Tiểu luận điều kiện ra đời và bước ngoặt cách mạng trong triết học mác - Pdf 24

Tiểu luận
Điều kiện ra đời và bước ngoặt cách
mạng trong triết học mác

1
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
A.Phần mở đầu: Trang 2
1. Lí do chọn đề tài Trang 2
2. Đối tượng nghiên cứu đề tài Trang 3
3. Phương pháp nghiên cứu Trang 3
B.Phần nội dung: Trang 3
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ XUẤT HIỆN CHỦ NGHĨA MÁC Trang 3
1.1: Tiền đề kinh tế xã hội Trang 4
1.2: Tiền đề l‎ý luận Trang 5
1.3: Tiền đề khoa học tự nhiên Trang 7
Chương 2; NHỮNG BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC Trang 8
2.1 Tiểu sử của C.Mác và Ph.Ăngghen Trang 9
2.1.1 Tiểu sử của C.Mác Trang 9
2.1.2 Tiểu sử của Ph.Ănghgen Trang 10
2.2 Thực chất của bước ngoặt cách mạng do Mác và Ăngghen thực hiện Trang 10
2.2.1 Khái quát quá trình dẫn đến hình thành chủ nghĩa DVBC Trang 10
2.2.2 Triết học Mác ra đời làm cho chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
thống nhất chặt chẽ Trang 13
2.2.3 Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn Trang 14
2.2.4 Sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Trang 15
2.2.5 Thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng Trang 16

niệm về chỉnh thể đó. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Triết học là một
hệ thống tri thức l‎ý luận chung nhất của con người, về vị trí vai trò của con người
trong thế giới ấy.
Lịch sử triết học đã trải qua nhiều thời kỳ và mỗi thời kỳ đều có những
trường phái khác nhau cùng phát triển. Trường phái triết học càng về sau thì luôn
phát triển và càng hoàn thiện hơn. Thực chất sự xuất hiện của triết học Mác là một

3
sản phẩm tất yếu của lịch sử, hợp quy luật, nó là kết tinh tất cả những giá trị cao qu‎ý
của tư duy triết học, văn học, khoa học tự nhiên, lịch sử nhân loại.
Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chủ nghĩa Mác tìm thấy vai trò to lớn của
quần chúng bị áp bức, vai trò quan trọng của thực tiễn cách mạng, biến thành những
động lực chủ yếu để thành công trong công cuộc cách mạng vô sản. Ngoài ra chủ
nghĩa Mác còn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử mới, với cuộc đấu tranh của nhân dân
lao động và sự thay đổi cách mạng trên toàn thế giới, mang đến cho giai cấp vô sản
và chính đảng của nó có một thế giới quan thực sự khoa học.
2. Đối tượng nghiên cứu đề tài:
Từ khi ra đời, chủ nghĩa triết học Mác đã làm thay đổi nhận thức nhiều mặt
trong xã hội, Từ kinh tế chính trị cho đến văn hóa. Bên cạnh đó con người nhận
thức về thế giới, về xã hội, về con người, về tôn giáo cũng có ít nhiều đổi so với
trước đây. Tất nhiên, việc tìm hiểu, phân tích, l‎ý giải, đưa vào thực tiễn của sống ở
tất cả mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, có lẽ sẽ là công việc của rất nhiều người, ở
những thời đại khác nhau. Trong khuôn khổ nhỏ của đề tài “Điều kiện ra đời và
bước ngoặt cách mạng trong triết học mác”, một lần nữa người viết nhằm khẳng
định tính tích cực của nó trong hoàn cảnh phức tạp của nước ta hiện nay. Cũng từ
đó khẳng định, lập trường kiên định của cách mạng ta trong mọi hoàn cảnh.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Rất nhiều phương pháp nghiên cứu; như là sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu của triết học, phép biện chứng duy vật và phép biện chứng lịch sử,
kết hợp với việc phân tích lôgic, qui nạp, diễn dịch, nhận định tổng hợp để làm sáng

