Lời nói đầu
Xu hớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế mở ra những cơ hội lớn
cho nền kinh tế đất nớc phát triển và vơn lên tầm cao mới. Những kết quả đạt đợc sau gần 20 năm đổi mới là minh chứng thuyết phục nhất cho đờng lối đúng
đắn mà Đảng ta đã lựa chọn. Đất nớc đang thay da đổi thịt từng ngày, tất cả
các ngành, các lĩnh vực kinh tế đều đang hoà mình vào dòng cuốn của guồng
máy nền kinh tế thị trờng. Ngân hàng- một trong những ngành kinh tế then
chốt, cũng không nằm ngoài tiến trình phát triển chung đó. Tất cả các ngân
hàng đều đã và đang có những bớc chuyển mình mạnh mẽ, dần khẳng định vai
trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế.
Với sự cải cách cơ bản về cách thức quản lý, t duy kinh doanh, với sự hỗ trợ
của các cơ quan quản lý Nhà nớc và cơ hội ứng dụng những công nghệ ngân
hàng hiện đại, các NHTM đang có đợc những điều kiện rất thuận lợi để tự hoàn
thiện mình và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất nớc. Tuy nhiên,
bên cạnh những cơ hội, các ngân hàng cũng đang phải đối mặt với những thách
thức rất lớn, đó là cạnh tranh, nguy cơ tụt hậu, trình độ nhân viên, kinh nghiệm
về hội nhập kinh tế,... và đặc biệt là vấn đề rủi ro- ngơì bạn đồng hành trong tất
cả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tín dụng hiện vẫn là mảng kinh doanh chủ đạo của các NHTM Việt Nam
hiện nay. Đây cũng chính hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất và cũng gây hậu
quả nặng nề nhất cho ngân hàng khi rủi ro tín dụng xảy ra. Với tốc độ tăng trởng kinh tế từ 7-8%/ năm, tình trạng tín dụng nóng ngày càng gia tăng, các
khoản nợ xấu phát sinh,... nguy cơ rủi ro tín dụng luôn hiện diện và đe doạ sự
an toàn của các ngân hàng. Vì vậy toàn ngành ngân hàng nói chung và từng
ngân hàng nói riêng cần thiết lập và duy trì hệ thống các công cụ kiểm tra, kiểm
soát nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong qúa trình hoạt
động của mình. Trong đó, cần chú trọng hơn nữa đến công tác Kiểm toán nội
bộ hoạt động tín dụng.
1
Từ nhận thức về vai trò và sự cần thiết của KTNB hoạt động tín dụng, cùng
bộ hoạt động tín dụng tại các NHTM
1.1
Tổng quan về Kiểm toán
1.1.1 Sơ lợc về sự ra đời và phát triển của Kiểm toán
Auditus là từ gốc Latinh của thuật ngữ Kiểm toán (Audit), có nghĩa là
nghe. Ngay từ thời kỳ đế chế La Mã, Kiểm toán đã xuất hiện với hình thức
các thông tin đợc đọc to trớc hội nghị để đảm bảo tính trung thực của nó.
Chủ nghĩa t bản ra đời( thế kỷ 17), rồi bớc vào giai đoạn phát triển mạnh
mẽ( cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19) đã làm cho đời sống kinh tế, xã hội các nớc
t bản có những đổi thay căn bản, tốc độ tăng trởng kinh tế cao, tất cả các ngành
nghề và loại hình kinh doanh đều có bớc phát triển vợt bậc. Đó là môi trờng lý
tởng cho hoạt động Kiểm toán không ngừng hoàn thiện và tạo đựơc vị thế ngày
càng cao.
Cho đến trớc thế kỷ 20, Kiểm toán vẫn chỉ đợc tiến hành để xác định tính
chính xác của các thông tin tài chính, hoạt động Kiểm toán tuân thủ do các
Kiểm toán viên Nhà nớc và Kiểm toán viên nội bộ thực hiện là chủ yếu. Với sự
ra đời của mô hình Công ty cổ phần và Thị tròng chứng khoán, quy mô của các
Doanh nghiệp ngày càng mở rộng, diễn ra sự tách rời giữa quyền sở hữu của các
cổ đông với chức năng quản lý của các nhà điều hành. Điều này làm xuất hiện
nhu cầu kiểm tra của ngời chủ sở hữu nhằm chống lại sự gian lận của các nhà
quản lý lẫn nguời làm công, từ đó Kiểm toán độc lập ra đời nhằm thoả mãn nhu
cầu này.
Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động Kiểm toán đã đạt đợc những thành
tựu to lớn và có bớc phát triển toàn diện, mang tính hệ thống trên toàn thế giới,
trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống kinh tế toàn cầu. Có thể kể
3
tiến hành nhằm thu thập và đánh giá các bằng chứng về những thông tin có thể
4
định luợng của một tổ chức nhằm thẩm định và báo cáo về mức độ phù hợp
giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã đợc thiết lập.
Theo đó, các Kiểm toán viên độc lập là những ngời có đủ trình độ, năng lực
để thực hiện Kiểm toán bằng cách thu thập các bằng chứng, thẩm định và đánh
giá các thông tin xem có phù hợp với chuẩn mực đã đựơc lựa chọn làm tiêu
chuẩn từ khi bắt đầu kiểm toán hay không, sau đó sẽ báo cáo kết quả. ở đây,
KTV có đủ năng lực và độc lập đợc hiểu là những ngời làm nhiệm vụ kiểm toán
phải có đủ khả năng để hiểu các chuẩn mực kiểm toán đợc sử dụng, từ đó biết
đựoc những bằng chứng cần thu thập cần đảm bảo về chủng loại, số lợng... nh
thế nào để có đợc kết luận hợp lý sau quá trình phân tích, xem xét. Hơn nữa,
tính độc lập, khách quan, vô t khi nhận xét, đánh giá các bằng chứng là điều
kiện tiên quyết đối với mỗi KTV khi tiến hành một cuộc kiểm toán, là cơ sở cho
một báo cáo kiểm toán xác thực, khách quan.
Các bằng chứng kiểm toán là những thông tin mà KTV sử dụng để xác
định thông tin đợc kiểm toán có phù hợp với các chuẩn mực đã đề ra hay
không? Đó có thể là các văn bản, tài liệu, chứng từ, tệp tin...Tuỳ vào mục đích
kiểm toán cũng nh chất lợng các bằng chứng sẽ quyết định về số lợng của
chúng là nhiều hay ít.
Chuẩn mực kiểm toán đợc hiểu là các nguyên tắc, thủ tục cơ bản, những
văn bản hớng dẫn, giải thích đợc lựa chọn khi tiến hành một cuộc kiểm toán. Có
những chuẩn mực chung áp dụng trên phạm vi quốc tế, bên cạnh đó cũng có
những chuẩn mực riêng của từng quốc gia đợc xác định phù hợp với đặc điểm
kinh tế xã hội của quốc gia đó.
Kết quả của mỗi cuộc kiểm toán là các báo cáo Kiểm toán trình bày ý kiến
nhận xét, đánh giá của KTV về mức độ phù hợp giữa các thông tin số lợng với
mình về các thông tin, tài liệu đã kiểm tra, từ đó, chia sẻ trách nhiệm với các cơ
quan chỉ đạo, giám sát hoặc với các nhà quản trị, nhằm giảm rủi ro thông tin
(tuy nhiên, không đảm bảo giảm rủi ro cho các quyết định). Kiểm toán đua ra
nững nhận xét, đánh giá từ đó để các cơ quan, nhà quản trị đa ra các quyết định
dựa trên các báo cáo kiểm toán cũng giúp làm giảm trách nhiệm khi rủi ro xảy
ra, vì Kiểm toán sẽ phải chia sẻ một phần trách nhiệm.
*
Chức năng t vấn:
Đây là chức năng của Kiểm toán hiện đại, thông qua Kiểm toán đểphát
hiện những yếu kém trong bộ máy lãnh đạo, trong quá trình điều hành hoặc sự
không hợp lý trong vận dụng chính sách, thể lệ, chế độ. Kiểm toán còn đa ra
kiến nghị đối với những ngời có thẩm quyền để cải tiến cho phù hợp hơn với
thực tiễn.
