tiểu luận triết học sự ra đời của triết học mác tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

………………… … ………………. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Đề tài:

SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
TẠO RA BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG
TRONG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC.

GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
HVTH : Phạm Văn Dũng
LỚP : Đêm 1 – K19 THÁNG 3/2010

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 1
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm. Sự phát

1.1. Khái luận về lịch sử triết học 3
1.1.1. Triết học 3
1.1.2. Phân kỳ lịch sử triết học 3
1.1.3. Vấn đề cơ bản của triết học 4
1.2. Sự ra đời của triết học Mác 4
1.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội 4
1.2.2. Nguồn gốc lí luận 6
1.2.3. Tiền đề khoa học tự nhiên 7
Chương 2 – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TRIẾT HỌC MÁC 8
2.1. Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác 8
2.1.1. Chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen từ chủ nghĩa duy tâm,
dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật, cộng sản chủ nghĩa 8
2.1.2. Giai đoạn hình thành những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử 10
2.1.3. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung - phát triển lý luận triết học 12
2.1.4. Giai đoạn Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác 13
2.2. Nội dung triết học Mác 14
Chương 3 - BƯỚC NGOẶC CÁCH MẠNG TRONG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
TRIẾT HỌC 16
3.1. Cuộc cách mạng trong lĩnh vực Triết học 16
3.2. Thực chất cuộc cách mạng trên lĩnh vực triết học do C.Mác – Ph.Ăngghen
thực hiện 18
3.3. Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực
hiện 21
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 3

HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 4
- Triết học Mác - Lênin
1.1.3. Vấn đề cơ bản của triết học
Khi nghiên cứu các hệ thống, các trường phái triết học, chủ nghĩa Mác cho rằng
“vấn đề cơ bản” hay “vấn đề tối cao” của triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn
tại, giữa tinh thần và thế giới tự nhiên. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
 Mặt thứ nhất, vật chất hay ý thức, tự nhiên hay tinh thần cái nào có trước, cái
nào có sau và cái nào quyết định cái nào?
- Đây là vấn đề cơ bản trong tất cả vấn đề mà triết học tập trung giải quyết.
Các học thuyết triết học được chia thành hai trào lưu cơ bản: duy vật hay
duy tâm, điều đó tuỳ thuộc vào việc giải quyết vấn đề cơ bản này. Các hệ
thống triết học thừa nhận tồn tại, tự nhiên, vật chất là cái có trước; ý thức,
tinh thần, tư duy là cái có sau, đó là chủ nghĩa duy vật. Còn các hệ thống
triết học coi ý thức là cái có trước, tồn tại là cái có sau là trào lưu duy tâm.
- Các nhà duy vật với tư cách là các nhà tư tưởng của các lực lượng xã hội
tiến bộ thường lấy những thành tựu, kết quả của khoa học thực tiễn tiến tiến
làm cơ sở cho thế giới quan của mình. Còn các nhà duy tâm luôn gắn với
tôn giáo, củng cố vị trí của tôn giáo bằng những luận cứ triết học duy tâm.
 Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức thế giới hay không? Hay nói một
cách khác, ý thức chúng ta có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan
không?
1.2. Sự ra đời của triết học Mác
Triết học Mác ra đời từ nửa cuối thế kỷ XIX, duy trì và phát triển cho đến ngày
nay. Hai nguồn gốc ra đời của triết học là nguồn gốc tri thức và nguồn gốc xã hội. Đối
với triết học Mác thì nguồn gốc ra đời biểu hiện thành các điều kiện sau:
1.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Triết học Mác ra đời vào thời kỳ chủ nghĩa phong kiến sụp đổ và chủ nghĩa tư
bản lớn mạnh ở một số nước châu Âu và Bắc Mỹ. Chủ nghĩa tư bản ra đời đã làm chio
lực lượng sản xuất phát triển đạt đến trình độ khác về chất so với lịch sử trước đó.


nền dân chủ, tiến bộ xã hội thì cần phải có thế giới quan duy vật khoa học.

