GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
T.P HỒ CHÍ MINH
(Phòng Quản Lý Đào Tạo Sau Đại Học)
________________________________
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ BƯỚC
NGOẶT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
HVTH : Phạm Khánh Hưng
Lp : Cao Hc Đêm 5
Kh#a : K20 (Xin hc lại vi K21)
STT : 11
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 1
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa hc và cách mạng hoàn
chỉnh, là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc
đấu tranh để nhận thức và cải tạo thế gii. Hiện nay, cuộc đấu tranh tư tưởng và
thực tiễn mi xây dựng đất nưc đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu và nhận thức lại
những giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đ# c# việc nghiên cứu và
quán triệt những nguyên lý cơ bản của triết hc duy vật biện chứng, để phát triển
và vận dụng hc thuyết cách mạng vào khoa hc đ# một cách sáng tạo trong hoạt
động thực tiễn. Vì vậy, việc khôi phục và bảo vệ những giá trị của triết hc mácxít
cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định vị trí và vai trò của triết hc
mácxít trong lịch sử triết hc cũng như trong cuộc sống, trở thành một nhiệm vụ
bức thiết. Trong bài tiểu luận ngắn này em xin trình bày một cách ngắn gn và sơ
lược quá trình hình thành và ra đời của triết hc duy vật biện chứng mácxít: “Sự ra
đời của triết học Mác là một bước ngoặt có tính cách mạng trong lịch sử
này là biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá và trình độ phát triển ngày
càng cao của lực lượng sản xuất vi quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa.
Trong thời kỳ này, phong trào của giai cấp vô sản đã phát triển mạnh mẽ. Cuộc
đầu tranh của giai cấp vô sản ở nhiều nơi đã trở thành các cuộc khởi nghĩa vi
những yêu sách giai cấp rõ ràng. Cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông (Pháp) năm
1831 và năm 1834, cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Xilêdi (Đức) năm 1834 và phong
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 3
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
trào Hiến chương ở Anh vào cuối những năm 30 đầu những năm 40 của thế kỷ XIX
đã thu hút được sự chú ý của các đại biểu tiên tiến của các tầng lp tri thức tư sản
tiến bộ, trưc hết là C. Mác và Ph.Ăngghen ti vấn đề nguyên nhân, bản chất của
các cuộc đấu tranh giai cấp - xã hội và những triển vng của các cuộc đấu tranh
giai cấp ấy. Rõ ràng những cuộc đấu tranh giai cấp ở các nưc tư bản chủ nghĩa
tiên tiến ở châu Âu những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX là nhân tố khách quan chứng
tỏ rằng đã c# những tiền đề xã hội - giai cấp và những điều kiện để xuất hiện chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là chứng cứ để n#i rằng nhu
cầu xã hội đã chín muồi để xuất hiện một thế gii quan triết hc mi - triết hc
mácxít.
Mặt khác lý luận chủ nghiã xã hội không tưởng của Xanh Ximong, Phuriê , Về
bản chất, không đáp ứng được yêu cầu, lợi ích và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô
sản. Chỉ c# triết hc Mác ra đời mi đáp ứng được nhu cầu là vũ khí tinh thần của
giai cấp vô sản cũng như giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của triết hc Mác, bởi vì
chỉ c# triết hc Mác mi c# khảo năng cải tạo chủ nghĩa xã hội không tưởng thành
chủ nghĩa xã hội khoa hc.
2. Tiền đề lý luận:
Để xây dựng hc thuyết của mình ngang tầm vi trí tuệ nhân loại, Các Mác và
Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết hc
Đức vi hai nhà triết hc tiêu biểu Hêghen và Phoiơbắc là nguồn gốc trực tiếp của
triết hc Mác.
Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, khoa hc tự nhiên phát triển mạnh vi
nhiều phát minh quan trng: Định luật bảo toàn biến h#a năng lượng, Thuyết tế
bào, thuyết tiến h#a. Những phát minh khoa hc đ# đã vạch ra mối liên hệ thống
nhất giữa những sự vật, giữa các hình thức vận động khác nhau trong tính thống
nhất vật chất của thế gii, vạch ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển.
Đồng thời đã làm bộc lộ rõ tính hạn chế và sự bất lực của phương pháp tư duy siêu
hình và của tư tưởng biện chứng cổ đại cũng như phép biện chứng của Hêghen. Từ
đ# đặt ra một yêu cầu trong tư duy nhân loại cần phải xây dựng một phương pháp
tư duy mi thật sự khoa hc. Vi những phát minh của mình, khoa hc đã cung cấp
những tri thức để Các Mác và Ph.Ăng ghen khái quát xây dựng phép biện chứng duy
vật.