1.1.3.2 Vai trò của Kiểm toán:
Quản lý là hoạt động tất yếu của mỗi tổ chức. Để quản lý có hiệu quả, đạt
các mục tiêu đã định của tổ chức, nhà quản trị phải có đợc các thông tin chính
xác, phản ánh chân thực tình hình kinh kế của đơn vị. Rủi ro thông tin là nguy
6
cơ luôn tiềm ẩn, có khả năng gây hại lớn nếu chúng xảy ra. Vì thế, để đem lại
sự an toàn trong kinh doanh, đảm bảo cao nhất hiệu quả trong hoạt động cần
phải có sự hiện diện của Kiểm toán trong các thông tin kinh tế, tài chính.
Nhìn từ góc độ quản lý nhà nớc, Kiểm toán là một công cụ không thể thiếu
trong việc đánh giá tính trung thực và hợp lý của các thông tin về hoạt động
kinh tế, tài chính của các đối tợng quản lý. Nhờ có Kiểm toán mà các nhà quản
lý có thể đảm bảo rằng các đối tợng này chấp hành đúng và đầy đủ các nguyên
Kiểm toán BCTC (Financial statement Audit): là kiểm toán nhằm kiểm
tra, xác nhận tính trung thực, hợp lý, khách quan của các BCTC do một đơn vị
lập ra dựa theo các nguyên tắc của chuẩn mực kế toán và yêu cầu của pháp luật.
Theo tiêu chuẩn quốc tế, các BCTC bao gồm: BCĐ Kế toán( Balance
sheets), BC Thu nhập- Chi phí- Kết quả kinh doanh( Income Statement), BC lu
chuyển tiền tệ( Cash folows), BC quyền sở hữu( Owners Equydity Statement)
và thuyết minh BCTC. ở nớc ta, đối tợng của Kiểm toán BCTC là các BC sau:
BCĐ Kế toán, BC kết quả kinh doanh, BC lu chuyển tiền tệ và thuyết minh
BCTC, cha có BC về quyền sở hữu do các DN Nhà nwocs vẫn giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế.
Kiểm toán BCTC nhằm mục tiêu đảm bảo các thông tin trên các BC đó là
đáng tin cậy, giúp ngời sử dụng tin tởng và lấy làm cơ sở để đa ra quyết định
kinh tế đúng đắn.
Kiểm toán BCTC chủ yếu do các Kiểm toán viên chuyên nghiệp của các tổ
chức Kiểm toán độc lập tiến hành. Đây là loại Kiểm toán rất phổ biến trong nền
kinh tế các nớc và đợc thờng xuyên tiến hành.
b.
Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit)- hay còn đợc gọi là Kiểm toán
quy tắc( Regulary Audit) là việc kiểm tra để xem xét xem đơn vị đợc Kiểm toán
có tuân thủ các thủ tục, các nguyên tắc, các quy chế của cơ quan quản lý hoặc
các chính sách của Nhà nớc hay không.
Mục tiêu của Kiểm toán tuân thủ là xác định việc chấp hành, tuân thủ các
quy định, các nguyên tắc đã đợc ban hành hay không. Ngời thực hiện kiểm toán
chính là các KTV của đơn vị hoặc của Nhà nớc tiến hành. Do có căn cứ là pháp
luật, chính sách, chế độ, quy định... nên tính thẩm quyền và hiệu lực của Kiểm
toán tuân thủ rất cao. Kết quả của loại Kiểm toán này thờng phục vụ các cơ
quan quản lý nhà nớc.
nghiệp.
Kiểm toán độc lập là loại hình Kiểm toán có phạm vi áp dụng rộng rãi và
phổ biến nhất trong nền kinh tế. Dới sự quản lý của các hiệp hội chuyên ngành,
Kiểm toán độc lập đợc tiến hành trên tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế có
nhu cầu đợc kiểm toán, trên cơ sở tự nguyện và hợp đồng kinh tế đã kí kết.
