TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI NHÓM 13:
“Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng
trong lịch sử triết học”
SVTH : ĐỖ NGỌC THUẬN
STT : 03
Lớp : Cao học Đêm 5 - K20
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA
Tp HCM, ngày 24 tháng 2 năm 2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
PHẦN I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI, CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC 2
I.2.1. Giai đoạn chuyển biến tư tưởng của Các Mác và Ph.Ăng ghen từ chủ nghĩa
duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và cộng sản chủ nghĩa 5
I.2.2. Giai đoạn hình thành những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử 8
I.2.3. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học 10
I.2.4. Giai đoạn Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác 10
I.2.5. Vận dụng và phát triển triết học Mác - LN trong điều kiện TG hiện nay 12
II.1. Thống nhất thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng 14
II.2. Triết học Mác lần đầu tiên xây dựng chủ nghiã duy vật lịch sử 14
II.3. Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học từ quan điễm thực tiễn 15
II.4. Thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng 17
II.5. Xác định mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể 18
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
[4] : Yahoo hỏi và đáp, “Triết học Mác - Lênin ra đời là một tất yếu lịch sử và là
đúng, hiểu kỹ vấn đề thì cần phải có sự đầu tư và chiêm nghiệm rất nhiều.
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 1 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
PHẦN I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI, CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC
I.1. Tiền đề, điều kiện ra đời của triết học Mác:
Triết học Mác - Lênin ra đời từ nửa cuối thế kỷ XIX và phát triển cho đến
ngày nay. Từ khi ra đời, triết học Mác - Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng
trong lịch sử triết học và trở thành thế giới quan, phương pháp luận của hoạt
động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người.
I.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội:
a) Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp :
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX do tác động của cuộc cách mạng trong
công nghiệp làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố vững chắc và trở thành xu thế phát triển của
nền sản xuất xã hội. Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp và
trở thành cường quốc công nghiệp. Ở Pháp, cuộc cách mạng công nghiệp đang đi
vào giai đoạn hoàn thành.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản
được củng cố tạo ra cơ sở kinh tế để cho xã hội tư bản phát triển kèm theo đó
mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt; sự phân hóa giàu
nghèo tăng lên, bất công xã hội tăng. Những xung đột giữa giai cấp vô sản với tư
sản đã phát triển thành những cuộc đấu tranh giai cấp.
b) Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử
Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời và lớn lên cùng với sự hình thành
và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Khi chế độ tư bản chủ
nghĩa được xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội, giai cấp vô
sản trở thành bị trị thì mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản vốn mang tính đối kháng
phát triển trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở
Mác ra đời là triết học cổ điển Đức mà tiêu biểu là triết học Hêghen và
Phoiơbắc.Triết học duy tâm khách quan của Hêghen là đỉnh cao của triết học cổ
điển Đức. Ông là người đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng biện chứng
duy tâm, đã triển khai những quy luật và phạm trù của biện chứng xuất phát từ “ý
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 3 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
niệm tuyệt đối”. Bằng thiên tài của mình C.Mác và Ăngghen đã cải tạo phép biện
chứng duy tâm thành phép biện chứng duy vật triệt để, để phép biện chứng duy
vật trở thành công cụ nhận thứa các lĩnh vực tự nhiên xã hội tư duy và con người.
Một trong những đại biểu lớn nhất của triết học cổ điển Đức là
Phoiơbắc.Ông là nhà triết học duy vật, chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ
nghĩa duy vật nhân bản. Ông coi con người với tư cách là một thực thể của tự
nhiên- là đối tượng nghiên cứu của triết học. C.Mác và Ăngghen đã đánh giá cao
chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình
và duy tâm về lịch sủ của ông .Chính C.Mác và Ăngghen là những người nhận
thức một cách chính xác đóng góp và hạn chế của Phoiơbắc, làm tiền đề cho sự
hình thành và phát triển của thế giới quan duy vật biện chứng của mình.
Xét trong tiến trình phát triển của lịch sử triết học, sự ra đời cuả triết học
Mác còn là sự tiếp nhận tinh thần phê phán tinh hoa của lịch sử triết học nhân
loại. Những học thuyết đó là những đỉnh cao của sự phát triển tư tưởng lý luận xã
hội của loài người trong tại kỳ trước Mác. Sự phát triển hơn nữa về kinh tế chính
trị học, lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học và triết học chỉ có thể có được với
sự ra đời của phép biện chứng duy vật. Song rõ ràng, những thành tựu đã đạt tới
của nhân loại lại là những tiền đề lý luận tất yếu về mặt lịch sử; và là nguồn góc
của chủ nghĩa Mác nói chung và của triết học mácxít nói riêng.