gọi là “Phong trào hiến chương” năm (1830-1840).
Như vậy, trên vũ đài lịch sử đã xuất hiện một lực lượng chính trị xã hội mới
mẻ mặc dù còn mang tính tự phát, nhưng ngày càng mạnh mẽ, trở thành nhân tố
quan trọng của đời sống chính trị - xã hội, đó là giai cấp vô sản cách mạng. Trong
bối cảnh lịch sử ấy, các học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng phê phán của
Xanh-Xi-Mông, Phu-ri-ê, Ô-Oen lại không đáp ứng được yêu cầu của phong trào vô
sản, không thể hiện được những lợi ích căn bản của giai cấp vô sản trong sự nghiệp
giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ Tư bản chủ nghĩa. Phong trào đấu tranh
của giai cấp vô sản còn mang tính tự phát và thiếu tổ chức, do đó cần phải có một lý

5
luận tiên phong hướng dẫn và giác ngộ cho giai cấp công nhân về vai trò sứ mệnh
lịch sử của mình.
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống lý luận trước kia, và trực tiếp tham gia vào
phong trào đấu tranh của g/c công nhân, Mác và Ăng Ghen đã khái quát kinh
nghiệm đấu tranh của g/c công nhân, sáng tạo ra lý luận cách mạng của phong trào
vô sản; dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Có thể nói giai cấp vô sản đã tìm thấy ở
triết học Mác vũ khí tinh thần của mình, cũng giống như triết học Mác đã tìm thấy
giai cấp vô sản như là vũ khí vật chất của mình.
1.2 Tiền đề lý luận của triết học Mác

HÊ GHEN (1770- 1831) PHƠ -BÁCH (1804- 1872)
Triết học Mác ra đời do nhu cầu của sự khái quát tri thức nhân loại.Với tư
cách là một khoa học, triết học Mác đã kế thừa tất cả những tinh hoa di sản lý luận
quý báu mà loài người đã đạt được. Đặc biệt Mác-Ăng Ghen đã kế thừa chủ nghĩa
duy vật (CNDV) của Phơ-Bách và phép biện chứng của Hê-Ghen trong triết học cổ
điển Đức.
Công lao của Hê-Ghen là ở chỗ ông là người đã phê phán mạnh mẽ phương
pháp tư duy siêu hình. Ông là người đầu tiên đã diễn đạt được những quy luật của
phép biện chứng với tư cách là hệ thống lý luận. Nghĩa là ông coi toàn bộ giới tự

khoa học sâu sắc, có lý tưởng cách mạng nồng cháy mà còn là những người có tài
năng về tổ chức thực tiễn. Chính nhờ tham gia trực tiếp vào vào hoạt động thực tiễn,
tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân; Mác – Ăng Ghen

7
đã có bước chuyển biến quyết định từ chủ nghĩa duy tâm triết học sang chủ nghĩa
duy vật biện chứng, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ
nghĩa. Đó cũng là điều kiện để triết học Mác ra đời.
1. 3 Tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác
Để triết học Mác có thể ra đời được ngoài những điều kiện kinh tế, xã hội
còn phải có những tiền đề về khoa học tự nhiên cho phép khắc phục không những
quan điểm duy tâm mà cả quan điểm siêu hình về thế giới để hình thành thế giới
quan duy vật biện chứng. Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại, đóng vai trò quan
trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Ba phát minh đó là:
* Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng.
* Học thuyết về cấu tạo tế bào của cơ thể sống.
* Thuyết Tiến hóa của Đác-Uyn.
+ Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: Do nhà vật lý học người
Đức là RôBéc May-e phát minh năm (1842–1845). Sự phát minh ra định luật bảo
toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh rằng: các hình thức vận động khác
nhau của vật chất không tách rời nhau, mà giữa chúng có sự liên hệ, chuyển hóa lẫn
nhau trong những điều kiện nhất định. Nghĩa là không có sự mất đi của năng lượng,
mà chỉ có sự chuyển biến không ngừng của năng lượng từ dạng này sang dạng khác.
Định luật này là cơ sở khoa học cho quan điểm biện chứng về thế giới.
+ Thuyết tế bào: Chủ yếu do hai nhà bác học người Đức là: Slây-Đen và Sa-
Van-Nơ xây dựng năm (1838–1839), đã xác định rằng: Cơ thể thực vật và động vật
đều do tế bào tạo thành. Học thuyết này chỉ rõ sự thống nhất bên trong của sinh vật,
chỉ ra con đường phát triển, tiến hóa phổ biến của cơ thể sống. Vì vậy, nó góp phần

