Tiểu luận sự ra đời của đảng cộng sản VN và cương lĩnh chính trị đầu tiên của đảng - Pdf 37

Trang

Mở đầu -----------------------------------------------------------------------------------------------Phần I: Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng. -----I.

II.

III.

IV.

Bối cảnh lịch sử trớc ngày ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam ----------------------1. Thế gới. -------------------------------------------------------------------------------2. Việt Nam từ một nớc phong kiến độc lập trở thành một nớc thuộc địa và dẫn
tới sự thay đổi về cơ cấu giai cấp.
3. Phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam trớc khi Đảng Cộng Sản Việt
Nam ra đời ; Cuộc khủng hoảng đờng lối giải phóng dân tộc, nhiều Đảng phái
xuất hiện. --------------------------------------------------------------------------Quá trình chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
-----------------1. Con đờng cứu nớc của lãnh tụ Nguyên ái Quốc. -------------------------------2. Đồng chí Nguyễn ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin. ------------------3. Nguyễn ái Quốc trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. -----Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam và Cơng
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. ----------------------------------------------1. Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam. ----2. Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. -------------------------------------------ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. -----------------------

Phần II : Tổng kết 70 năm hoạt động của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1930-2000). -------I.

II.

Thành tựu của cách mạng Việt Nam trong 70 năm qua dới sự lãnh đạo của Đảng.
--------------------------------------------------------------------------------------1. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo và tổ chức các cuộc đấu tranh cách mạng,
khởi nghĩa giành chính quyền - Cách mạng Tháng Tám (1945).---------------2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ chính quyền
cách mạng và tiến hành thắng lợi Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lợc 1945 - 1954.----------------------------------------------------------------3. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lợc
- Cách mạng XHCN ở miền bắc và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lợc (1954 1975).--------------------------------------------------------------------------4. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975 - 1996).----------------------------------Vai trò và nhiệm vụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam.----------------------------------1. Sự Lãnh Đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng
lợicủa cách mạng Việt Nam. --------------------------------------------------------2. Vai trò nhiệm vụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới. ---------



ịch sử Việt Nam đã trải qua bốn nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ông cha ta
đã đánh thắng hàng vạn quân xâm lợc lớn mạnh hung hãn nh quân Ngô, quân
Nguyên Mông ... Và trong thế kỷ XX này đó là chủ nghĩa đế quốc. Ông cha ta không
những phải đối đầu với những kẻ xâm lợc lớn mạnh về số lợng mà là đối đầu với những kẻ
thực sự khát máu nhất, thâm độc nhất, tàn bạo nhất, mạnh nhất và có vũ khí hiện đại nhất
thế gới.
Đứng trớc tình hình nh vậy, cách mạng Việt Nam hơn lúc nào đòi hỏi phải có ngời
lãnh đạo sáng suốt để có thể lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh
giành lạ độc lập tự do cho Tổ quốc.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và đã làm đợc điều đó.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, đánh dấu bớc ngoặt vĩ đại trong
lịch sử cách mạng nớc ta; là cơ sở dẫn tới những thắng lợi oanh liệt của cách mạng Việt
Nam những năm sau này.

Phần I :
Sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Cơng
lĩnh đầu tiên của Đảng .
I. Bối cảnh lịch sử trớc ngày ra đời Đảng Cộng sản Việt
Nam.
1. Thế gới :
uối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , thế giới đã trải qua nhiều biến chuyển quan trọng:
+ Chủ nghĩa t bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nhĩa.
+ Các nớc đế quốc lớn nh Anh Pháp Mỹ ... đã xâm chiếm và biến hầu hết các nớc nhỏ
trong đó có Việt Nam trở thành thuộc địa của chúng. Bản chất phản động của chủ nghĩa đế
C