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 6
Rõ ràng những cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến ở
châu Âu những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX là nhân tố khách quan chứng tỏ rằng đã có
những tiền đề xã hội - giai cấp và những điều kiện để xuất hiện chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; là chứng cứ để nói rằng nhu cầu xã hội đã chín
muồi đề xuất hiện một thế giới quan triết học mới – triết học Mác. Sự xuất hiện của
giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và phong trào đấu tranh của họ đã tạo ra nguồn tư
liệu quý báu về thực tiễn xã hội để C.Mác và Ph. Ăngghen khái quát xây dựng những
quan điểm triết học.
1.2.2. Nguồn gốc lí luận
Để xây dựng học thuyết của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những
thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học Đức với hai nhà triết học tiêu biểu
Hêghen và Phoiơbắc là nguồn gốc trực tiếp của triết học Mác.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng là những người theo học triết học Hêghen và
nghiên cứu triết học Phoiơbắc. Qua đó, hai ông đã nhận thấy: Tuy học thuyết triết học
của Hêghen mang quan điểm của chủ nghĩa duy tâm nhưng chứa đựng cái “hạt nhân
hợp lý” của phép biện chứng. Còn học thuyết triết học Phoiơbắc tuy còn mang nặng
quan niệm siêu hình nhưng nội dung lại thấm nhuần quan điểm duy vật. C.Mác và
Ph.Ăngghen đã kế thừa “hạt nhân hợp lý” của Hêghen và cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí
để xây dựng nên lí luận mới của phép biện chứng. Hai ông đã kế thừa chủ nghĩa duy
vật của Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó để
xây dựng nên lí luận mới của chủ nghĩa duy vật. Từ đó tạo ra cơ sở để hai ông xây
dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
thống nhất một cách hữu cơ.
Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc là
A.Smít và Đ.Ricácđô không những là nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế mà
còn là tiền đề lý luận để hình thành quan điểm triết học.

triển thế giới. Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập là một học thuyết
thống nhất, hoàn chỉnh, gồm ba bộ phận cấu thành: triết học mácxít, kinh tế chính trị
học mácxít và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Như vậy, triết học Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống
thực tiễn mà còn vì những tiền đề lý luận, xã hội và khoa học mà nhân loại đã tạo ra.

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 8
Chương 2 – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TRIẾT
HỌC MÁC
2.1. Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác
Sự hình thành và phát triển triết học Mác - Lênin trải qua một quá trình. Quá
trình trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng
ghen từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và cộng sản
chủ nghĩa; giai đoạn hình thành những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử; giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lí luận triết học; giai
đoạn Lênin bảo vệ hoàn thiện và tiếp tục phát triển triết học Mác.
2.1.1. Chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen từ chủ nghĩa duy
tâm, dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật, cộng sản chủ nghĩa
2.1.1.1. Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác
C.Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) sinh trưởng trong một gia đình trí thức ở thành
phố Tơrevơ, tỉnh Ranh, vùng có nhiều ảnh hưởng của cách mạng tư sản Pháp.
Những ảnh hưởng tốt của giáo dục gia đình, nhà trường và các quan hệ xã hội
khác đã giúp C.Mác hình thành tinh thần nhân đạo và xu hướng yêu tự do. Phẩm chất
đó không ngừng được bồi dưỡng và đã trở thành định hướng cho cuộc đời sinh viên và
đưa C.Mác tới chủ nghĩa dân chủ cách mạng. Trong thời gian học ở khoa Luật trường
Đại học Tổng hợp Béc lin (1836 - 1841) ông say mê nghiên cứu triết học, nhằm giải
đáp vấn đề giải phóng con người, thực hiện dân chủ, vươn tới tự do. Năm 1837 C.Mác
tập trung nghiên cứu triết học Hêghen và tham gia nhóm “Hêghen trẻ”.
Sau khi việc xuất bản một tạp chí với tên gọi “Tư liệu của chủ nghĩa vô thần”