I.1.3. Tiên đề khoa học tự nhiên:
Giữa triết học với khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng có
mối quan hệ khăng khít. Sự phát triển của tư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri
thức do các khoa học cụ thể đem lại. Vì thế, mỗi khi trong khoa học có những
phát minh mang tính chất vạch thời đại thì tạo ra sự thay đổi của triết học.
(bố là luật sư) ở thành phố Tơrevơ, tỉnh Ranh, một vùng có nhiều ảnh hưởng của
cách mạng tư sản Pháp và đạo Kitô là tôn giáo độc tôn.
Những ảnh hưởng tốt của giáo dục gia đình, nhà trường và các quan hệ xã
hội khác đã giúp Các Mác hình thành tinh thần nhân đạo và xu hướng yêu tự do.
Phẩm chất đó không ngừng được bồi dưỡng và đã trở thành định hướng cho cuộc
đời sinh viên và đưa Các Mác tới chủ nghĩa dân chủ cách mạng. Cũng vì thế,
trong tình hình lúc đó, triết học Hêghen với tinh thần biện chứng cách mạng của
nó được Các Mác xem là chân lý. Trong thời gian học ở khoa Luật trường Đại
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 5 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
học Tổng hợp Béc lin (1836 - 1841) ông say mê nghiên cứu triết học, nhằm giải
đáp vấn đề giải phóng con người, thực hiện dân chủ, vươn tới tự do. Năm 1837
Các Mác tập trung nghiên cứu triết học Hêghen và tham gia nhóm “Hêghen trẻ”.
Sau khi nhận bằng tiến sỹ triết học (8/1841), Các Mác chuẩn bị vào giảng
dạy triết học ở trường đại học và dự định xuất bản một tạp chí với tên gọi “Tư
liệu của chủ nghĩa vô thần”. Nhưng dự định đó không được thực hiện vì nhà
nước phong kiến Phổ thực hiện chính sách đàn áp những người dân chủ cách
mạng. Ông và một số người theo phái “Hêghen trẻ” đã chuyển sang hoạt động
chính trị đấu tranh chống lại chủ nghĩa chuyên chế Phổ giành lại quyền tự do dân
chủ; đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng của ông. Như vậy lúc này,
trong tư tưởng của Các Mác có sự mâu thuẫn giữa thế giới quan duy tâm với tinh
thần dân chủ cách mạng và vô thần. Mâu thuẫn bước đầu được giải quyết khi Các
Mác làm việc ở báo Sông Ranh, ở đây lúc đầu là cộng tác viên sau trở thành linh
hồn của tờ báo và ông đã làm cho nó trở thành cơ quan ngôn luận của phái dân
chủ cách mạng.
Thực tiễn đấu tranh báo chí đã làm cho tư tưởng dân chủ cách mạng ở Các
Mác có nội dung rõ ràng hơn, đó là đấu tranh cho lợi ích của quần chúng lao
động. Lúc này tư tưởng cộng sản chủ nghĩa chưa được hình thành, ông đấu tranh
bảo vệ “quần chúng nghèo khổ bất hạnh” dưới tinh thần nhân đạo. Với tinh thần
nhân đạo, ông tập trung phê phán các chính sách của nhà nước Phổ, nhà nước đó
trình chuyển biến lập trường, quan điểm của Các Mác.
b) Sự chuyển biến tư tưởng của Ph.Ăngghen
Ph.Ăngghen sinh ngày 28-11-1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi ở
tỉnh Ranh. Khi còn là học sinh trung học đã có thái độ căm ghét sự chuyên quyền
và độc đoán của bọn quan lại phong kiến. Việc nghiên cứu triết học trong thời
gian ở Béc lin, khi làm nghĩa vụ quân sự đã hướng ông đi vào con đường khoa
học. Song, chỉ thời gian gần hai năm sống ở Manchestơ (Anh) từ mùa thu 1842
khi nghiên cứu đời sống kinh tế và chính trị nước Anh, nhất là việc trực tiếp tham
gia phong trào công nhân mới dẫn đến bước chuyển căn bản trong thế giới quan
của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1844 trên tạp chí Niên giám Đức - Pháp, Ph.Ăngghen đăng một số
bài báo: "Bản thảo góp phần phê phán kinh tế - chính trị học", "Tình cảnh giai
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 7 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
cấp công nhân Anh". Các tác phẩm đó cho thấy ở Ăngghen, quá trình chuyển từ
chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa cộng sản đã hoàn thành. Quá trình này diễn ra độc lập với Các Mác.