2



tay sai đắc lực va là công cụ để chúng đàn áp nhân dân. Chúng thực hiện chính sách dàn áp,
khủng bố hết sức dã man, tàn bạo làm cho nhân dân Việt Nam mất hết quyền tự do dân
chủ; mọi phong trào và hành động yêu nớc đều bị đàn áp đẫm máu. Thực dân Pháp thực
hiện chính sách chia để trị : chia rẽ ba nớc đông dơng, rồi lập ra xứ Đông Dơng thuộc
Pháp nhằm xóa tên ba nớc Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới và chia rẽ giữa
3


ba kỳ hòng tạo ra những mối xung khắc, làm giảm tình đoàn kết giữa ngời Việt Nam với
ngời Việt Nam. Đánh giá về chính sách này, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết :
"Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn "chia để trị" của nó.
Chính vì thế mà nớc An Nam, một nớc có chung một dân tộc, chung một dòng máu,
chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói,
đã bị chia năm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, ng ời ta hy vọng làm
nguội đợc tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng ngời An Nam và tạo ra những mối
xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, ngời ta lại
ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một "Liên bang" gọi là Liên bang
Đông Dơng".

b) Về kinh tế
Chúng thực hiện chính sách độc quyền, kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập, biến Việt
Nam thành thị trờng của chính quốc, phụ thuộc vào kinh tế chính quốc. Chúng ra sức bóc
lột tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của ngời dân Việt Nam bằng nhiều hình thức
thuế khóa nặng nề, vô lý. Đặc biệt là hai cuộc khai thác thuộc địa 1897-1914 và 1919-1929
làm cho nhân dân Việt Nam, trớc hết là công nhân và nông dân bị bần cùng hóa, làm cho
nền kinh tế nớc ta bị què quặt, để lại hậu quả nặng nề kéo dài cho tới ngày nay.
Cơ cấu kinh tế Việt Nam co nhiều thay đổi đó là sự ra đời những ngành kinh tế công
nghiệp, khai thác mỏ, giao thông vận tải, thơng nghiệp. Trong nông nghiệp thì suất hiện
kinh tế đồn điền, kinh doanh theo lối t bản.


chống đế quốc và phong kiến nhng họ không có khả năng lãnh đạo cách mạng và có
khuynh hớng chính trị cải lơng. Bên cạnh đó còn có tầng lớp tri thức tiểu t sản có tinh thần
dân tộc, yêu nớc và rất nhạy cảm về chính trị và thời cuộc.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam : Ra đời và phát triển trong quá trình thực dân pháp
thực hiện khai thác thuộc địa với số lợng rất khiêm tốn : khoảng 10 vạn năm 1913 - đó là
tính cả công nhân làm đờng và các việc khác; đến cuối năm 1929 số lợng công nhân Việt
Nam là hơn 22 vạn.
Trong xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, giai cấp công nhân cũng nh giai cấp nông
dân và các tầng lớp lao động khác đều phải chịu áp bức bóc lột của cả đế quốc, phong kiến
và giai cấp t sản.
Một đặc điểm khác của giai cấp công nhân cũng rất quan trong đó là phần lớn công
nhân Việt Nam đều xuất thân từ nông dân, đó là cơ sở khách quan, thuận lợi cho công nhân
và nông dân liên minh chặt chẽ với nhau.
Tuy lực lợng còn ít, trình độ văn hóa, kỹ thuật công nghệ kém phát triển nhng giai
cấp công nhân Việt Nam thật sự là đại biểu cho lực lợng sản xuất hiện đại, một giai cấp tập
trung, có ý thức kỷ luật và năng lực cách mạng, có tinh thần quốc tế vô sản.
Giai cấp công nhân Việt Nam vừa có ý thức giai cấp vừa có tinh thần yêu nớc sâu
sắc, lại đợc lãnh tụ Nguyễn ái Quốc giác ngộ truyền bá lý luận tiên tiến của Mac - Lênin,
giai cấp công nhân Việt Nam đã từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, nhanh chóng
phát triển từ tự phát lên tự giác. Tháng 11 năm 1922 cuộc bãi công của 600 thợ nhuôm ở
Chợ Lớn ( Nam Bộ ) đã nổ ra. Từ năm 1920 đến năm 1925, có đến 25 cuộc bãi công trong
5


cả nớc. Nổi bật nhất là cuộc bãi công của công nhân Ba Son nổ ra từ ngày 4 tháng 8 đến
ngày 28 tháng 11 năm 1925 để "kìm chân" chiếc tàu J.Misơlê của đế quốc Pháp chuẩn bị
đem quân sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Đó là cuộc đấu tranh có tổ chức, có sự chỉ
đạo chặt chẽ, biểu hiện tinh thần quốc tế cao cả và ý thức chính trị rõ rệt. Mặc dù vậy, chỉ
đến khi Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội chủ trơng vô sản hóa năm 19281929 mới tạo điều kiện cho phong trào công nhân nhanh chóng trởng thành và phát triển
lên trình độ tự giác.