Đối tợng phục vụ của Kiểm toán độc lập là bên thứ ba_ những đối tác kinh
doanh, những ngời bên ngoài đơn vị đợc kiểm toán.
b.
Kiểm toán Nhà nớc (Government audit): là Kiểm toán do các tổ chức
kiểm toán của Nhà nớc tiến hành, chủ yếu thực hiện các cuộc kiểm toán tuân
thủ, xem xét việc chấp hành luật pháp, chính sách, chế độ của Nhà nớc ở các
đơn vị kinh tế, đặc biệt là các đơn vị có sử dụng vốn hoặc kinh phí do Ngân
sách cấp. Bên cạnh đó, kiểm toán Nhà nớc còn tiến hành các cuộc kiểm toán
hoạt động nhằm đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị
kể trên.
Tính thẩm quyền của Kiểm toán Nhà nớc là rất cao, mang tính bắt buộc và
các KTV thờng là công chức nhà nớc.
9
c.
Kiểm toán nội bộ (Internal audit): là kiểm toán do các nhân viên trong
nội bộ đơn vị tiến hành. Nội dung và phạm vi của Kiểm toán nội bộ tuỳ thuộc
vào các yêu cầu của nhà quản lý trong đơn vị nhng thờng tập trung vào việc rà
soát hệ thống kế toán, kiểm tra, kiểm soát nội bộ, kiểm tra các thông tin tác
nghiệp, thông tin tài chính... Các nội dung cụ thể sẽ đợc trình bày kĩ hơn ở phần
cùng ngành... Việc làm này khá đơn giản, dễ tiến hành và cho ra nhận xét tổng
hợp nhng cha thể hiện đợc tơng quan giữa các chỉ tiêu.
Phân tích các tỷ suất: để xác định các mối quan hệ giữa các thông tin tài
chính với nhau hay với các thông tin không mang tính chất tài chính thì cần
phải so sánh, xác định tỷ lệ tơng quan giữa các chỉ tiêu này, phân tích chúng
phục vụ cho việc lập kế hoạch, xác định thời gian, pham vi sử dụng các phơng
pháp kiểm toán, kiểm tra cơ bản. Các tỷ lệ đợc lựa chọn sẽ tuỳ theo kinh
nghiệm và trình độ của các KTV, ví dụ nh: các chỉ số thanh khoản, tỷ lệ giữa
nguồn vốn huy động với vốn chủ sở hữu, mối quan hệ giữa chi phí nhân viên
với số lợng nhân viên.
Có thể xem xét mức độ tin cậy của các thủ tục phân tích thông qua tính
trọng yếu của các yếu tố liên quan, các thủ tục kiểm toán khác, độ chính xác dự
kiến của chúng, những rủi ro tiềm tàng...
b.
Kiểm tra chi tiết: là việc KTV kiểm tra trực tiếp các nghiệp vụ và số d để
xác định xem các nghiệp vụ kế toán có đợc phê duyệt đúng đắn hay không, có
hạch toán và ghi sổ chính xác không, các số d trên bảng cân đối tài khoản có
xác thực và đúng đắn không.
Do số lợng các nghiệp vụ và số d rất nhiều nên với các doanh nghiệp có
quy mô hoạt động và khối luợng giao dịch lớn thì phải sử dụng kỹ thuật chọn
mẫu một số nghiệp vụ và số d cần kiểm tra. Phơng pháp nay thích hợp hơn với
các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các nghiệp vụ không quá phức tạp và nhiều.
Các KTV có thể chọn mẫu theo lô, chọn ngẫu nhiên hay chon phán xét.
1.1.5.2
Phơng pháp Kiểm toán hệ thống
ro nào khi lên kế hoạch Kiểm toán. Các KTV sẽ phân tích theo hệ thống, theo
đó, các đối tợng Kiểm toán có rủi ro cao sẽ đợc lựa chọn đa vào chơng trình
Kiểm toán trớc, các đối tợng rủi ro đợc đánh giá thấp hơn sẽ đa vào kỳ sau, sau
khi trởng bộ phận Kiểm toán nội bộ xét thấy đối tợng có rủi ro cao đã đợc quan
tâm đúng mức.