Trong các bài báo này, ông đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa cộng sản để phê phán kinh tế chính trị học của A.Xmit và
Đ.Ricacdo.
I.2.2. Giai đoạn hình thành những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử
Sự nhất trí về quan điểm và lập trường đã dễn đến tình bạn vĩ đại giữa Các
Mác và Ph.Ăngghen, gắn liền tên tuổi của hai ông với sự ra đời và phát triển một
thế giới quan cách mạng của giai cấp vô sản.
Thời gian từ năm 1844 đến năm 1848 là quá trình hai ông từng bước xây
dựng những nguyên lý triết học của mình.
Năm 1844 qua tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học" Các Mác tiếp tục
phê phán triết học duy tâm của Hêghen, đồng thời cũng vạch ra mặt tích cực của
nó là phép biện chứng. Các Mác thông qua phân tích sự tha hóa của lao động đã
(8/1845) nêu rõ quan điểm xuyên suốt đó là: vai trò quyết định của thực tiễn đối
với đời sống xã hội. Đồng thời cũng đưa ra quan điểm về bản chất của con người:
"Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã
hội".
Với tác phẩm "Luận cương về Phoiơbắc" và nhất là tác phẩm “Hệ tư
tưởng Đức” quan niệm duy vật lịch sử đã hình thành. Quan niệm đó tạo cơ sở lý
luận khoa học vững chắc cho sự phát triển tư tưởng cộng sản chủ nghĩa. Tuy vậy
trong hệ tư tưởng Đức, học thuyết về chủ nghĩa cộng sản được hai ông trình bày
như là một hệ quả trực tiếp của quan niệm duy vật lịch sử cho nên chủ nghĩa
cộng sản chưa được diễn đạt thành luận điểm cụ thể. Song, một điều quan trọng
là Các Mác và Ăngghen đã xây dựng phương pháp tiếp cận khoa học để nhận
thức chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1847, Các Mác viết tác phẩm: "Sự khốn cùng của triết học". Ở đây
ông trình bày tiếp các nguyên lý của triết học, chủ nghĩa cộng sản khoa học và
trình bày các luận điểm để viết tác phẩm tư bản.
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 9 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
Năm 1848, Các Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm “Tuyên ngôn cộng
sản” là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa Mác, của phong
trào cộng sản thế giới. Trong đó trình bày một cách triệt để thế giới quan mới,
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Với tác phẩm Tuyên ngôn cộng sản, triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói
chung đã hình thành và sẽ được Các Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục bổ sung phát
triển trong thời gian sau.
I.2.3. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học
Từ sau “Tuyên ngôn cộng sản”, học thuyết triết học Mác tiếp tục được
phát triển trong sự gắn bó hơn nữa với thực tiễn cách mạng vô sản mà hai ông là
lãnh tụ. Bằng hoạt động của mình, hai ông đã đưa phong trào cách mạng của giai
cấp vô sản từ tự phát thành phong trào tự giác; chính qua đó, học thuyết triết học
của hai ông không ngừng được phát triển.
cường hoạt động lý luận, họ viện cớ "bảo vệ chủ nghĩa Mác" để xuyên tạc triết
học Mác.
Do vậy, Lênin đã viết hàng loạt các tác phẩm như: "Những người bạn dân
là thế nào" và "Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân túy", "Sự phê phán trong
cuốn sách của ông Xtơruve", để vạch trần bản chất phản cách mạng của bọn dân
tuý Nga và phê phán những luận điểm duy tâm chủ quan về lịch sử của họ.
Trong cuộc đấu tranh đó, Lênin đã bảo vệ chủ nghĩa Mác và còn làm phong phú
thêm quan điểm duy vật lịch sử, nhất là lý luận về hình thái kinh tế xã hội.
Năm 1900 Lênin viết tác phẩm: “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán” để vạch rõ quan điểm duy tâm, siêu hình của những người
theo chủ nghĩa Ma Khơ và chỉ rõ tác hại của nó đến phong trào cách mạng ở
Nga. Trong tác phẩm, Lênin đã bổ sung và phát triển chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử dựa trên sự phân tích, khái quát những thành
tựu khoa học mới nhất. Lênin xây dựng định nghĩa vật chất với tính cách là phạm
trù triết học, đồng thời còn làm rõ thêm nhiều vấn đề về lý luận nhận thức mác
xít.
Năm 1914-1915, Lênin nghiên cứu nhiều tác phẩm triết học, đặc biệt
quan tâm nghiên cứu về phép biện chứng của Hêghen để làm phong phú thêm
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 11 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
phép biện chứng duy vật, nhất là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa hai
mặt đối lập. Thông qua đó, Lênin chuẩn bị lý luận cho cuộc cách mạng 1917.