Phan Bội Châu chủ trơng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến nh Nhật Bản nhng năm
1912 ông lập ra Việt Nam quang phục hội, từ bỏ lập trờng quân chủ lập hiến chuyển sang
lập trờng dân chủ t sản, thành lập Cộng hòa dân quốc Việt Nam, cải tổ Việt Nam quang
phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng nhng cả hai con đờng đó đều không dẫn tới thành
công. Điều đó thể hiện trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930) dới sự lãnh đạo của Việt
Nam Quốc dân đảng đã nhanh chóng thất bại chỉ còn để lại câu nói vô vọng không thành
công cũng thành nhân. Hạn chế lớn nhất của Phan Bội Châu là dựa vào Nhật để đánh
Pháp.
Là một nhà yêu nớc nhiệt thành, nhng chủ trơng của Phan Chu Trinh khác hẳn với
Phan Bội Châu. Ông lên án gay gắt tội ác của thực dân Pháp, quan lại phong kiến sâu mọt
và chủ trơng cải cách đất nớc theo xu hớng dân chủ t sản. Hạn chế của Phan Chu Trinhlà
muốn dựa vào Pháp để chống chế độ phong kiến và phản đối vũ trang và bạo động chống
Pháp, ông nói Bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, ngoại vọng tất vong".
Tính chất phong trào dân tộc ở thời kỳ này có chuyển biến khác trớc. Phong trào
Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, chống đi phu, nộp thuế ở Trung Kỳ là kết quả của
khuynh hớng t tởng t sản. Một số tổ chức yêu nớc ra đời nh hội Duy Tân (1904), trờng
Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), hội Đông á đồng minh (1908), Việt Nam quang phục Hội
(1912-1924)... Nhng vì đờng lối chính trị của các tổ chức này không rõ ràng, đặc biệt là
không dựa vào quần chúng lao động, mà dựa vào uy tín cá nhân, nên không tạo ra đợc sức
mạnh và sự thống nhất. Vì vậy, khi những ngời thủ lĩnh bị đế quốc Pháp bắt thì phong trào
cũng tan dã theo.
Trên thực tế, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam rơi vào tình
trạng khủng hoảng về đờng lối nghiêm trọng, mà thực chất là khủng hoảng về giai cấp
lãnh đạo. Các phong trào yêu nớc tuy rất sôi nổi và liên tục nhng thiếu đờng lối đúng đắn
và sự lãnh đạo sáng suốt nên các phong trào đó lần lợt thất bại.
Từ những năm 1920 trở đi, phong trào cách mạng Việt Nam có những chuyển biến
mạnh mẽ. Bên cạnh những đảng cách mạng theo xu hớng t tởng t sản, đã xuất hiện những
tổ chức yêu nớc tiếp thu t tởng tiến bộ mới. Đặc biệt là chủ nghĩa Mác-Lênin - hệ t tởng của
giai cấp công nhân ngày càng có tác động mạnh mẽ vào phong trào yêu nớc và phong trào
công nhân.

nghiệm họ đã làm nh thế nào để đợc nh vậy rồi trở về giúp đồng bào mình.
Gần mời năm bôn ba khắp các châu lục (1911-1920), Ngời đến những nớc thuộc địa và
những nớc đế quốc nh Anh, Mỹ, Pháp... quan sát, nghiên cứu, suy nghĩ và ngời đã phát hiện
một chân lý : chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau
khổ của giai cấp công nhân với nhân dân lao động ở chính quốc cũng nh ở các nớc
thuộc địa...
Năm 1918, đồng chí Nguyễn ái Quốc thay mặt tổ chức những ngời Việt Nam yêu nớc ở
Pháp, gửi tới Hội nghị các nớc đế quốc thắng trận ở thành phố Vécxây (Pháp) một bản "yêu
sách 8 điểm" đòi chính phủ Pháp thừa nhận quyền độc lập, tự do, bình đẳng của nhân dân
Việt Nam. Nhng, bản yêu sách đó không đợc chấp nhận. Ngời rút ra kết luận quan trọng :
8


