TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 13:
“SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ MỘT
BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG LỊCH
SỬ TRIẾT HỌC”
SVTH : Vũ Hòang Hải Phú
STT : 6
Nhóm : 13
Lớp : Cao học đêm 12 - K20
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Tp. Hồ Chí Minh – 02/2012
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
Triết học Mác là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng hòan chỉnh, chính vì vậy nó đã
trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học vủa giai cấp công nhân và nhân lọai tiến
bộ trong thời đại mới. Triết học Mác đã kết thừa những tinh hoa, từ đó đưa ra những nguyên lý
khoa học giúp con người nhận thức đúng và cải tạo thế giới 3
Sự ra đời của triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học của
nhân lọai. Mác đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy nhân lọai, sang tạo nên
chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, không điều hòa với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình.
Mác đã thay đổi chủ nghĩa duy vật cũ và phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Đó là cuộc cách
mạng thật sự trong lịch sử triết học mà triết học Mác đã tạo ra. 3
CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC 4
CHƯƠNG II: BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC 6
KẾT LUẬN 12
2
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm. Sự
phát triển những tư tưởng triết học của nhân lọai là một quá trình không đơn
vốn có của bản thân nó cũng nảy sinh và ngày càng bộc lộ gay gắt, trước hết là
mâu thuẫn giữa hai giai cấp vô sản và tư sản. Mâu thuẫn này là biểu hiện về mặt
xã hội của mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu
thuẫn giữa tính chất xã hội hoá và trình độ phát triển ngày càng cao của lực
lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa.
Trong thời kỳ này, phong trào của giai cấp vô sản đã phát triển mạnh mẽ.
Cuộc đầu tranh của giai cấp vô sản ở nhiều nơi đã trở thành các cuộc khởi nghĩa
với những yêu sách giai cấp rõ ràng. Cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông
(Pháp) năm 1831 và năm 1834, cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Xilêdi (Đức) năm
1834 và phong trào Hiến chương ở Anh vào cuối những năm 30 đầu những năm
40 của thế kỷ XIX đã thu hút được sự chú ý của các đại biểu tiên tiến của các
tầng lớp tri thức tư sản tiến bộ, trước hết là C. Mác và Ph.Ăngghen tới vấn đề
nguyên nhân, bản chất của các cuộc đấu tranh giai cấp - xã hội và những triển
vọng của các cuộc đấu tranh giai cấp ấy. Rõ ràng những cuộc đấu tranh giai cấp
ở các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến ở châu Âu những năm 30 - 40 của thế kỷ
XIX là nhân tố khách quan chứng tỏ rằng đã có những tiền đề xã hội - giai cấp và
những điều kiện để xuất hiện chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, là chứng cứ để nói rằng nhu cầu xã hội đã chín muồi để xuất hiện một thế
giới quan triết học mới - triết học mácxít.
4
2. Tiền đề về lý luận:
Những tư tưởng xã hội trực tiếp xuất hiện trước chủ nghĩa Mác và biểu
hiện rõ ràng nhất là kinh tế chính trị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp, triết học cổ điển Đức. Tring đó những học thuyết ấy chứa đựng những giá
trị về mặt lịch sử. Đó là, lý luận giá trị lao động của Smith và Ricardo, là những
dự đóan thiên tài của Xanh Ximông và Phuriee về một số đặc điểm của xã hội
chủ nghĩa tương lai và sự phê phán của các ông đối với xã hội tư bản. Đó là phép
biện chứng duy tâm của Hêghen và kiến giải duy vật về vấn đề cơ bản của Triết
học trong các tác phẩm của Phoiơbắc. Những học thuyết đó là những đỉnh cao
của sự phát triển tư tưởng lý luận xã hội lòai người trong thời kì trước Mác. Sự
luật của khoa học và triết học mà nhân loại đã đạt tới, nó được hình thành như là
kết quả của các phát hiện của Mác và Ăngghen về những quy luật chung nhất của
sự phát triển thế giới. Chủ nghĩa Mác do Mác và Ăngghen sáng lập là một học
thuyết thống nhất, hoàn chỉnh, gồm ba bộ phận cấu thành: triết học mácxít, kinh
tế chính trị học mácxít và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Sự hình thành thế giới quan duy vật của Mác cũng đồng thời là quá trình
nghiên cứu những cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng của các ông diễn ra
trong nửa đầu của những năm 40 thế kỷ XIX dưới ảnh hưởng trực tiếp của phong
trào công nhân và những phát minh về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội,
trong quá trình đấu tranh chống phép biện chứng duy tâm của Hêghen và phê
phán chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc.
CHƯƠNG II: BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG CỦA
TRIẾT HỌC MÁC
1. Thứ nhất :Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
Trong lịch sử triết học trước C.Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện
chứng tách rời nhau. Các nhà duy vật dù đã thể hiện những tư tưởng biện chứng,
6
nhưng suy cho cùng do hạn chế bởi điều kiện lịch sử xã hội và khoa học cho nên
họ vẫn bị chi phối bơi phương pháp tư duy siêu hình. Tư tưởng bịên chứng đã đạt
được những thành tựu lớn lao trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học
Hêghen, nhưng nó lại phát triển trong hệ thồng triết học duy tâm thần bí. Do đó,
nhìn chung, lịch sử triết học trước Mác thể hiện thế giới quan duy vật trong mối
quan hệ với phương pháp nhận thức siêu hình, hoặc là thế giới duy tâm trong mối
quan hệ với phương pháp nhận thức biện chứng.