8

2.1.1: Tiểu sử của C.Mác
- C. Mác sinh ngày 5 / 5 / 1818 và mất 14 / 3 / 1883. Sinh ra trong một gia
đình luật sư, Mác học luật tại trường Đại học Bon
(1835/1836) và trường Đại học Béclin
(1836/1841). Tại trường Đại học tổng hợp Béclin,
Mác đã nghiên cứu triết học và lịch sử. Sự hình
thành thế giới quan duy vật của Mác là một quá
trình đầy khó khăn phức tạp vì bản thân Mác
không phải là là người cách mạng và cộng sản
“bẩm sinh”. Ông sinh ra trong một gia đình trí
thức tư sản và nền học vấn tư sản đã ảnh hưởng sâu sắc đến ông. Trước khi làm
quen với Triết học Hêghen vào năm 1837, thậm chí Mác là một tín đồ Kitô ngoan
đạo. Ở thời kỳ trung học Mác đã có những bài viết ca ngợi chúa Kitô. Tất nhiên
niềm tin tôn giáo của Mác được hiểu nghĩa là bản tính con người khao khát hướng
tới cái thiện .
- Năm 1837 C. Mác đến với triết học của Hêghen và tham gia vào phái
Hêghen trẻ, tách ra từ phái Hêghen vào năm 1835 đại diện cho phái tư sản cấp tiến,
họ phê phán thần học và chế độ phong kiến ở Đức, chuẩn bị tư tưởng cho cuộc cách
mạng tư sản Đức năm 1848.
- Từ 1839 C. Mác nghiên cứu lịch sử triết học cổ Hy Lạp, triết học thời kỳ
cận đại. Tháng 4/1841 ông nhận bằng tiến sĩ. Trong luận án tiến sĩ Mác còn chịu
ảnh hưởng tư tưởng duy tâm của Hêghen, đề cao không đúng vai trò ‎ý thức con
người, đồng thời cũng manh nha tư tưởng về phép biện chứng giữa tồn tại và tư
duy.

10
- Mác đối lập với Hêghen và phái Hêghen trẻ trong quan niện về vai trò của
phép biện chứng và triết học nói chung. Ông coi nhiệm vụ của triết học là phục vụ
cuộc đấu tranh chính trị, phục vụ sự nghiệp giải phóng người lao động. Phép biện
chứng phải có nhiệm vụ phá bỏ hiện thực cũ lỗi thời, hạn chế.