Các dân tộc bị áp bức bóc lột muốn đợc tự do, trớc hết phải dựa vào lực lợng của chính
mình, phải tự mình giải phóng lấy chính mình.
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua, đồng chí
Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và chủ trơng thành lập
Đảng cộng sản Pháp. Qua sự kiện này Nguyễn ái Quốc đã trở thành ngời Cộng sản Việt
Nam đầu tiên và là một trong những ngời sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Ngời đợc bầu
vào đoàn chủ tịch Hội nông dân Quốc tế (l0-1923), và dự Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng
sản (1924). Giải thích về việc tán thành Quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Pháp của mình
Ngời đã viết :
"Đệ tam Quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của
họ. Còn Đệ nhị Quốc tế không hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy, tôi đã bỏ
phiếu tán thành Đệ tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đây là
tất cả những điều tôi muốn."
Bớc ngoặt lớn trong t tởng Nguyễn ái Quốc là khi Ngời đợc đọc bản Sơ thảo đề cơng
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Qua tác phẩm của Lênin, Ngời hiểu sâu sắc những
vấn đề cơ bản của đờng lối giải phóng dân tộc, đó là con đờng cách mạng vô sản, giải
phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai

sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) của Ngời. Hầu hết bài viết của
Ngời đều tập trung lên án chủ nghĩa thực dân.
T tởng, quan điểm cơ bản của Ngời về chiến lợc và sách lợc cách mạng thuộc địa đã bớc đầu thể hiện trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.
Bản án chế độ thực dân Pháp đã tố cáo trớc nhân dân Pháp và thế giới những tội ác
của bọn thực dân không chỉ ở Việt Nam mà ở khắp các thuộc địa. Bằng biểu tợng "con đỉa
hai vòi", Nguyễn ái Quốc đã làm cho ngời đọc thấy rằng : chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa thực
dân là kẻ thù chung của giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc lột ở các nớc
chính quốc và các dân tộc thuộc địa. Bản án chế độ thực dân Pháp đã góp phần vào việc
thiết lập sự liên minh giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân
tộc ở các thuộc địa, phải thực hiện sự liên minh chật chẽ với nhau để chống kẻ thù chung,
vì "chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành đợc thắng lợi
cuối cùng". Đồng thời, tác phẩm phê phán gai gắt thái độ cầu cạnh của một số ngời mang t
tởng cải lơng t sản; đề cao tinh thần tự lập, tự cờng, tự mình giải phóng cho mình và hớng
cách mạng thuộc địa phát triển theo con đờng cách mạng của Quốc tế cộng sản.
Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm lý luận đầu tiên của cách mạng nớc ta, góp
phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Nhờ tác phẩm đó và các bài viết của
đồng chí Nguyễn ái Quốc, nhân dân ta, trớc hết là những ngời trí thức tiểu t sản yêu nớc
tiến bộ đã hớng về và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin.

3. Nguyễn ái Quốc trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa tháng 12 năm 1924, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu
(Trung Quốc) để hoạt động, xây dựng phong trào và đào tạo cán bộ cách mạng cho một số
nớc ở Đông Nam á. Tại đây, đồng chí đã cùng với các nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc,
Triều Tiên, ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia ... sáng lập ra Hôi liên hiệp các dân tộc
bị áp bức á - Đông.

10


Tháng 6 năm 1925, đồng chí Nguyễn ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách

+ Công nông là gốc cách mạng, trong đó công nhân là giai cấp lãnh đạo thông
qua Đảng tiên phong. Tiểu t sản, trí thức là đồng minh của cách mạng.
+ Phải thực hiện sự liên minh với các lực lơng cách mạng trên thế giới trên cơ sở
tính chủ động sáng tạo và ý thức tự lực tự cờng.
+ Phải có Đảng lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh, phải có học thuyết cách mạng,
đó là học thuyết Mác -Lênin. Phải biết vận dụng đúng đắn và sáng tạo học thuyết đó
vào hoàn cảnh Việt Nam.
11