Phép biện chứng duy vật ra đời trong điều kiện phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa đang phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản đã
cung cấp thực tiễn cho C.Mác và Ph.Ănghen để đúc kết và kiểm nghiệm lý luận
về phép biện chứng. Dựa trên cơ sở thành tựu khoa học tự nhiên (cuối thế kỷ
XVIII, đầu thế kỷ XIX) đi vào hệ thống hoá tài liệu khoa học thực nghiệm. Đây
là hai tiền đề thực tiễn rất quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật.
Triết học C.Mác là một hệ thống sáng tạo, là một hệ thống mở, không
ngừng được bổ sung, được làm phong phú thêm bởi chính thực tiễn và phát triển.
Cùng với chính sự phát triển thực tiễn, học thuyết của C.Mác là kim chỉ nam cho
hành động.
Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác - xít là kết quả của sự chín muồi về
mặt lịch sử của nhận thức khoa học và của thực tiễn xã hội. Sự ra đời của nó đáp
ứng nhu cầu về mặt lý luận của giai cấp công nhân.
Triết học Mác ra đời đã chứng minh tính thống nhất giữa thế giới quan và
phưng pháp luận: thế giới quan duy vật biện chứng trong sự thống nhất hữu cơ
với phương pháp biện chứng duy vật. Kế thừa chủ nghĩa duy vật và phép biện
chứng trong triết học cổ điển Đức, C.Mác đã xây dựng chủ nghĩa duy vật biện
chứng, hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lich sử triết học
và phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về sự phát triển của thế
giới tự nhiên, lịch sử xã hội loài người và tư duy.
8
2. Thứ hai: Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử
Một đặc điểm có ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng trong triết học là mở
rộng chủ nghĩa duy vật sang xã hội loài người, hình thành nên chủ nghĩa duy vật
lịch sử . Mác đã đưa ra học thuyết đó tới chỗ hoàn thiện và mở rộng nhận thức ấy
từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người. Chủ nghĩa
duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý
luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự tuỳ tiện, vẫn ngự trị
từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác đã chỉ ra quy luật vận động
của lịch sử xã hội loài người, sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội là một quá
trình lịch sử – tự nhiên. Trong các quy luật của lịch sử xã hội, quy luật biện
chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có vai trò quyết định. Các
quan hệ về kinh tế quyết định các quan hệ về kiến trúc thượng tầng. Triết học
lịch sử cũng đã phát hiện vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người
“đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng
4. Thứ tư: Thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng
Bản chất khoa học của triết học Mác đã bao hàm tính cách mạng. tính
khoa học càng sâu sắc, càng phản ánh đúng quy luật của sự phát triển thế giới thì
tính cách mạng càng cao, càng triệt để.
Triết học Mác biểu hiện tính cách mạng ở từng bản chất khoa học của học
thuyết, trong mục đích cải tạo thế giới, trong vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai
cấp vô sản. Triết hoc Mác đã chứng minh, bằng sức mạnh của phương pháp biện
chứng, sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chế độ xã hội chủ nghĩa là một tất yếu
lịch sử. “Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là đã chỉ cho giai cấp vô sản
con đường phải đi theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về mặt tinh thần, trong đó tất
cả các giai cấp bị áp bức đã sống lay lắt từ trước tới nay”. Triết học Mác là vũ khí
10
tinh thần của giai cấp vô sản, còn giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của triết học
Mác trong cuộc đấu tranh vì xã hội tương lai.
Tính cách mạng của triết học Mác biểu hiện ở bản chất khoa học và cách
mạng của phép biện chứng. C.Mác cho rằng : “ Dưới dạng hợp lý của nó, phép
biện chứng chỉ đem lại sự giận giữ và kinh hoàng cho cho giai cấp tư sản và bọn
tư tưởng gia giáo điều của chúng mà thôi, vì trong tính tích cực của cái hiện đang
tồn tại, phép biện chứng bao đồng thời bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái
hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; Vì mỗi hình thái đã hình
thành đều được phép biện chứng xét trong sự vận động, tức là xét cả mặt tức thời
trong sự vận động hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một
cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính phê phán và tính cách mạng”
5. Thứ năm: Xác định mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể
Quan niệm truyền thống trong lịch sử triết học trước C.Mác coi : “ triết
học là khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác ra đời đã chấm dứt quan niệm
đó, đồng thời xác định tính đúng đối tượng của triết học là nghiên cứu những quy
luật chung nhất của tự nhiên , xã hội và tư duy. Vì vậy không những không tách
rời mà trái lại triết học Mác càng có mối quan hệ thống nhất và độc lập với các
chuyên ngành. Sự phát triển của các khoa học khác nhau trong nghiên cứu thế
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa
Triết học Phần II Đại cương về Lịch sử Triết học - TS. Bùi Văn Mưa (chủ
biên), 2010.
2. PGS. TS. Lê Doãn Tá.
Triết học Mácxít quá trình hình thành và phát triển (giai đoạn Mác Ăngghen
và Lênin).
3. Đề cương bài giảng triết học Mác - Lênin (Khoa triết học Trường ĐHKHXH
& NV - 1998).
13
4. Triết học (Dùng cho nghiên cứu sinh và cao học thuộc ngành không chuyên
triết học tập I, II, III - NXB chính trị Quốc gia).
5. http://thiencan.wordpress.com/2010/08/11/ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA
%BFt-h%E1%BB%8Dc/ - đề tài số 24
14