Như vậy, triết hc Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống
thực tiễn mà còn vì những tiền đề lý luận, xã hội và khoa hc mà nhân loại đã tạo
ra.
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 5
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
PHẦN II: SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ
BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
1. Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác - Lênin:
Sự hình thành và phát triển triết hc Mác - Lênin trải qua một quá trình. Quá
trình trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn chuyển biến tư tưởng của Các Mác và
Ph.Ăng ghen từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật
và cộng sản chủ nghĩa; giai đoạn hình thành những nguyên lý triết hc duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử; giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lí
luận triết hc; giai đoạn Lênin bảo vệ hoàn thiện và tiếp tục phát triển triết hc
Mác.
1.1. Sự chuyển biến tư tưởng của Các Mác
Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) sinh trưởng trong một gia đình trí thức
(bố là luật sư) ở thành phố Tơrevơ, tỉnh Ranh, một vùng c# nhiều ảnh hưởng của
cách mạng tư sản Pháp và đạo Kitô là tôn giáo độc tôn.
Như vậy, qua thực tiễn, nguyện vng muốn cắt nghĩa hiện thực, xác lập lý
tưởng tự do trong thực tế đã giúp Các Mác hình thành khuynh hưng duy vật, nhận
thấy mặt hạn chế của quan điểm duy tâm. Lúc này tinh thần dân chủ cách mạng
sâu sắc đã không dung hợp vi triết hc duy tâm tư biện. Vì thế sau khi báo Sông
Ranh bị cấm (1843), Các Mác đặt cho mình nhiệm vụ duyệt lại một cách c# phê
phán quan niệm duy tâm của Hêghen trưc hết về xã hội và nhà nưc. Ông đã viết
tác phẩm “g#p phần phê phán triết hc pháp quyền của Hêghen” để phê phán chủ
nghĩa duy tâm của Hêghen. Trong khi thực hiện phê phán ông nồng nhiệt tiếp nhận
quan điểm duy vật của triết hc Phoi Ơ Bắc. Song vi tinh thần phê phán ông đã
thấy những mặt hạn chế, nhất là việc xa rời những vấn đề chính trị n#ng hổi của
Phoi Ơ Bắc. Sự phê phán sâu rộng triết hc Hêghen, việc khái quát kinh nghiệm lịch
sử cùng vi ảnh hưởng quan điểm duy vật và nhân văn của triết hc Phoi Ơ Bắc đã
tăng cường mạnh mẽ xu hưng duy vật trong quan điểm triết hc của Các Mác.
Cuối tháng 10 - 1843, Các Mác sang Pari. ở đây, không khí chính trị sôi
sục và tiếp xúc vi các đại biểu của giai cấp vô sản đã dẫn đến bưc chuyển biến
dứt khoát quan điểm của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản. Trong
bài báo “lời n#i đầu của cuốn sách g#p phần phê phán triết hc pháp quyền của
Hêghen”, Các Mác đã phân tích một cách sâu sắc theo quan điểm duy vật ý nghĩa và
hạn chế của cuộc cách mạng tư sản chỉ là “cuộc cách mạng bộ phận”; đồng thời ông
khẳng định, chỉ c# cuộc cách mạng do giai cấp vô sản thực hiện mi là “cuộc cách
mạng triệt để”. Các Mác nêu rõ: “Giống như triết hc thấy giai cấp vô sản là vũ khí
vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết hc là vũ khí tinh thần của mình”.
Vi bài báo này và một số bài báo khác đăng trong tạp chí Niên giám Đức - Pháp
năm 1844 đánh dấu bưc hoàn thành quá trình chuyển biến lập trường, quan điểm
của Các Mác.
1.2. Sự chuyển biến tư tưởng của Ph.Ăngghen
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 7
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Ph.Ăngghen sinh ngày 28-11-1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi ở
tỉnh Ranh. Khi còn là hc sinh trung hc đã c# thái độ căm ghét sự chuyên quyền và
của Hêghen. Các ông đã tách ra cái hạt nhân hợp lý vốn c# của n# là phép biện
chứng và vứt bỏ cách giải thích hiện tượng tự nhiên xã hội và tư duy một cách thần
thánh hoá tư duy, n#i cách khác các ông đã cải tạo một cách duy vật phép biện
chứng duy tâm Hêghen.