Bên cạnh biện pháp phân tích theo hệ thống, KTV cần chú ý u tiên Kiểm
toán các đối tợng hay bộ phận đang có sự cố, từ đó có thể phát hiện ra các sai
sót của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị đợc Kiểm toán.
Việc phân tích rủi ro này còn giúp KTV có thể quyết định các phơng pháp
Kiểm toán phù hợp với thực tế cơ sở. Nếu đánh giá mức độ rủi ro thấp, KTV có
thể sẽ sử dụng phơng pháp tiếp cận dựa trên hệ thống kiểm soát nội bộ và giảm
bớt phơng pháp kiểm tra chi tiết hoặc ngợc lại trong trờng hợp đánh giá mức độ
rủi ro là cao.
12
b.
Lập kế hoạch Kiểm toán
Lập kế hoạch Kiểm toán là bớc đầu tiên nhng lại có vai trò quan trọng nhất
mà mỗi KTV phải thực hiện khi tiến hành mỗi một cuộc Kiểm toán. Lập kế
hoạch đúng đắn sẽ mang lại hiệu quả cao và sự thuận lợi lớn cho mỗi cuộc
Kiểm toán. Lập kế hoạch hợp lý phải đảm bảo rằng mọi lĩnh vực hoạt động có
nhiều rủi ro đều phải đợc quan tâm một cách hợp lý, và việc nhận biết, xử lý các
vấn đề phát sinh trong cuộc Kiểm toán cũng nh tiến hành Kiểm toán phải
nhanh gọn, hiệu quả.
Để lập kế hoạch Kiểm toán đúng đắn, KTV cần xác định đợc các rủi ro
Kiểm toán nh rủi ro nội tại, rủi ro kiểm soát hay rủi ro phát hiện, từ đó sẽ giúp
Kiểm toán, có vai trò quan trọng đối với các chủ thể có liên quan. Cụ thể:
Đối với KTV, báo cáo kiểm toán là sản phẩm của chính họ cung cấp cho xã
hội nên họ phải chịu trách nhiệm về những ý kiến của mình.
Đối với ngời sử dụng thông tin đợc Kiểm toán, báo cáo kiểm toán là căn cứ
để họ đánh giá các thông tin này, từ đó đa ra các quyết định kinh tế quan trọng.
Do đó, bản báo cáo phải rõ ràng, minh bạch, tránh những hiểu lầm không đáng
có.
Còn đối với đơn vị đợc Kiểm toán, báo cáo kiểm toán giúp tăng vị thế của
đơn vị và có thể là căn cứ quan trọng để nhà quản trị đánh giá đúng để có các
cải tiến cho hoạt động của đơn vị mình về các tổng thể chung cũng nh các mảng
riêng còn yếu.
Về nội dung của báo cáo kiểm toán, cần phải có sự nhất quán về hình thức
và kết cấu để mọi ngời đọc đều có thể hiểu một cách thống nhất. Có thể tham
khảo nội dung quy định cụ thể của một báo cáo kiểm toán trong chuẩn mực
Kiểm toán Việt Nam số 700 báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính nh tên
công ty Kiểm toán, phần tiêu đề, bố cục bản báo cáo....
Có 2 loại ý kiến cơ bản của KTV về báo cáo tài chính là ý kiến chấp nhận
toàn phần và ý kiến chấp nhận không toàn phần. Theo chuẩn mực Kiểm toán
Việt Nam số 700 báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính ở nội dung 35 thì báo
cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn phần khi KTV và công ty Kiểm toán
cho rằng báo cáo tài chính của đơn vị đợc Kiểm toán là trung thực và hợp lý
trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính, phù hợp với chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành. Cả với truờng hợp báo cáo tài chính đợc Kiểm toán
có những sai sót nhng đã đợc đơn vị chỉnh sửa theo yêu cầu của KTV, hoặc
14
những sai sót không là trọng yếu thì cũng đều có thể có đợc ý kiến chấp nhận
toàn phần.