cấp công nhân. Quá trình này gắn bó chặt chẽ với nhau giữa lập trường chính trị và
quan điểm triết học. Hoạt động luận của Mác và Ăngghen gắn liền với thực tiễn
cách mạng làm cho hai ông chuyển từ lập trường của chủ nghĩa duy tâm sang lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, từ lập trường chính trị dân chủ cách mạng
sang lập trường chính trị cộng sản chủ nghĩa. Quá trình hình thành triết học mác
cũng không tách rời tình cảm sâu sắc của Mác và Ăngghen đối với những người
lao động bị áp bức, tình cảm đó là yếu tố quan trọng hình thành thế giới quan khoa
học của hai ông. Mác và Ăngghen cũng kế thừa và phê phán di sản l‎ý luận của nhân
loại, nghiên cứu tiếp thu những thành tựu khoa học.
Trong giai đoạn đầu, trước nửa năm sau của năm 1843, Mác và Ăngghen là
những nhà biện chứng duy tâm. Hai ông tiếp nhận phép biện chứng của Hêghen,
song có thái độ đối lập với hệ thống siêu hình của triết học Hêghen và các kết luận
chính trị phản động xuất phát từ hệ thống triết học ấy. Quan điểm chính trị và xã hội
của Mác và Ăngghen thời kì này là quan điểm dân chủ cách mạng. Song, ngay từ
năm 1842 khi Mác còn làm biên tập viên Báo Rainơ tại Côlônhơ và khi Ăngghen
đang nghiên cứu tình cảnh giai cấp công nhân Anh, các ông đã có những biểu hiện
chuyển từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản. Đặc điểm nổi bật
trong hoạt động của hai ông khi nghiên cứu các thành tựu của khoa học và triết học
là nghiên cứu một cách có phê phán và sự sáng tạo của hai ông là nhằm giải quyết
những vấn đề thực tiễn chính trị - xã hội. Khi Mác làm biên tập viên Báo Rainơ,
ông đã bày tỏ ý kiến của mình trên báo trí về vai trò và ý nghĩa của các lợi ích vật
chất trong đời sống xã hội, những vấn đề kinh tế xã hội đặt ra ở tỉnh Rainơ, về vấn
đề sở hửu đất, vấn đề đốn rừng, về thương nghiệp và về thuế quan bảo hộ Nhưng
khi khi sử dụng phép biện chứng duy tâm và học thuyết về nhà nước và pháp quyền
của Hêghen, Mác đã rơi vào tình trạng khó xử, không giải đáp được các vấn đề của
thực tiễn chính trị xã hộim đặt ra. Lúc này, chính Mác đã cảm thấy rằngnhững lợi
ích vật chất của con người trong đời sống xã hội đã đóng một vai trò quan trọng đặc
biệt. Mác đã đi tới kết luận rằng, phải nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề

12


13
mọi công thức mà là kim chỉ nam cho hành động. Nó cần được vận dụng sáng tạo
vào thực tiễn và cần phải được phát triển thực tiễn xã hội.

2.2.2: Triết học Mác ra đời làm cho chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
thống nhất chặt chẽ.
Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đóng vai trò rất to lớn trong sự phát triển của
khoa học, trong công cuộc đấu tranh chống tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm.
Trong thời kỳ cổ đại thì chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ, tự phát. Còn
trong thời kỳ cận đại là chủ nghĩa siêu hình máy móc. Nó không thể khắc phục triệt
để chủ nghĩa duy tâm và vạch ra những nguyên nhân phát triển của tự nhiên và xã
hội, không vạch ra được phép biện chứng của quá trình nhận thức và những con
đường cải tạo thế giới.
Tuy nhiên, trong các học thuyết duy vật trước Mác cũng chứa đựng một số tư
tưởng biện chứng nhất định, nhưng do hạn chế về trình độ phát triển khoa học và về
lịch sử nên mới tồn tại những thiếu sót trên.
Trong lịch sử triết học trước Mác, chủ nghĩa duy vật thường gắn liền với với
phép siêu hình và biện chứng gắn liền với chủ nghĩa duy tâm. Các Mác và Ăng
nghen đã khắc phục sự khập khiễng của chủ nghĩa duy vật trước đó và phép biện
chứng của Hê ghen và Phơ Bách, xác lập thế giới quan triết học mới, thống nhất thế
giới quan duy vật và phép biện chứng.
Trước Mác chủ nghĩa duy vật thường bị tách rời khỏi phép biện chứng. Có
những nhà triết học thế giới quan duy vật nhưng lại dùng phương pháp siêu hình
như Phơ Bách hoặc có nhà triết học duy tâm mà lại dùng phương pháp biện chứng
như Hêghen. Vì vậy để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã cải tạo cả
chủ nghĩa duy vật cũ, siêu hình và cả phép biện chứng duy tâm. Mác đã tạo nên sự
thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng. Lần đầu
tiên trong lịch sử triết học, Mác đã tạo ra một hình thức mới của chủ nghĩa duy vật
đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và cũng là lần đầu tiên Mác tạo ra một hình thức

duy tâm duy ý chí. Khi khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vật chất, chủ nghĩa
duy vật của Mác cũng đề cao sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ý thức đối
với vật chất. Ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình tác động cải tạo