Tinh thần sáng tạo của tư duy biện chứng đã giúp cho Lênin có những đóng góp
quan trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác về triết học như: vấn đề về
nhà nước nước, bạo lực cách mạng, chuyên chính vô sản, lý luận về đảng kiểu
mới. Lênin đã là tấm gương mẫu mực trong việc bảo vệ và phát triển triết học
Mác. Với tinh thần biện chứng duy vật, xem chân lý là cụ thể, có khi Lênin đã
phải thay đổi một cách căn bản đối với một quan điểm nào đó của mình về chủ
nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều. Chính
vì vậy mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung,
hiện quá trình đổi mới đã tạo ra một số thành công và gặp không ít thất bại. Cả sự
thành công và thất bại đó đều đòi hỏi phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa
xét lại, khắc phục bệnh giáo điều trong việc vận dụng lý luận. Phải biết tổng kết
những thành tựu của khoa học hiện đại, khái quát sự phát triển của lịch sử xã hội,
tổng kết kinh nghiệm thực tiễn qua công cuộc đổi mới để bổ sung, hoàn thiện
triết học Mác - Lênin. Chúng ta không thể đổi mới thành công nếu xa rời lập
trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, rơi vào chủ nghĩa xét lại.
Như vậy, phát triển lý luận triết học Mác - Lênin và đổi mới chủ nghĩa xã
hội trong thực tiễn là một quá trình thống nhất, bởi vì "Thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin".
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 13 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
PHẦN II: PHÂN TÍCH LÀM NỖI BẬT TÍNH
“BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG”
Triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch
sử triết học nhân loại. Toàn bộ hệ thống triết học do C.Mác và Ăngghen thực
hiện đã chứng minh một cách bản chất và sinh động có giá trị lý luận và thực tiễn
lớn lao của học thuyết Mác
II.1. Thống nhất thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng
Trước Mác , chủ nghiã duy vật thường bị tách rời với phép biện chứng.
Tuy vậy, trong các học thuyết duy vật trước Mác cũng có chứa đựng một số tư
tưởng biện chứng nhất định. Nhưng do hạn chế về trình độ phát triển khoa học và
về lịch sử nên nói chung quan điễm siêu hình là một thiếu sót lớn chi phối chủ
nghiã duy vật trước Mác. Đặc biệt là chủ nghiã duy vật thế kỹ thứ XVII-XVIII ở
Tây Âu.
Trong khi đó, phép biện chứng lại được quan tâm nghiêm cứu và phát
triển trong một số hệ thống triết học duy tâm, nhất là trong triết học Heghen.
Heghen là người có công lao to lớn trong việc khôi phục và phát triển phép biện
chứng, nhưng dưới cái vỏ duy tâm thần bí. Vì vậy, để xây dựng triết học duy vật
biện chứng, Mác đả phải cải tạo cả chủ nghiã duy vật củ, siêu hình và cả phép
II.3. Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học từ quan điễm thực tiễn
Trước Mác, CN duy vật đã trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài. Nó
đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần vào việc xác lập quan hệ duy
vật về thế giới, vào cuộc đấu tranh chống chủ nghiã duy tâm và tôn giáo, vào quá
trình biên đổi thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chủ nghĩa duy
vật trước Mác còn những thiết sót hạn chế mang tính chất lịch sử đó là:
- Duy vật trong việc xem xét giới tự nhiên nhưng vẩn duy tâm trong việc
xem xét đời sống xã hội.
-Tính chất siêu hình máy móc và trực quan khiến cho nó không thấy được
tính năng động sáng tạo của ý thức.
Nếu chủ nghiã duy tâm đã cường điệu vai trò của ý thức tư tưởng đến mức
coi ý thức sinh ra vật chất thì trái lại, chủ nghiã duy vật trước Mác lại hạ thấp
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 15 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
hoặc phủ nhận vai trò của ý thức, không thấy sự tác động trở lạivô cùng quan
trọng của ý thức trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất trên cơ sở
hoạt động thực tiễn của con người. Do chịu ảnh hưởng bởi quan điễm siêu hình
và do thiếu quan điễm thực tiễn nên nhiều nhà duy vật trưôc Mác đã coi ý thức là
sự phản ánh sự vật một cách thụ động, giản đơn máy móc, mà không thấy được
tính năng động, sáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh. Mác
nhận xét rằng, khuyết điễm chủ yếu của chủ nghiã duy vật cũ là quan điễm thực
tiễn, do đó lý luận của nó mang tính trực quan và không thể giải quyết một cách
khoa học, duy vật triệt để vấn đề cơ bản của triết học.