NHTM có viết: Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa dạng trong các dịch vụ cung cấp
15
và chức năng hoạt động đã khiến các NHTM đợc coi là bách hoá tài
chính( Financial department stores). Thực tế cho thấy ngày càng có sự lấn
sân của NHTM sang các hoạt động của lĩnh vực khác nh kinh doanh bảo hiểm,
chứng khoán, bất động sản, môi giới tài chính..., do đó khái niệm trên đây về
NHTM thể hiện tính khái quát và tiêu biểu cao.
ở nớc ta, điều 20 Luật các TCTD có quy định: TCTD là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, sử dụng
tiền gửi để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
b. Chức năng
NHTM thực hiện 3 chức năng chủ yếu đó là: làm thủ quỹ cho xã hội( nhận
tiền gửi của khách hàng, đáp ứng mọi nhu cầu rút tiền, chi tiền của họ...); chức
năng làm trung gian thanh toán ( nhờ việc giữ các tài khoản tiền gửi của
khách hàng mà NHTM có thể làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh
toán theo yêu cầu của khách hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để chi
trả tiền hàng hoá, dịch vụ hay nhập tiền vào tài khoản của ngời hởng...; chức
năng trung gian tín dụng ( theo đó, NHTM trở thành cầu nối giữa những ngời
d thừa với những ngời thiếu hụt về vốn, ngân hàng lúc đó vừa là ngời đi vay,
vừa là ngời cho vay )
Bên cạnh 3 chức năng cơ bản nêu trên, NHTM còn thực hiện cung cấp rất
nhiều các sản phẩm dịch vụ khác nh t vấn, hỗ trợ, bảo lãnh, môi giới, đầu t...và
ngày một hoàn thiện theo mô hình ngân hàng đa năng. Nhờ vậy, vai trò của
NHTM trong nền kinh tế ngày càng tăng cao. Muốn phát triển, nền kinh tế cần
phải tập hợp đợc và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó, nguồn lực về
nhất và cũng có hậu quả nặng nề nhất đối với tình hình kinh doanh. Bên cạnh
đó, các loại rủi ro nh rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản... cũng luôn
tiềm ẩn và tạo những tác động không tốt đến các ngân hàng. Hơn nữa, hoạt
động ngân hàng cũng gặp nhiều bất lợi bởi sự nhạy cảm cao với sự biến động
của tình hình chính trị, xã hội.... Mỗi động thái chính trị hay chỉ cần một sự
kiện bất thờng nào đó của chính trờng cũng đều có tác động ngay đến hệ thống
các NHTM. Gần đây, những sự kiện nh Mỹ tấn công irăc, giá dầu tăng cao,
sóng thần....đều có tác động không nhỏ đến hoạt động ngân hàng trên toàn thế
giới. Hay các vụ bê bối tài chính của các tập đoàn t bản xuyên quốc gia, các
phát hiện mới về những hành tinh bên ngoài trái đất..., tất cả đều có ảnh hởng
17
đến các ngân hàng nói riêng và tình hình tài chính thế giới nói chung. Điều này
là hệ quả tất yếu của sự nhạy cảm trong hoạt động ngân hàng, vì thế, rủi ro luôn
là vấn đề phải đặt lên hàng đầu đối với mỗi nhà ngân hàng trong quá trình quản
lý và điều hành tại các đơn vị.
Với những rủi ro thờng nhật và hậu quả nghiêm trọng của chúng thì việc
kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phòng tránh rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của mỗi ngân hàng là nhiệm vụ quan trọng và nhất thiết phải lu tâm của
các nhà quản lý. Đồng thời, việc kiểm tra, kiểm soát cũng sẽ tạo thêm hình ảnh,
độ tin cậy của các khách hàng đối với ngân hàng và đảm bảo tính trung thực,
hợp lý cho các thông tin tài chính của các đơn vị ngân hàng khi cung cấp cho
nền kinh tế, từ đó có đợc cái nhìn chính xác về tình hình tài chính- tiền tệ của
quốc gia, giúp ích cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô có đợc
những quyết định sáng suốt, phù hợp và có hiệu quả cao.
d.