15
thế giới bằng thực tiễn. Sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức trong đó vật chất
là cái quyết định diễn ra trên cơ sở thực tiễn. Cái vật chất muốn “di chuyển và cải
tiến trong bộ não” phải thông qua hoạt động thực tiễn. Trái lại ý thức muốn tác
động vào thế giới vật chất cũng phải thông qua thực tiễn.
Vậy thực tiễn là khâu trung gian nối liền giữa vật chất và ý thức. Phạm trù thực
tiễn có ý nghĩa quan trọng làm cho quan niệm duy vật của Mác triệt để, duy vật
trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Khác với tất cả hệ thống triết học trước
đó, triết học Mác đã chỉ ra vai trò quyết định của hoạt động thục tiễn trong sự tồn
tại, phát triển của xã hội và trong nhận thức. Nếu không hiểu rõ vai trò của thực
tiễn, nhất là thực tiễn sản xuất xã hội thì tất yếu dẫn đến chủ nghĩa duy tâm. Trong
nhận thức thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, là nơi mà l‎ý luận
hướng đến để giải thích và cải tạo thế giới. Mác đã cho rằng, lý luận khi đã thâm
nhập vào quần chúng, sẽ trở thành lực lượng vật chất vô cùng to lớn. Triết học Mác
không phải là hệ thống lý tự biện mà nó được rút ra từ hoạt động thực tiễn của
phong trào công nhân, đồng thời khái quát từ những thành tựu của khoa học tự
nhiên, cho nên triết học đó bắt nguồn từ thực tiễn.
2.2.4: Sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Bước ngoặt cách mạng vĩ đại nhất mà chủ nghĩa Mác thực hiện là đã đưa ra
quan điểm duy vật lịch sử. Trước Mác các nhà triết học hiểu sự phát triển của xã hội
một cách duy tâm, coi động lực phát triển của xã hội là ở trong ý thức, tinh thần của
con người.
Đối lập với quan điểm trên, C.Mác và Ăngghen đã giải quyết đúng đắn vấn đề
cơ bản của triết học trong đời sống xã hội, không phải ý thức xã hội quyết định tồn
tại xã hội mà ngược lại tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Sự phát triển của xã
hội phụ thuộc vào nguyên nhân vật chất, chứ không phụ thuộc vào ‎ý thức con

nhau, hoàn toàn đối lập với nhau. Mác và Ănghen nêu lên quy luật phát triển của
chủ nghĩa tư bản, đánh giá vai trò của giai cấp tư sản về mặt chính trị và kinh tế.
Trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến và xây dựng một xã hội mới, giai
cấp tư sản đã phát huy mặt tích cực của nó. Nó đã đứng ra đảm nhận cương vị lãnh
đạo cuộc cách mạng tư sản và thiết lập nhà nước tư bản chủ nghĩa. Tiềm lực mà giai
cấp tư sản tạo ra được rất lớn, giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa

17
đầy một thế kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực
lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Lịch sử ra đời triết học Mác
không những gắn liền với thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân mà
còn gắn liền với sự phát triển khoa học.
Giai cấp công nhân, là lực lượng xã hội tiên tiến nhất của lịch sử hiện đại,
lợi ích của nó phản ánh chung mọi lực lượng tiến bộ trong xã hội. Vì vậy thế giới
quan cách mạng của triết học Mác, không thể không phản ánh đúng đắn, khách
quan những quy luật phát triển của lịch sử. Không hề trái ngược với l‎ý luận khoa
học, không phải là thứ chủ nghĩa bè phái thuần tuý mà là hệ thống lý luận chặt chẽ
được đúc kết từ thực tiễn và từ những thành tựu của khoa học tự nhiên cũng như
khoa học xã hội. Vì vậy nó là hệ tư tưởng khoa học chứa đựng sự thống nhất giữa
tính đảng và tính khoa học, giữa tính thực tiễn và tính lý luận. Nhờ đó triết học
Mác mang sức mạnh cải tạo thế giới bằng cách mạng và không đội trời chung với
chủ nghĩa chủ quan duy ý chí cũng như chủ nghĩa giáo điều bảo thủ.
2.2.6: Những thay đổi căn bản về tính chất, đối tượng và mối quan hệ của
triết học với các ngành khoa học khác :
Với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và
Ăngghen đã biến đổi căn bản tính chất của triết học, đối tượng nghiên cứu và mối
liên hệ của nó với các khoa học khác. Triết học Mác không hòa tan vào các khoa
học cụ thể, cũng không có tham vọng đóng vai trò “khoa học của mọi khoa học”,
thay thế các ngành khoa học hoặc tồn tại tách rời chúng, mà triết học Mác đóng vai
trò là thế giới quan và phương pháp luận của các khoa học cụ thể. Các tri thức của

