TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 13:
“SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ MỘT
BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG LỊCH
SỬ TRIẾT HỌC”
SVTH : Trần Thanh Tiến
STT :
Nhóm : 13
Lớp : Cao học Đêm 5 – K21
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Tp. Hồ Chí Minh – 02/2012
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC 4
CHƯƠNG II: BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC 6
KẾT LUẬN 12
LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách
mạng hoàn chỉnh, là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động trong cuộc đấu tranh để nhận thức và cải tạo thế giới. Hiện nay,
cuộc đấu tranh tư tưởng và thực tiễn mới xây dựng đất nước đòi hỏi chúng
ta phải tìm hiểu và nhận thức lại những giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác
- Lênin, trong đó có việc nghiên cứu và quán triệt những nguyên lý cơ bản
2
của triết học duy vật biện chứng, để phát triển và vận dụng học thuyết cách
mạng vào khoa học đó một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Vì vậy,
việc khôi phục và bảo vệ những giá trị của triết học mácxít cũng như toàn
bộ chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định vị trí và vai trò của triết học mácxít
trong lịch sử triết học cũng như trong cuộc sống, trở thành một nhiệm vụ
Anh, Mác và Ăngghen đã kế thừa học thuyết giá trị của A.Xmít và Đ.Ricácđô và
vận dụng vào phân tích kinh tế TBCN, chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư.
Mác và Ăngghen cũng kế thừa Xanh Ximông, Phuriê ở những luận điểm: cần và
có thể đập tan nhà nước tư sản. Với triết học cổ điển Đức, Mác, Ăngghen khắc
4
phục vỏ duy tâm, thần bí của triết học Hêghen kế thừa phương pháp biện chứng
của ông ta, đặt phương pháp biện chứng này trên nền thế giới quan duy vật. Đồng
thời khắc phục tính siêu hình trong triết học Phoiơbắc, kế thừa CNDV nhân bản
của ông và làm giàu chủ nghĩa duy vật này bằng phương pháp biện chứng. Đồng
thời cả chủ nghĩa duy vật, cả phương pháp biện chứng đều được các ông nâng lên
về chất. Trên cớ sở đó, Mác và Ăngghen đã sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện
chứng.
3. Tiền đề về khoa học tự nhiên:
Đó là những phát minh khoa học như định luật bảo toàn vật chất và vận
động; định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng. Hai phát minh khoa học này
đã chứng minh tính thống nhất vật chất của thế giới, đồng thời chỉ ra rằng, mọi
sự vật và hiện tượng trong thế giới luôn nằm trong mối liên hệ tác động qua lại
lẫn nhau. Thuyết tế bào; thuyết tiến hoá đã chứng minh sự thống nhất về mặt kết
cấu sinh học của thế giới hữu sinh; chỉ ra rằng, sự sống và sự đa dạng phong phú
của các loài sinh, động vật là kết quả tiến hoá tự nhiên, lâu dài của chính giới tự
nhiên. Những phát minh này tạo ra điều kiện, tiền đề cho thế giới quan duy vật
và phương pháp biện chứng ra đời.
Như vậy triết học Mác ra đời là tất yếu lịch sử, tất nhiên phải có những điều
kiện chủ quan như sự thông minh, lòng yêu thương những người lao động của
chính Mác và Ăngghen
5
CHƯƠNG II: BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG CỦA
TRIẾT HỌC MÁC
1. Thứ nhất :Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
chứng duy tâm của Hêghen. C.Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt
phép biện chứng duy tâm của Hêghen "đứng trên hai chân của mình" tức là đứng
trên nền tảng duy vật.
Theo C.Mác thì phép biện chứng chính là "khoa học về mối liên hệ phổ
biến trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong tư duy
Ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: 1. Mối liên hệ
cùng tồn tại và phát triển; 2. Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau
nhưng vẫn có sự giống nhau; 3. Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát
triển. Các mối liên hệ được khái quát thành các cặp phạm trù như( phần tử- hệ
thống, nguyên nhân- kết quả, lượng- chất) và các quy luật (quy luật lượng - chất,
quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ
định).
Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác đã công khai tính giai cấp của để
bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Trong khi
đó các nền triết học trước Mác che dấu lợi ích của nó, bảo vệ lợi ích của giai cấp
thống trị, của một nhóm người thiểu số trong xã hội.
Triết học C.Mác là một hệ thống sáng tạo, là một hệ thống mở, không
ngừng được bổ sung, được làm phong phú thêm bởi chính thực tiễn và phát triển.
Cùng với chính sự phát triển thực tiễn, học thuyết của C.Mác là kim chỉ nam cho
hành động.
Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác - xít là kết quả của sự chín muồi về
mặt lịch sử của nhận thức khoa học và của thực tiễn xã hội. Sự ra đời của nó đáp
ứng nhu cầu về mặt lý luận của giai cấp công nhân.