Những đặc điểm của hoạt động kinh doanh ngân hàng ảnh hởng tới
Khái niệm và nội dung
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ và là một bộ phận hết sức
quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Tín dụng có thể đợc định nghĩa nh sau:
tín dụng là quan hệ chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị từ ngời sở hữu
sang ngời sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về lợng giá trị lớn hơn
giá trị ban đầu. Theo đó, quan hệ tín dụng chính là quan hệ chuyển nhợng
mang tính tạm thời, đợc dựa trên cơ sở sự tin tởng giữa ngời đi vay và ngời cho
vay và mang tính hoàn trả. TDNH là quan hệ tín dụng đựơc hình thành trên cơ
sở tín dụng thơng mại với sự sử dụng vốn tạm thời lẫn nhau của các doanh
nghiệp. TDNH là quan hệ chuyển nhợng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể
kinh tế khác trong xã hội, trong đó, ngân hàng giữ vai trò vừa là ngời đi vay,
vừa là ngời cho vay.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và chủ đạo của mỗi một NHTM.
Nội dung của hoạt động này rất rộng và phong phú, bao gồm cả các nghiệp vụ
trong và ngoài bảng cân đối tài sản của ngân hàng. Có thể kể đến các nghiệp vụ
nh: cho vay đối với khách hàng cũng nh các TCTD khác; nghiệp vụ cho thuê tài
chính; đầu t, góp vốn vào các doanh nghiệp... Hay các nghiệp vụ tài chính phái
sinh; các hoạt động bảo lãnh tín dụng th...
19
b.
Đặc điểm của hoạt động tín dụng dới góc độ Kiểm toán
Khi tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau, đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng
sẽ có các điểm khác nhau.Nhìn từ góc độ Kiểm toán, hoạt động tín dụng có một
số đặc điểm cơ bản sau:
phận này để thấy đợc mức độ hiệu quả trong ngăn ngừa và đối phó với các rủi
ro của ngân hàng nh thế nào.
1.2.2
Kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng
1.2.2.1
Kiểm toán nội bộ tại NHTM
a. Khái niệm Kiểm toán nội bộ (KTNB)
KTNB là thuật ngữ gần đây mới thờng đợc sử dụng, trớc đó ngời ta chỉ biết
nhiều đến Kiểm toán các báo cáo tài chính của các tổ chức Kiểm toán độc lập.
KTNB có thể đựơc hiểu một cách rộng rãi là một chức năng đánh giá độc lập,
đợc thiết lập trong tổ chức để xem xét, đánh giá các hoạt động của nó, nh một
dịch vụ phục vụ chính tổ chức đó. Mục tiêu của KTNB chính là để hỗ trợ các
nhà quản trị của tổ chức thực hiện có hiệu quả trách nhiệm của họ. Nh vậy,
KTNB đòi hỏi phải đánh giá đợc tổng thể các hoạt động; độc lập với những hoạt
động đã hoặc đang đợc thẩm tra; và nó đợc thiết lập với tính chất hỗ trợ, xây
dựng.
KTNB càng ngày càng trở thành một hoạt động nghề nghiệp phức tạp, cần
có sự nghiên cứu, đào tạo và tổ chức hoạt động tuơng ứng với chức năng và lĩnh
vực trong từng thời kỳ và phù hợp với chiến lợc của tổ chức. Mục tiêu của
KTNB là các thông tin Kiểm toán đều đáng tin cậy và đầy đủ; xem xét việc tuân
thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục pháp lý, các quy định của pháp luật của
đơn vị; vấn đề bảo vệ tài sản; tính hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực...
b.
Chức năng của KTNB tại NHTM: xuất phát từ sự cần thiết của kiểm
hoạch và mục tiêu đặt ra; đánh giá công tác kiểm soát nội bộ cũng nh mức độ
giám sát của các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ khác. Đây là chức năng rất
quan trọng của KTNB, nó có vai trò rất tích cực trong việc khẳng định tính chất
hoạt động độc lập của bộ phận KTNB trong NHTM.