Cuối tháng 10 - 1843, C.Mác sang Pari. Ở đây, không khí chính trị sôi sục và
tiếp xúc với các đại biểu của giai cấp vô sản đã dẫn đến bước chuyển biến dứt khoát
quan điểm của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản. Trong bài báo “lời
nói đầu của cuốn sách góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, C.Mác đã
phân tích một cách sâu sắc theo quan điểm duy vật ý nghĩa và hạn chế của cuộc cách
mạng tư sản chỉ là “cuộc cách mạng bộ phận”; đồng thời ông khẳng định, chỉ có cuộc
cách mạng do giai cấp vô sản thực hiện mới là “cuộc cách mạng triệt để”. C.Mác nêu
rõ: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 10
sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình”. Với bài báo này và một số bài
báo khác đăng trong tạp chí Niên giám Đức - Pháp năm 1844 đánh dấu bước hoàn
thành quá trình chuyển biến lập trường, quan điểm của Các Mác.
2.1.1.2. Sự chuyển biến tư tưởng của Ph.Ăngghen
Ph.Ăngghen sinh ngày 28-11-1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi ở tỉnh
Ranh. Việc nghiên cứu triết học trong thời gian ở Béc lin, khi làm nghĩa vụ quân sự đã
hướng ông đi vào con đường khoa học. Song, chỉ thời gian gần hai năm sống ở
Manchestơ (Anh) từ mùa thu 1842 khi nghiên cứu đời sống kinh tế và chính trị nước
Anh, nhất là việc trực tiếp tham gia phong trào công nhân mới dẫn đến bước chuyển
căn bản trong thế giới quan của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1844 trên tạp chí Niên giám Đức - Pháp, Ph.Ăngghen đăng một số bài báo:
"Bản thảo góp phần phê phán kinh tế - chính trị học", "Tình cảnh giai cấp công nhân
Anh". Các tác phẩm đó cho thấy ở Ph.Ăngghen, quá trình chuyển từ chủ nghĩa duy
tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản
đã hoàn thành. Quá trình này diễn ra độc lập với C.Mác. Trong các bài báo này, ông đã
đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản để phê
phán kinh tế chính trị học của A.Xmit và Đ.Ricacdo.
2.1.2. Giai đoạn hình thành những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử

họ" và quan điểm: "Quan điểm duy vật lịch sử khi xem xét lịch sử xã hội phải xuất
phát từ con người". Trong tác phẩm này cũng đã trình bày rõ hệ thống quy luật vận
động và phát triển của xã hội loài người.
Trong thời gian này C.Mác viết tác phẩm: "Luận cương về Phoiơbắc" (8/1845)
nêu rõ quan điểm xuyên suốt đó là: vai trò quyết định của thực tiễn đối với đời sống xã
hội. Đồng thời cũng đưa ra quan điểm về bản chất của con người: "Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội".
Với tác phẩm "Luận cương về Phoiơbắc" và nhất là tác phẩm “Hệ tư tưởng
Đức” quan niệm duy vật lịch sử đã hình thành. Quan niệm đó tạo cơ sở lý luận khoa
học vững chắc cho sự phát triển tư tưởng cộng sản chủ nghĩa. Tuy vậy trong hệ tư
tưởng Đức, học thuyết về chủ nghĩa cộng sản được hai ông trình bày như là một hệ quả
trực tiếp của quan niệm duy vật lịch sử cho nên chủ nghĩa cộng sản chưa được diễn đạt

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 12
thành luận điểm cụ thể. Song, một điều quan trọng là C.Mác và Ăngghen đã xây dựng
phương pháp tiếp cận khoa học để nhận thức chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1847, C.Mác viết tác phẩm: "Sự khốn cùng của triết học". Ở đây ông trình
bày tiếp các nguyên lý của triết học, chủ nghĩa cộng sản khoa học và trình bày các luận
điểm để viết tác phẩm tư bản.
Năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm “Tuyên ngôn cộng sản” là văn
kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa Mác, của phong trào cộng sản thế
giới. Trong đó trình bày một cách triệt để thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Với tác phẩm Tuyên ngôn cộng sản, triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung
đã hình thành và sẽ được C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục bổ sung phát triển trong thời
gian sau.
2.1.3. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung - phát triển lý luận triết học
Từ sau “Tuyên ngôn cộng sản”, học thuyết triết học Mác tiếp tục được phát triển
trong sự gắn bó hơn nữa với thực tiễn cách mạng vô sản mà hai ông là lãnh tụ. Bằng