7
Triết học Mác ra đời đã chứng minh tính thống nhất giữa thế giới quan và
phưng pháp luận: thế giới quan duy vật biện chứng trong sự thống nhất hữu cơ
với phương pháp biện chứng duy vật. Kế thừa chủ nghĩa duy vật và phép biện
chứng trong triết học cổ điển Đức, C.Mác đã xây dựng chủ nghĩa duy vật biện
chứng, hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lich sử triết học
và phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về sự phát triển của thế
Hoạt động lý luận là hoạt động đặc biệt nó thống nhất hữu cơ với hoạt
động thực tiễn. Vì vậy, khi nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đối với lý luận,
chủ nghĩa Mac-Lênin cũng khẳng đinh tính tích cực của sự tác động trở lại
của lý luận đối với thực tiễn. Lênin khẳng định: “không có lý luận cách mạng
thì không có phong trào cách mạng”. Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành
động thực tiễn. Cố nhiên để có thể giải đáp được những vấn đề của cuộc
sống, lý luận phải không ngừng liên hệ bằng những hình thức khác nhau với
thực tiễn. Cho nên, thực chất vai trò của lý luận đối với thực tiễn là ở chỗ lý
luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận
động và phát triển của thế giới khách quan.
Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra
những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn. Lý luận khoa học
làm cho con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng “mò mẫm”,
tự phát. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh ví “không có lý luận thì lúng túng như
nhắm mắt mà đi”.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong
sự phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo
tưởng. Vì thế, không được cường điệu vai trò của lý luận, mặt khác không
được xem nhẹ thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó cũng có
nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng.
4. Thứ tư: Thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng
Như chúng ta đã biết, học thuyết khoa học và cách mạng của chủ nghĩa
Mác, trong đó có triết học duy vật biện chứng, đã ra đời trên cơ sở kế thừa một
cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, mà trực tiếp nhất là triết
học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp; đồng thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học đương thời,
của thực tiễn lịch sử nhân loại. Chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử
không những vì nó là sự phản ánh thực tiễn xã hội, mà còn là sự phát triển hợp
lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại.
vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng
xét trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó, vì phép biện
10
chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất
phê phán và cách mạng”(3).
Nói một cách khái quát, học thuyết Mác, triết học Mác đã trang bị cho
chúng ta hệ thống quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển và
thực tiễn trong mọi hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm cải biến
cách mạng thế giới hiện tồn.
Bất chấp thực tiễn thăng trầm của thời đại, chúng ta vẫn có thể khẳng định rằng,
trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác, triết học Mác, với những luận điểm,
quan điểm và tư tưởng cơ bản thực sự khoa học và cách mạng vẫn giữ nguyên
giá trị, vẫn là lý tưởng cao đẹp nhất của loài người, là cách thức thay đổi và cải
tạo thế giới vì mục tiêu giải phóng con người, giải phóng xã hội.
5. Thứ năm: Xác định mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể
Triết học Mac xác định được mối quan hệ giữa triết học với các khoa học
cụ thể khác. Trước Mac, người ta xem “triết học là khoa học của các khoa học”.
Tuy nhiên, triết học Mac ra đời đã chấm dứt quan điểm đó, đồng thời xác định
đối tượng của triết học là nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã
hội và tư duy. Vì vậy, không những không tách rời mà trái lại, triết học Mac càng
có mối liện hệ thống nhất và độc lập với các khoa học chuyên ngành. Mối liên hệ
đó thể hiện ở chỗ, sự phát triển của các khoa học khác đặt cơ sở cho những khái
quát mang tính phổ biến của triết học. Ngược lại, những kết luận của triết học trở
thành thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung nhất cho sự phát triển
của các lĩnh vực khoa học. Chính vì đặc điểm này của triết học mà nhiều người
lầm tưởng “triết học là khoa học của các khoa học”!
Không những mang đến bản chất mới cho triết học, cuộc cách mạng trong triết
học do Mac và Engels thực hiện còn có ý nghĩa rất to lớn. Đó là CNDV và phép
biện chứng trong cuộc cách mạng triết học do Mac và Engels thực hiện đã đưa
triết học đến giai đoạn phát triển cao nhất và triệt để. ”Triết học của Mac là một
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa -Triết học Phần II Đại cương về Lịch sử Triết học - TS. Bùi
Văn Mưa (chủ biên), 2010.
2. PGS. TS. Lê Doãn Tá Triết học Mácxít quá trình hình thành và phát triển
(giai đoạn Mác Ăngghen và Lênin).
13
3. Đề cương bài giảng triết học Mác - Lênin (Khoa triết học Trường ĐHKHXH
& NV - 1998).
4. Triết học (Dùng cho nghiên cứu sinh và cao học thuộc ngành không chuyên
triết học tập I, II, III - NXB chính trị Quốc gia).
5. http://hocluat.blogspot.com/2008/09/s-ra-i-v-pht-trin-ca-trit-hc-mc-lnin.html
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và
nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), Nhà xuất bản Lý luận
chính trị, Hà Nội, 2006.
7. Nguyễn Ngọc Thu, Bùi Văn Mưa (chủ biên), Giáo trình Đại cương lịch sử
Triết học, Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM, 2003.
8. Bùi Văn Mưa, Lê Thanh Sinh (chủ biên), Triết học – Phần 2 (dùng cho học
viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), LHNB,
Trường ĐH Kinh tế TPHCM, 2008.
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác – Lênin (dùng trong các
trường đại học và cao đẳng), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
10.Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), Lịch sử Triết học, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2002.
14