Thực tế đã chứng minh, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đợc giai cấp công nhân và nhân dân
Việt Nam đón nhận nh "ngời đi đờng đang khát mà có nớc uống, đang đói mà có cơm ăn".
Nó lôi cuốn những ngời yêu nớc Việt Nam đi theo con đờng cách mạng vô sản, làm dấy lên
cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nớc, trong đó giai cấp công nhân trở thành một
lực lợng chính trị độc lập. Đến lúc này, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và
nhiều tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh
đạo.
Chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức Đảng đợc tuyên bố thành
lập. Bắc Kỳ có Đông Dơng Cộng sản Đảng (17-6-1929), Nam Kỳ có An Nam Cộng sản
Đảng (25-7-1929), Trung Kỳ có Đông Dơng Cộng sản Liên đoàn (9 - 1929). Điều đó
phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song, sự tồn tại
của ba đảng hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Bởi, khi
ra đời mỗi tổ chức đều đa ra tuyên ngôn, nêu rõ đờng lối cách mạng của mình, tích cực
tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vận động quần chúng đấu tranh và phát triển rộng rãi
cơ sở ... Làm cho phong trào cách mạng phát triển rất sôi nổi, nhng hạn chế chung của các
tổ chức Đảng đó là điều tự cho mình là chân chính nhất, là cách mạng nhất và không tránh
khỏi phê phán các tổ chức Cộng sản khác. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một
đảng duy nhất lãnh đạo lãnh đạo cách mạng trong cả nớc.

III.Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản thành Đảng

Ngày 24 tháng 2 năm 1930, đồng chí Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu thay mặt đại biểu
quốc tế và các đồng chí Phan Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban chấp hành trung ơng lâm thời cùng với đồng chí Ngô Gia Tự, Bí th lâm thời chấp uỷ của Đảng bộ Nam Kỳ
đã họp và quyết định chấp nhận Đông Dơng cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng cộng sản
Việt Nam. Nh vậy, chỉ nửa tháng sau, ba tổ chức cộng sản ở Đông Dơng đã hoàn toàn thống
nhất trong một Đảng duy nhất - Đảng cộng sản Việt Nam.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam tháng 2 năm 1930 có ý nghĩa nh
Đại hôi thành lập Đảng, đánh dấu một sự kiện trọng đại của lịch sử cách mạng Việt Nam.
Đảng đợc thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở Việt Nam
trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp hoàn hảo giữa chủ nghĩa Mác
- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nớc; là kết quả của quá trình lựa chọn,
sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, t
tởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn ái Quốc.
Đó là một mốc lớn đánh dấu bớc ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam chấm
dứt cuộc khủng khoảng về đờng lối cứu nớc kéo dài trong mấy chục năm. Sự kiện đó cũng
chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng
cộng sản Việt Nam ra đời với đờng lối chiến lợc đúng đắn là sự cổ vũ to lớn đối với phong
trào cách mạng đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất. Đờng lối của Đảng đợc công
bố trở thành tiếng kèn tập hợp lực lợng quần chúng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc.

2. Cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

13


Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn ái Quốc dự thảo đợc
thông qua tại hội nghị Hợp nhất thành lập Đảng (3/2/1930) chính là Cơng lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cơng lĩnh đã vạch ra đờng lối cơ bản của cách
mạng Việt Nam, là ngọn cờ đoàn kết toàn Đảng toàn dân đứng lên đấu tranh giải phóng dân
tộc, giải phóng xã hội.