*
Chức năng xác nhận: chức năng này có thể hiện trong việc đánh giá lại
tính chính xác của các quyết định cũng nh các kết quả kiểm soát đã thực hiện.
Đồng thờigiúp kiểm toán thờng xuyên, có hệ thống và toàn diện hoạt động của
đơn vị, để đa các kết luận, một cách khoa học và hợp lý.
c.
Nhiệm vụ của KTNB tại NHTM: là việc kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực
và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM; kiểm tra và xác nhận
chất lợng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tính hợp thức, hợp pháp của báo cáo
tài chính, báo cáo kế toán quản trị trớc khi trình hội đồng quản trị, Ban giám
đốc ngân hàng ký duyệt;kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý
kinh doanh đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính - kế
toán, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị cũng nh Ban giám đốc ngân
hàng; đồng thời cũng phải phát hiện đợc những sơ hở, yếu kém, gian lận trong
22
quản lý, trong bảo vệ tài sản của ngân hàng,từ đó đề xuất các giải pháp, hỗ trợ,
t vấn cải thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh của NHTM.
Trong hoạt động của mình, các NHTM thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm
toán nội bộ với nhiệm vụ đợc quy định rõ ràng, cụ thể trong quyết định
bất cập của hệ thống, các văn bản để từ đó đa ra các ý kiến, kiến nghị cho Ban
lãnh đạo để có biên pháp xử lý kịp thời.
d.
Nguyên tắc cơ bản trong KTNB tại NHTM: cũng tuân theo các nguyên
tắc cơ bản của KTNB là: Tính độc lập ( Bộ phận KTNB chỉ chịu sự chỉ đạo trực
tiếp của Ban lãnh đạo và chỉ thực hiện nhiệm vụ của mình một cách độc lập, tự
chủ và không chịu bất kỳ một sự chỉ đạo nào khác trong quá trình phân tích,
đánh giá, kết luận và lập báo cáo kiểm toán); Phân tích tách chức năng ( KTV
nội bộ không kiêm nhiệm các công việc của các phòng nghiệp vụ và ngợc lại);
Thông tin đầy đủ ( để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, KTV nội bộ có quyền
nhận thông tin mà họ yêu cầu một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời. Tất cả các
văn bản của Nhà nớc, ngành, đơn vị có tầm quan trọng, liên quan trực tiếp và
gian tiếp đều phải đợc thông báo cho bộ phận KTNB biết); Trình độ nghiệp vụ
của KTV.
KTNB trong các NHTM phải đảm bảo mọi nghiệp vụ phát sinh đều đợc
kiểm tra và kiểm tra một cách độc lập, khách quan. Về tổ chức bộ phận kiểm
tra, kiểm toán và các vấn đề về bổ nhiệm, miễn nhiệm đều do cấp lãnh đạo
quyết định nh Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc hay Giám đốc quyết định.
1.2.2.2 KTNB hoạt động Tín dụng
a.
Khái niệm
KTNB hoạt động tín dụng là việc kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện
nghiệp vụ tín dụng cũng nh hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng tại các
NHTM.
Tín dụng là sản phẩm chủ đạo trong danh mục sản phẩm kinh doanh của
các NHTM hiện nay, chiếm tỷ trọng thu nhập lớn nhất trong tổng thu nhập của
khoản nợ có vấn đề, tình hình nợ quá hạn... tức là toàn bộ các vấn đề liên quan
đến công tác tín dụng tại ngân hàng.
Nhiệm vụ của KTNB đối vơí hoạt động tín dụng: là kiểm tra, xác nhận độ
tin cậy của các tài liệu liên quan, đánh giá về sự tuân thủ pháp luật và các quy
chế cấp tín dụng của NHNN cũng nh chính ngân hàng cơ sở; kiểm tra và đánh
giá tính hiệu qủa của hoạt động sử dụng vốn; kiểm tra đánh giá tính hiệu qủa,
hiệu lực của hệ thống KSNB trong ngân hàng; kiểm tra tính tuân thủ cá nguyên
tắc và chế độ trong công tác quản lý, xét duyệt tín dụng; phát hiện ra những yếu
25