công kích chủ nghĩa duy vật của Mác. Nước Nga sau khi cuộc cách mạng 1905-1907
thất bại, những người theo chủ nghĩa Makhơ tăng cường hoạt động lý luận, họ viện cớ
"bảo vệ chủ nghĩa Mác" để xuyên tạc triết học Mác.
Do vậy, Lênin đã viết hàng loạt các tác phẩm như: "Những người bạn dân là thế
nào" và "Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân túy", "Sự phê phán trong cuốn sách của
ông Xtơruve", để vạch trần bản chất phản cách mạng của bọn dân tuý Nga và phê phán
những luận điểm duy tâm chủ quan về lịch sử của họ. Trong cuộc đấu tranh đó, Lênin
đã bảo vệ chủ nghĩa Mác và còn làm phong phú thêm quan điểm duy vật lịch sử, nhất
là lý luận về hình thái kinh tế xã hội.
Năm 1900 Lênin viết tác phẩm: “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm
phê phán” để vạch rõ quan điểm duy tâm, siêu hình của những người theo chủ nghĩa
Ma Khơ và chỉ rõ tác hại của nó đến phong trào cách mạng ở Nga. Trong tác phẩm,
Lênin đã bổ sung và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử dựa trên sự phân tích, khái quát những thành tựu khoa học mới nhất. Lênin xây
dựng định nghĩa vật chất với tính cách là phạm trù triết học, đồng thời còn làm rõ thêm
nhiều vấn đề về lý luận nhận thức mác xít.

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 14
Năm 1914 - 1915, Lênin nghiên cứu nhiều tác phẩm triết học, đặc biệt quan tâm
nghiên cứu về phép biện chứng của Hêghen để làm phong phú thêm phép biện chứng
duy vật, nhất là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập. Thông qua
đó, Lênin chuẩn bị lý luận cho cuộc cách mạng 1917. Tinh thần sáng tạo của tư duy
biện chứng đã giúp cho Lênin có những đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận của
chủ nghĩa Mác về triết học như: vấn đề về nhà nước nước, bạo lực cách mạng, chuyên
chính vô sản, lý luận về đảng kiểu mới. Lênin đã là tấm gương mẫu mực trong việc bảo
vệ và phát triển triết học Mác. Với tinh thần biện chứng duy vật, xem chân lý là cụ thể,
có khi Lênin đã phải thay đổi một cách căn bản đối với một quan điểm nào đó của
mình về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều.
Chính vì vậy mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung,


GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 16
Chương 3 - BƯỚC NGOẶC CÁCH MẠNG TRONG LỊCH SỬ
PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC
3.1. Cuộc cách mạng trong lĩnh vực Triết học
Trước C.Mác, tất cả các học thuyết triết học chỉ nhằm giải thích thế giới chứ
không thể cải tạo thế giới. Học thuyết Mác ra đời đã trở thành công cụ cải tạo thế giới,
đã giải thích thế giới theo tính duy vật triệt để, phát hiện được các nguyên lý vận động
cơ bản của xã hội (mà về sau những người không hiểu nổi học thuyết này cho rằng nó
là do các nhà khoa học tư sản phát hiện ra). Đó là nguyên lý điều chỉnh về mối quan hệ
giữa cá nhân và xã hội (là do quan hệ lợi ích), nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về

thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Đó là một cuộc cách mạng thực sự trong
triết học. Từ khi chủ nghĩa duy vật lịch sử ra đời đã loại bỏ được cơ sở tồn tại cuối
cùng của chủ nghĩa duy tâm.
Những học thuyết triết học trước triết học Mác thường mới dừng lại ở việc giải
thích thế giới, cho nên họ chưa đề cập đến vai trò của hoạt động thực tiễn đối với lý
luận, lý luận thường tách rời với thực tiễn. Do vậy, không tránh khỏi tình trạng rơi vào
quan điểm duy tâm về xã hội. Ngay cả ở trong triết học Phoiơbắc tuy coi vấn đề con
người là trung tâm thế nhưng đây chỉ mới là con người thuần túy về mặt sinh vật, chưa
phải con người với tính cách là chủ thể hoạt động cải tạo thế giới. Còn triết học Mác đã
xác định rõ: Nhiệm vụ của mình không chỉ dừng lại ở giải thích thế giới mà chủ yếu là
tìm ra các phương tiện, các biện pháp để cải tạo thế giới bằng cách mạng. Triết học
Mác thường lấy hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội, cải tạo thế giới của con người là
điểm xuất phát và thông qua quá trình hoạt động thực tiễn để hoàn thiện hệ thống lý
luận của mình. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, triết học Mác đã tạo ra
được sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Lý luận xuất phát từ thực tiễn, chịu
sự quyết định của thực tiễn; khi ra đời, lý luận định hướng hoạt động thực tiễn. Vì thế,
so với các học thuyết triết học khác thì triết học Mác luôn luôn được bổ sung và hoàn
thiện.

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 18
3.2. Thực chất cuộc cách mạng trên lĩnh vực triết học do C.Mác – Ph.Ăngghen
thực hiện
Sự hình thành thế giới quan duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đồng thời
là qúa trình nghiên cứu những cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng của các ông
diễn ra trong nửa đầu của những năm 40 thế kỷ XIX dưới ảnh hưởng trực tiếp của
phong trào công nhân và những phát minh về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội,
trong quá trình đấu tranh chống phép biện chứng duy tâm của Hêghen và phê phán chủ
nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc.
Trong giai đoạn đầu, trước nửa năm sau của năm 1843, C.Mác và Ph.Ăngghen

một bài luận văn lớn dành cho việc phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Sau đó,
C.Mác sang Pari, cố gắng nghiên cứu các vấn đề kinh tế – chính trị học và lịch sử các
phong trào cách mạng. Tại đây, C.Mác đã tham gia các cuộc hội họp của công nhân,
đặt mối quan hệ với các nhà lãnh đạo của các tổ chức công nhân bí mật Pháp và Đức.
Những năm 1843-1844 là thời kỳ C.Mác chuyển hoàn toàn sang lập trường của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản. Các bài của C.Mác đăng trên Niên
giám Pháp – Đức mà số đầu xuất bản tại Pari vào tháng 2 –1844 đã thể hiện rõ sự
chuyển biến đó. Trong thời kỳ này C.Mác ở Pari, Ph.Ăngghen ở Anh, hai ông độc lập
trong việc nghiên cứu tình cảnh giai cấp công nhân, sống gần gũi với họ, giải thích vai
trò lịch sử thế giới của giai cấp công nhân với tính cách là giai cấp cách mạng triệt để,
tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới trong tương lai,
vượt chủ nghĩa tư bản. Trong thời kỳ này, qua nghiên cứu và thực tiễn, các ông đã khắc
phục được phép biện chứng duy tâm, và sự hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình,
hình thành những cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Quá trình phát triển thế giới quan của C.Mác là một quá trình không đơn giản,
mà được gắn với sự phát triển của khoa học và thực tiễn chính trị – xã hội. Đó là một
qúa trình thống nhất hai mặt, cải biến theo chủ nghĩa duy vật cái nội dung hợp lý của
phép biện chứng duy tâm của Hêghen và giải thích theo phép biện chứng cách giải
quyết duy vật vấn đề cơ bản của triết học, khắc phục phép siêu hình. Đó là một quá
trình đồng thời khắc phục phép biện chứng duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình, đặt
nền móng cho chủ nghĩa duy vật biện chứng.