ở đồi núi, hải đảo xa xôi. Sự đổi mới biểu hiện rất đa dạng và phong phú. Chẳng
hạn như nền kinh tế truyền thống nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh với
cây lúa nước và làm chỉ duy nhất một vụ trong năm, nhưng khi bước vào thời kỳ
đổi mới, giống cây lúa nước cũng được thay đổi, không phải chỉ là những cây dài
ngày như trước đây mà còn những cây ngắn ngày, làm được nhiều vụ trong năm. Từ
đó nâng dần đời sống người nông dân khá hẳn dần lên. Bên cạnh đó nền văn hóa xã
hội cũng thay đổi rõ rệt. Trong thời kỳ hội nhập, người trong nước không chỉ tiếp
cận với với hóa của nước mình mà còn tiếp cận với rất nhiều loại văn hóa khác đến
từ nhiều quốc gia khác nhau. Sự tiếp cận có chọn lọc, có sự kế thừa và phát triển,

19
nên nền văn hóa trong thời kỳ đổi mới của đất nước rất nhiều màu sắc. Nhưng cho
dù có nhiều màu sắc như thế nào, thì con người Việt Nam vẫn giữ được bản sắc của
mình. Cũng như sự phát triển nền kinh tế của dân tộc, không thể không thừa nhận
rằng sự hợp tác công nghệ hiện đại của nhiều nước mang đến nhiều khởi sắc cho
dân tộc. Nhưng dù phát triển vượt bật như thế nào, thì con người Việt Nam vẫn giữ
vững nền chính trị với lập trường chủ nghĩa xã hội không thay đổi. Điều đó có được
là do đâu? Thiết nghĩa không có gì khác, đó là do sự ổn định về tư tưởng chính trị,
về văn hóa xã hội của con người Việt Nam. Sự ổn định đó tất nhiên là dựa trên nền
tảng của Triết học Mác, của tưởng Hồ Chí Minh, về vấn đề con người, văn hóa,
kinh tế, chính trị trong mọi thời đại. chẳng hạn, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta mà đảng và Bác Hồ đã chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh” đó là sự vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác thể hiện, mặc dầu
chủ nghĩa xã hội bị khủng hoảng và sụp đổ, nhưng đó là sụp đổ mô hình chủ nghĩa
xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp chứ không phải chủ nghĩa xã hội với tư cách là
một xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản mặc dù chưa hết vai trò lịch
sử và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn nhất là khoa học và công nghệ, nhưng
với những thành tựu chủ nghĩa tư bản tạo ra, đến lượt nó lại trở thành cái phủ định
chủ nghĩa tư bản và thay thế nó bằng xã hội cao hơn – chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa


21
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình triết học (dùng cho học viên cao học
và nghiên cứu sinh không thuộc ngành Triết học), nhà xuất bản lý luận chính trị Hà
Nội.

2.TS Đinh Ngọc Quyên, Th S Nguyễn Đại Thắng (2004), Giáo trình lịch sử triết
học, khoa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trường Đại học Cần Thơ.

3. Ban tư tưởng văn hóa trung ương (2006), Giáo trình sơ sấp lí luận chính trị, nhà
xuất bản chính trị Quốc Gia, Hà Nội.

4. Lê Văn Giạng (2004), Tìm hiểu sự phát triển của học thuyết duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử cuối thế kỉ XX, nhà xuất bản chính trị quốc gia.
5. Các Mác, Ăngghen tuyển tập (1980), nhà xuất bản sự thật, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status