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 8
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện
chứng, trong khi đ# các hc thuyết triết hc trưc đây duy vật nhưng siêu hình
(Triết hc cận đại) hoặc biện chứng nhưng duy tâm (cổ điển Đức). Phép biện chứng
duy vật không chỉ duy vật trong tự nhiên mà đi đến cùng trong lĩnh vực xã hội, do
đ# các ông đã xây dựng sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Theo C.Mác: Biện chứng khách quan là cái c# trưc, còn biện chứng chủ quan
(tư duy biện chứng) là cái c# sau và là phản ánh của biện chứng khách quan, đây là
sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật của ông vi phép biện chứng duy tâm
của Hêghen. C.Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt phép biện chứng duy
tâm của Hêghen "đứng trên hai chân của mình" tức là đứng trên nền tảng duy vật.
Theo C.Mác thì phép biện chứng chính là "khoa hc về mối liên hệ phổ biến
trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong tư duy". Theo Lênin thì phép biện chứng là
"hc thuyết về sự phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, hc thuyết về tính
tương đối của sự vật".
Ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: 1. Mối liên hệ cùng
tồn tại và phát triển; 2. Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy c# sự khác nhau nhưng
vẫn c# sự giống nhau; 3. Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển. Các
mối liên hệ được khái quát thành các cặp phạm trù như( phần tử - hệ thống,
nguyên nhân - kết quả, lượng - chất) và các quy luật (quy luật lượng - chất, quy
luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định).
Lần đầu tiên trong lịch sử triết hc, Mác đã công khai tính giai cấp của để bảo
vệ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Trong khi đ# các
nền triết hc trưc Mác che dấu lợi ích của n#, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị,
của một nh#m người thiểu số trong xã hội.
Một đặc điểm c# ý nghĩa to ln của cuộc cách mạng trong triết hc là mở rộng
chue nghĩa duy vật sang xã hội loài người, hình thành nên chủ nghĩa duy vật lịch sử
.V.I.Lenin đánh giá rằng : “ Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy
vật triết hc, Mác đã đưa ra hc thuyết đ# ti chõ hoàn bị và mở rộng nhận thức ấy
từ chỗ nhận thức gii tự nhiên đến chõ nhận thức xã hội loài người. Chủ nghĩa duy
vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa hc. Một lý luận
khoa hc hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự tuỳ tiện, vẫn ngự trị từ
trưc đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị ”
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết hc Mác đã chỉ ra quy luật vận động của
lịch sử xã hội loài người, sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình
lịch sử – tự nhiên. Trong các quy luật của lịch sử xã hội, quy luật biện chứng giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất c# vai trò quyết định. Các quan hệ về kinh tế
quyết định các quan hệ về kiến trúc thượng tầng. Triết hc lịch sử cũng đã phát
hiện vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người “đào huyệt chôn chủ
nghĩa tư bản” thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, hưng ti mục tiêu giải ph#ng
con người. Vi bản chất duy vật triệt để trong lĩnh vực xã hội, triết hc Mác trở
thành công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế gii, tạo ra bưc phát triển mi về
chất, một bưc nhảy vt so vi các hệ thống triết hc khác trong lịch sử.
4. Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 10
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Từ sau “Tuyên ngôn cộng sản”, hc thuyết triết hc Mác tiếp tục được phát
triển trong sự gắn b# hơn nữa vi thực tiễn cách mạng vô sản mà hai ông là lãnh
tụ. Bằng hoạt động của mình, hai ông đã đưa phong trào cách mạng của giai cấp vô
sản từ tự phát thành phong trào tự giác; chính qua đ#, hc thuyết triết hc của hai
ông không ngừng được phát triển.
Các Mác đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của phong trào đấu tranh cách
mạng để khái quát tìm ra những kết luận, qua đ# bổ sung và phát triển lý luận.
Điều đ# được biểu hiện qua nội dung của một số tác phẩm như: "Đấu tranh giai cấp
ở Pháp", "Nội chiến ở Pháp", "Phê phán cương lĩnh Gôta". Đặc biệt qua bộ Tư bản,
duy vật lịch sử, nhất là lý luận về hình thái kinh tế xã hội.
Năm 1900 Lênin viết tác phẩm: “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm
phê phán” để vạch rõ quan điểm duy tâm, siêu hình của những người theo chủ
nghĩa Ma Khơ và chỉ rõ tác hại của n# đến phong trào cách mạng ở Nga. Trong tác
phẩm, Lênin đã bổ sung và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử dựa trên sự phân tích, khái quát những thành tựu khoa hc mi
nhất. Lênin xây dựng định nghĩa vật chất vi tính cách là phạm trù triết hc, đồng
thời còn làm rõ thêm nhiều vấn đề về lý luận nhận thức mác xít.