Mãi đến triết học Mác, Chũ nghiã duy vật mới trở thành triệt để, khoa học
là công cụ sắc bén để nhận hức và cải tạo hiện thực.
Với việc đưa quan điễm thực tiễn vào lý luận. Mác không những thực
hirện một cuộc cách mạng trong lãnh vực triết học, mà còn tạo cơ sở để khác
phục những hạn chế của chủ nghiã duy vật cũ, phê phán triệt để sai lầm của chũ
nghiã duy vật và thuyết không thể biết.
Chủ nghiã duy vật mác-xít khẳng định rằng, vật chất có trước ý thức có
Bản chất khoa học của triết học Mác đã bao hàm tính cách mạng. tính
khao học càng sâu sắc, càng phản ánh đúng quy luật của sự phát triển thế giới thì
tính cách mạng càng cao, càng triệt để.
Triết học Mác biểu hiện tính cách mạng ở từng bản chất khoa học của học
thuyết, trong mục đích cải tạo thế giới, trong vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai
cấp vô sản. Triết hoc Mác đã chứng minh, bằng sức mạnh của phương pháp biện
chứng, sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chế độ xã hội chủ nghĩa là một tất yếu
lịch sử. “Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là đã chỉ cho giai cấp vô sản
con đường phải đi theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về mặt tinh thần, trong đó tất
cả các giai cấp bị áp bức đã sống lay lắt từ trước tới nay”. Triết học Mác là vũ khí
tinh thần của giai cấp vô sản, còn giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của triết học
Mác trong cuộc đấu tranh vì xã hội tương lai.
Tính cách mạng của triết học Mác biểu hiện ở bản chất khoa học và cách
mạng của phép biện chứng. C.Mác cho rằng : “ Dưới dạng hợp lý của nó, phép
biện chứng chỉ đem lại sự giận giữ và kinh hoàng cho cho giai cấp tư sản và bọn
tư tưởng gia giáo điều của chúng mà thôi, vì trong tính tích cực của cái hiện đang
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 17 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
tồn tại, phép biện chứng bao đồng thời bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái
hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; Vì mỗi hình thái đã hình
thành đều được phép biện chứng xét trong sự vận động, tức là xét cả mặt tức thời
trong sự vận động hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một
cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính phê phán và tính cách mạng”
II.5. Xác định mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể
Quan niệm truyền thống trong lịch sử triết học trước C.Mác coi : “ triết
học là khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác ra đời đã chấm dứt quan niệm
đó, đồng thời xác định tính đúng đối tượng của triết học là nghiên cứu những quy
luật chung nhất của tự nhiên , xã hội và tư duy. Vì vậy không những không tách
rời mà trái lại triết học Mác càng có mối quan hệ thống nhất và độc lập với các
chuyên ngành. Sự phát triển của các khoa học khác nhau trong nghiên cứu thế
thể. Các tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở để cụ thể hoá và phát triển triết
học Mác.
Hiện nay, đất nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, thì việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác-
Lênin một cách có hệ thống, nhất là việc nắm vững các nguyên tắc và vận dụng
những nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng duy vật là một yêu cầu bức thiết
để đổi mới tư duy, là định hướng tư tưởng và mang lại cho chúng ta công cụ tư
duy sắc bén để đấu tranh chống lại tư duy siêu hình, bảo thủ lạc hậu và thực hiện
thắng lợi mục tiêu XHCN của cách mạng nước nhà.
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 19 GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Tiểu luận: Sự ra đời của triết học Mac là bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] : Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học – Phần 1 – Đại cương về lịch sử triết học
(tài liệu dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên
ngành triết học của trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh), 2011.
[2] : Bùi Văn Mưa, Tài liệu học tập – Dành cho chương trình cao học kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh, 2012.
[3] : Tài liệu ôn tập Triết Học - Khoa Mac-Lenin & Tư tưởng Hồ Chí Minh,
, Trường đại học mỏ - địa chất, 2008.
[4] : Yahoo hỏi và đáp, “Triết học Mác - Lênin ra đời là một tất yếu lịch sử và
là một bước ngoặt cách mạng trong triết học?”
/> />[5] : Tài liệu tiểu luận - Phân tích thực chất của cuộc cách mạng trên lĩnh vực
triết học do Mac – Ăngghen thực hiện – Ý nghĩa của vấn đề đó, Kho tài liệu của
website www.caohockinhte.info
SVTH: Đỗ Ngọc Thuận 20 GVHD: TS Bùi Văn Mưa