I.Thành tựu của cách mạng Việt Nam trong 70 năm qua dới sự lãnh đạo của Đảng.
Với dân tộc Việt Nam, thế kỷ XX là thế kỷ đấu tranh giải phóng, đấu tranh cách mạng
chống đế quốc xâm lợc và các chính quyền tay sai, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất
cho Tổ quốc , xây dựng xã hội mới do nhân dân làm chủ - xã hội xã hội chủ nghĩa; là thế
kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại .
Ba mơi năm đầu của thế kỷ XX, trớc tình cảnh đất nớc bị mất độc lập chủ quyền, nhân
dân bị mất tự do dân chủ, phải sống cuộc đời tủi nhục của ngời nô lệ mất nớc (vong quốc
nô), nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh kiên cờng chống ách đô hộ của thực dân
Pháp. Đó là 30 mơi năm lần lợt thử nghiệm, chọn lọc các con đờng giải phóng dân tộc. Từ
con đờng cứu nớc theo hệ t tởng phong kiến với các điển hình nh phong trào cần vơng, nh
cuộc khởi nghĩa Yên Thế ... đến các phong trào cứu nớc theo hệ t tởng t sản và tiểu t sản
qua các điển hình nh phong trào Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục và cuộc khởi
nghĩa Yên Bái... Các phong trào yêu nớc đó diễn ra rất anh dũng, sôi nổi và liên tục nhng
đều không thành công vì không đáp ứng đợc yêu cầu của cuộc đấu tranh chống kẻ thù trong
một thời đại lịch sử mới. Nguyên nhân thất bại cơ bản của các phong trào yêu nớc nói trên
là thiếu một đờng lối và phơng pháp cách mạng đúng dắn của một giai cấp tiên phong,
thiếu một hệ t tởng tiên tiến và một học thuyết cách mạng khoa học.

17


Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam - chính đảng của giai cấp công
nhân Việt Nam ra đời, đáp ứng đợc yêu cầu khách quan của lịch sử, đánh dáu một bớc
ngoặt trọng đại và mở ra một thời đại lịch sử mới của dân tộc Việt Nam.
Từ đó cho tới nay, dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đúng đầu là Hồ Chí
Minh, dân tộc Việt Nam đã có những bớc trởng thành vợt bậc. Cách mạng Việt Nam đã
giành đợ những thắng lợi vĩ đại :

1. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo và tổ chức các cuộc đấu tranh cách

thách gay gắt mới, phải đứng lên bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc.
Đêm 19 - 12 - 1946, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Hởng ứng
lời kêu gọi của Bác, nhân dân cả nớc đã quyết tâm " thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất
nớc, không chịu làm nô lệ ". Với đờng lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trờng kỳ, dựa
vào sức mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh
đạo nhân dân vợt qua mọi khó khăn giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lợc. Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (5 - 1954) đã đột phá thành trì của hệ
thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn không tránh
khỏi của chủ nghĩa thực dân. Thắng lợi đó làm sáng tỏ một chân lý : "Trong điều kiện thế
giới ngày nay, một dân tộc dù nhỏ yếu, nhng một khi đã đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu
tranh dới sự lãnh đạo của chính đảng Mác - Lênin để giành độc lập và dân chủ thì có đầy
đủ lực lợng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lợc ... Thắng lợi đó cũng chứng tỏ rằng chỉ có sự
lãnh đạo đúng đắn của giai cấp công nhân mà Đảng ta là đại biểu, chỉ có đờng lối cách
mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin mới có thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân
thù giành tự do độc lập".

3. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ
chiến lợc - Cách mạng XHCN ở miền bắc và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm
lợc (1954 - 1975).
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, đất nớc ta bị
tạm thời chia cắt thành hai miền : miền Bắc thì hoàn toàn đợ giải phóng ; miền Nam bị đế
quốc Mĩ xâm lợc -một hình thức thực dân kiểu mới. Một vấn đề đặt ra là : con đờng phát
triển của miền Bắc? Và làm thế nào để đánh đuổi đế quốc Mĩ và tay sai, thống nhất đất
nớc? Đứng trớc tình thế đó Đảng Cộng sản Việt Nam xác định con đờng phát triển tất yếu
của cách mạng Việt Nam là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lợc : Một là : tiến
hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững
mạnh của cách mạng cả nớc. Hai là: tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam, chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam , thực hiện thống nhất đất
nớc.
Tuy mỗi miền thực hiện một chiến lợc khác nhau nhng có mối quan hệ chặt chẽ với

lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội nhân dân Việt Nam đã có những cố gắng lớn và đã đạt đợc những thành tích đáng kể đó là công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thơng chiến
tranh, bớc đầu ổn định tình hình sản xuất và đời sống nhân dân. Tuy nhiên cũng có những
vấn đề cần xem xét lại và rút ra bài học kinh nhiêm nh nền kinh tế có mặt mất cân đối
nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát rất cao, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng gay gắt.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12 - 1986) đã nghiêm khắc kiểm điểm
sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm đợc, phân tích rõ những sai lầm, khuyết
điểm, đặc biệt là khuyết điểm chủ quan, duy ý chí trong lãnh đạo kinh tế, đề ra đ ờng lối đổi
mới toàn diện, mở ra bớc ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Để
cụ thể hoá hơn nữa đờng lối đổi mới ở Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
của Đảng cộng sản Việt Nam đã thông qua Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
và nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 1991 - 1995, và kết quả là sau 10 năm thực hiện, nhân
20


dân Việt Nam vợt qua một giai đoạn thử thách gay go. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII của Đảng cộng sản Việt Nam (22 - 6 đến 01 - 7 - 1996) đã nhận định : "Công cuộc
đổi mới trong 10 năm qua đã thu đợc những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng.
Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 - 1995 đã hoàn thành về cơ bản. N ớc ta đã
ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhng một số mặt còn cha vững chắc. Nhiệm vụ đề ra
cho chặng đờng đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản
hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc. Con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta ngày càng đợc xác định rõ hơn".
Nhìn lại chặng đờng phát triển của cách mạng Việt Nam trong bẩy thập kỷ qua, dới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành đợc những thắng
lợi, thành tựu rất vẻ vang : Nớc ta từ một nớc thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một
quốc gia có độc lập chủ quyền; Nhân dân ta từ thân nô lệ mất nớc đã trở thành ngời làm
chủ nớc nhà; nền kinh tế Việt Nam t nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu đang bớc vào thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa; từ một quốc gia bị xóa tên trên bản đồ thế giới, bị

khó vạn lần , dân liệu cũng xong.
Đó là bài học kinh nghiệm quan trọng và là một chân lý hiển nhiên đã đợc tổng kết từ
thực tiễn lịch sử. Do đó, các đờng lối, chủ trơng của Đảng phải xuất phát từ yêu cầu nguyện
vọng của quần chúng nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, liên hệ chặt chẽ với
nhân dân, giáo dục động viên quần chúng nhân dân tự giác thực hiện đờng lối chính sách
chủ trơng của Đảng. Trong điều kiện Đảng nắm chính quyền, phải thực hiện dân chủ xã hội
chủ nghĩa, kiên quyết chống tệ quan liêu xa rời quần chúng và những hành vi xâm phạm tới
quyền dân chủ và lợi ích của nhaan dân, nh lợi dụng chức quyền để ức hiếp quần chúng,
tham nhũng, coi thờng pháp luật. Mặt khác, phải ngăn chặn và khắc phục các hiện tợng dân
chủ hình thức, dân chủ cực đoan, đồng thời phải nghiêm trị mọi hành vi lợi dụng dân chủ
để gây rối, phá hoại.

Ba là : Đảng biết nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh để định ra đờng lối chủ trơng độc lập, tự chủ đúng đắn.
Từ ngày Đảng ra đời cho đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác Lênin và hệ t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng và kim chỉ nam cho hoạt động của
mình.
Quán triệt quan điểm chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, Đảng luôn có ý thức
nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí
Minh để vận dụng và phát triển một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra
đờng lối, chủ trơng, giải pháp, bớc đi ... giải quyết những vấn đề do thực tiễn cách mạng
Việt Nam đặt ra. Đảng chú trọng chống máy móc giáo điều, chủ quan duy ý chí. Đảng thờng xuyên tổng kết kinh nghiệm để phát triển lý luận và nâng cao bản lĩnh cách mạng của
mình. Trong công cuộc đổi mới, Đảng nhấn mạnh phải đổi mới t duy, nâng cao trí tuệ và
đổi mới phơng thức hoạt động trên cơ sở đảm bảo định hớng xã hội chủ nghĩa và hiệu quả
kinh tế - xã hội. Đảng phải phấn đấu vợt qua những ảnh hởng tiêu cực của cơ chế thị trờng,
xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, co đủ năng lực lãnh đạo nhân dân ta giành nhiều
thành tựu to lớn hơn nữa, tiến tới một nớc Việt Nam dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, xã hội chủ nghĩa.
Đó là những bài học kinh nghiệm lớn về xây dựng một chính đảng cách mạng kiểu
mới của giai cấp công nhân ở nớc ta.
22