Năm 1914-1915, Lênin nghiên cứu nhiều tác phẩm triết hc, đặc biệt quan
tâm nghiên cứu về phép biện chứng của Hêghen để làm phong phú thêm phép biện
chứng duy vật, nhất là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập.
Thông qua đ#, Lênin chuẩn bị lý luận cho cuộc cách mạng 1917. Tinh thần sáng tạo
của tư duy biện chứng đã giúp cho Lênin c# những đ#ng g#p quan trng vào kho
tàng lý luận của chủ nghĩa Mác về triết hc như: vấn đề về nhà nưc nưc, bạo lực
cách mạng, chuyên chính vô sản, lý luận về đảng kiểu mi. Lênin đã là tấm gương
mẫu mực trong việc bảo vệ và phát triển triết hc Mác. Vi tinh thần biện chứng
duy vật, xem chân lý là cụ thể, c# khi Lênin đã phải thay đổi một cách căn bản đối
vi một quan điểm nào đ# của mình về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mi thứ
biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều. Chính vì vậy mà một giai đoạn mi trong sự phát
triển của chủ nghĩa Mác n#i chung, triết hc Mác n#i riêng đã gắn liền vi tên tuổi
của Lênin và từ đ# triết hc Mác mang tên triết hc Mác - Lênin.
6. Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể
Đặc điểm của thời đại hiện nay là sự tương tác giữa hai quá trình cách mạng -
cách mạng khoa hc công nghệ và cách mạng xã hội, đã tạo nên sự biến đổi rất
năng động của đời sống xã hội. Trong điều kiện đ#, quá trình tạo ra những tiền đề
của chủ nghĩa xã hội diễn ra trong các nưc tư bản phát triển được đẩy mạnh như
một xu hưng khách quan. Sự ra đời của công ty cổ phần từ cuối thế kỷ trưc đã
được Các Mác xem là "hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa"
sang "phương thức sản xuất tập thể". Song, hiện thực khách quan đ# đã vượt khỏi
gii hạn nhận thức chật hẹp của chủ nghĩa giáo điều tồn tại trong một số người.
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 14
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
KẾT LUẬN
Nhờ sự ra đời của triết hc Mác mà vai trò xã hội cũng như vị trí của triết
hc trong hệ thống tri thức khoa hc và đối tượng triết hc c# thay đổi căn bản.
Khi ra đời triết hc Mác đã trở thành thế gii quan khoa hc của giai cấp vô
sản, giai cấp vô sản c# cơ sở lý luận khoa hc để nhận thức thực tiễn xã hội; từ đ#
định ra được đường lối chiến lược và đề ra những biện pháp đấu tranh cải biến xã
hội c# hiệu quả. Sự kết hợp giữa lý luận triết hc Mác vi phong trào vô sản đã tạo
nên bưc chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác. Triết
hc Mác còn là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản, chủ
nghĩa xét lại, cơ hội và chủ nghĩa giáo điều, g#p phần quan trng tạo ra sự thống
nhất của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản.
Triết hc Mác cũng đã chấm dứt tham vng ở nhiều triết hc coi triết hc là
"khoa hc của mi khoa hc" đứng trên mi khoa hc, Các Mác và Ph.Ăngghen đã
xây dựng lý luận triết hc của mình trên cơ sở khái quát các thành tựu của khoa
hc tự nhiên và khoa hc xã hội. Đến lượt mình, triết hc Mác ra đời đã trở thành
thế gii quan khoa hc và phương pháp luận chung định hưng sự phát triển của
các khoa hc và phương pháp luận chung định hưng sự phát triển của các khoa
hc. Sự phát triển của khoa hc ngày càng chứng tỏ sự cần thiết phải c# tư duy biện
chứng duy vật và ngược lại, phải phát triển lý luận triết hc Mác dựa trên những
thành tựu của khoa hc hiện đại. Như vậy, triết hc Mác đã phân định rõ ranh gii
giữa triết hc vi các khoa hc khác và thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa
chúng, cũng như xác định rõ đối tượng nghiên cứu của triết hc là tìm ra quy luật
vận động, phát triển chung nhát của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Học viên: Phạm Khánh Hưng – CHKT K21- Đêm 5 15
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS. TS. Lê Doãn Tá - Triết học Mácxít quá trình hình thành và phát triển
(giai đoạn Mác Ăngghen và Lênin)