại hóa giáo dục của các nước tiên tiến. Tình
hình này cũng gây ra một hạn chế lớn cho đội ngũ lao động của Việt nam khi ra
làm việc ở nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn.
Tỷ lệ nghiên cứu khoa học trên 100 dân của Việt Nam thấp hơn nhiều so
với các nước tiên tiến. Cụ thể là: Việt Nam là 0,18; Hàn Quốc là 2,19 (gấp 12,2
lần); Đức là 2,83 (gấp 15,7 lần). Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ khoa
học và hiệu quả nghiên cứu khoa học cũng thấp hơn so với nhiều nước trên thế
giới. Sự liên kết giữa khoa học – giáo dục với các doanh nghiệp còn rất yếu,
đang là sức cản rất lớn trong quá trình hội nhập.
Sự phân ly giữa nghiên cứu và giảng dạy là một một điểm yếu nổi bật của
giáo dục đại học, sau đại học ở nước ta. Theo đánh giá của cồng đồng khoa học
thế giới thì tiềm năng của một nền khoa học và công nghệ chủ yếu dựa vào số
công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trên các tạp chí quốc tế cũng
như số bằng phát minh sáng chế đã được các cơ quan bảo hộ phát minh sáng
chế quốc tế cấp. Theo những chuẩn mực như thế chúng ta sẽ thấy được một nần
kinh tế nghèo nàn lạc hậu bao giờ cũng đi kèm với một nền khoa học – công
nghệ yếu kém, nhiều lĩnh vực đang ở trong tình trạng tụt hậu. Từ năm 1998 đến
+ Nâng cao các khả năng tập hợp năng lực khoa học công nghệ để thực
hiện các chức năng nghiên cứu, tiếp thu và lựa chọn công nghệ quốc gia.
+ Cần xây dựng một cơ chế dân chủ hóa trong khoa học – công nghệ,
phát huy sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, toàn dân vào sự nghiệp phát triển
khoa học – công nghệ.
Thứ hai, Xây dựng năng lực nhận dạng nhu cầu ưu tiên trong các hoạt
động khoa học – công nghệ.
Đây là năng lực cần được phát huy cả tầm vĩ mô và vi mô. O73 tầm vĩ mô
những ưu tiên trong việc lựa chọn công nghệ ở nước ta trong thời gian tới là
phát triển các ngành công nghệ cao và hiện đại hóa công nghệ truyền thống
đống thời sử dụng công nghệ thích hợp phù hợp với kinh tế - xã hội, sinh thái
của từng địa phương. Ở tầm vi mô, đối với các doanh nghiệp thì công nghệ là
công cụ phục vụ mục tiêu phát triển kinh doanh, do vậy phải lựa chọn trên cơ sở
đáp ứng yêu cầu mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.Những ưu tiên trong
việc lựa chọn công nghệ đối với các doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian tới:
+ Các công nghệ được lựa chọn phải mang lại hiệu quả cao cho hoạt động
của các doanh nghiệp
+ Các công nghệ được lựa chọn phải tận dụng khả năng chất xám trong
nước, đồng thời phải khai thác được những nguồn lực từ nước ngoài.
+ Các công nghệ được lựa chọn phải có khả năng bổ sung, hợp lý hóa,
hiện đại hóa các khâu yếu trong thực tiễn sản xuất ki nh doanh và phải có khả
năng thương phẩm hóa.
+ Các công nghệ được lựa chọn phải đảm bảo không làm tăng chi phí của
xã hội và không gây ra sự công kềnh của bộ máy tổ chức, nhân sự trong các
doanh nghiệp.
+ Phải có một hệ thống thông tin nhanh chóng và có hiệu quả
Thứ ba, Nâng cao năng lực thẩm định và đánh giá khoa học công nghệ. Ở
nước ta công tác thẩm định và đánh giá khoa học công nghệ còn hạn chế. Điều
khoa học - công nghệ. Để giải quyết vấn đề này, trong thời gian tới chúng ta cần
tập trung coi trọng việc nghiên cứu cơ bản cả về khoa học xã hội nhân văn, khoa
học tự nhiên và khoa học kỹ thuật và công nghệ.