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 20
Triết học của C.Mác khác về chất với triết học của Phoi ơbắc và Hêghen. Phép
biện chứng của Hêghen là phép biện chứng ý niệm. Hêghen chỉ mới phỏng đoán phép
biện chứng của sự vật trong phép biện chứng của ý niệm. Đối lập với Hêghen, C.Mác
và Ănghen cho rằng phép biện chứng của khái niệm chỉ là sự phản ánh phép biện
chứng của thế giới khách quan trong ý thức của con người. Lời mở đầu tác phẩm Phê
phán triết học pháp quyền của Hêghen đăng trong Niên giám Pháp - Đức tháng 2 –

cấp vô sản là vũ khi vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh
thần của mình”
Khi phê phán triết học của Hêghen về mặt nhà nước và pháp quyền, C.Mác thực
hiện một thể nghiệm đầu tiên đặc biệt có kết quả là mở rộng chủ nghĩa duy vật sang
lĩnh vực các hiện tượng xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, ông chỉ ra sức mạnh và hiệu
lực của phép biện chứng duy vật, là phương pháp tạo ra khả năng phát hiện các quy
luật khách quan của sự phát triển xã hội, cho phép giải quyết một cách triệt để những
nhiệm vụ nhận thức không thể giải quyết được nếu đứng trên lập trường của phép biện
chứng duy tâm, hay đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật siêu hình.
Bởi vậy, C.Mác đã bắt đầu nghiên cứu những nguyên tắc của phép biện chứng
duy vật và quan điểm duy vật lịch sử ngay trong Lời mở đầu tác phẩm trên. Đồng thời
C.Mác, Ph.Ăngghen cũng đã nghiên cứu những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch
sử. Chứng cứ hùng hồn là bài báo Sơ thảo về phên phán kinh tế – chính trị học cùng
đăng trên Niên giám Pháp - Đức số tháng 2 – 1844. Cuộc gặp gỡ đầu tiên của C.Mác
và Ph.Ăngghen diễn ra vào tháng 11-1842, khi C.Mác làm biên tập viên cho Báo
Rainơ. Tháng 8-1844, tại Pari, trên đường từ Anh về Đức diễn ra cuộc gặp gỡ thứ hai.
Và từ đó, hai ông đã có mối quan hệ bền chặt, gắn bó trong cả cuộc đời. Từ đó hai ông
cùng làm việc để sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, sáng tạo ra kinh tế chính trị học mác xít và lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học.
3.3. Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực
hiện
Với sự ra đời của triết học Mác, vai trò xã hội của triết học cũng như vị trí của
triết học trong hệ thống trị thức khoa học có thay đổi căn bản.

GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 22
“Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau song vấn
đề là cải tạo thế giới”, luận điểm đó của C.Mác nói lên sự khác nhau về chất giữa triết
học Mác với các học thuyết triết học trước kia, kể cả những học thuyết triết học tiến bộ.
Tuy vậy, C.Mác không hề phủ nhận, trái lại C.Mác đã đánh giá cao vai trò to lớn trong

triết học là “khoa học của các khoa học” đứng trên mọi khoa học. C.Mác và Ăngghen
đã xây dựng lý luận triết học của mình trên cơ sở khái quát các thành tựu của khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội. Theo Ăngghen, mỗi lẫn có một phát minh vạch thời đại,
ngay cả trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi phải
thay đổi hình thức của nó. Ngược lai, Triết học Mác lại trở thành thế giới quan khoa
học và phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển của các khoa học. Sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học ngày nay càng chứng tỏ sự cần thiết phải có tư duy biện
chứng duy vật và ngược lại phải phát triển lý luận triết học của chủ nghĩa Mác dựa trên
những thành tựu của khoa học hiện đại.
Như vậy, triết học Mác đã phân định rõ ranh giới giữa triết học với các khoa học
khác và thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng, cũng như xác định rõ đối
tượng nghiên cứu của triết học là tìm ra quy luật vận động, phát triển
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
HVTH: PHẠM VĂN DŨNG – Lớp Đêm 1 – Khóa 19 Trang | 24
KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status