Chỉ có Đảng - ngời nắm vững quy luận Mác - Lênin, mới nhận thức và vận dụng đúng đắn
những quy luật phát triển của xã hội, đề ra đờng lối và phơng pháp tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn nớc ta.
Trong thời kỳ quá độ, tất yếu còn tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nên
sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm thực hiện đúng đắn các mối quan hệ kinh tế - xã hội, phát

23


huy quyền làm chủ của nhân dân lao động - mục tiêu và động lực của cách mạng xã hội
chủ nghĩa.
Do trong xã hội có nhiều tổ chức khác nhau, cần quy tụ sự hoạt động của mọi tổ chức
xã hội nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng đất nớc tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Đảng đóng vai trò ngời tổ chức, phối hợp sự hoạt động của mọi cơ quan nhà
nớc, đoàn thể và tổ chức xã hội.
Sự tin tởng, gắn bó và uỷ thác của nhân dân ta đối với Đảng hình thành một cách tự
nhiên trong mỗi ngời dân Việt Nam từ trong các cuộc đấu tranh một mất một còn để giành
và giữ lấy vững nền độc lập tự do của dân tộc, xây dụng một cuộc sống mới, đ a đất nớc
ngày một tiến lên. Tuy nhiên, ngày nay, lại có một số ngời không hiểu đợc tính tất yếu của
lịch sử, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với cách mạng nớc ta. họ chịu ảnh hởng của thuyết đa nguyên chính trị, đòi lập chế độ đa đảng cầm quyền, đòi xét lại vai trò
lãnh đạo của Đảng, đòi Đảng trả lại quyền cho "nhân dân"... thực chất là tìm cách thủ tiêu,
hoặc hạ thấp vai trò của Đảng. Tình trạng có nhiều lực lợng đối lập trong xã hội không phải
là biểu hiện của dân chủ chân chính; ngợc lại, làm trở ngại, khó khăn cho sự ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Lịch sử hơn 70 năm qua đã chứng một chân lý, một tất yếu lịch sử : ở nớc ta, không
có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thì không có độc lập dân tộc, không có quyền làm chủ
thực sự của nhân dân, không có nhà nớc của dân, do dân và vì dân, không thể thực hiện đợc
công bằng của xã hội, không thể có CNXH . Qua đó, chúng ta thấy đợc Đảng Cộng Sản
Việt Nam giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với nhân dân, đất nớc ta trong quá trình xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.

2. Kết luận
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn tổng kết kinh nghiệm từng thời kỳ
để có những giá trị lý luận và thực tiễn để chỉ đạo quá trình cách mạng thời kỳ tiếp theo.
Nhiệm vụ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là giữ vững mục tiêu độc lạ dân tộc và chủ
nghĩa xã hội.
Lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 tới nay là thời kỳ đấu tranh vô cùng oanh
liệt của nhân dân ta để giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong hơn 70 năm qua,
nhân dân ta đã phải đơng đầu với những kẻ thù thâm độc tàn bạo và mạnh nhất thế giới.
Nhng nhân dân Việt Nam dới sự lãnh đạo của Đảng đã vợt qua muôn vàn khó khăn thử
thách giành những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại.
Trong qua trình đổi mới, Đảng ta vẫn luôn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và tiến
lên chủ nghĩa xã hội : Bảo vệ chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh
quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí tự lập tự cờng, xây dựng đất nớc
giàu mạnh, xây dựng nền kinh tế theo hớng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục kế thừa và xây dựng
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; hội nhập với thế giới song không tự đánh mất
mình. Cảnh giác chống mọi âm mu và hành động diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch. Từng bớc đa đất nớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong thế kỷ XX, ở Việt Nam tuy co rất nhiều đảng phái, nhiều tổ chức chính trị - xã
hội, nhiều nhà yêu nớc đứng ra tổ chức các phong trào cách mạng nhng họ đề thất bại. Thực
tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam 70 năm qua đã chứng minh Đảng Cộng Sản Việt Nam là
nhân tố cơ bản nhất quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status