Luận văn nghiên cứu các yếu tố cơ bản về thị trường phân bón vô cơ trên thị trường VN - Pdf 37

Nghiên cứu các yếu tố cơ bản
của thị trờng phân bón vô cơ trên
thị trờng Việt nam
Lời nói đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài:
- Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại
nông nghiệp vẫn chiếm 70% lực lợng lao động của toàn xã hội và khoảng
27,2% GDP của cả nớc. Theo nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng cộng sản Việt Nam, từ năm 1997 trở đi Việt Nam sẽ chuyển sang một
giai đoạn phát triển mới giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong
nhiều năm nữa.
- Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và
sản lợng các loài cây trồng nh: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ
thuật, giống, phân bón ...v.v. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính
quyết định thờng xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón đợc xếp vào loại mặt
hàng chiến lợc hết sức quan trọng.
- Là một nớc nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất
lớn (bình quân mỗi năm trên 2 triệu tấn). Tuy nhiên công nghiệp phân bón
của Việt Nam đang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và cung
ứng đợc khoảng 8- 10% nhu cầu về phân ure của cả nớc, số còn lại phải dựa
vào nhập khẩu từ bên ngoài.
- Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ
quan tác động (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách...) nên việc nhập
khẩu phân bón của Việt Nam vừa qua diễn ra không đợc thuận lợi. Điều
này đã làm cho Cung-Cầu, giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn
định: lúc sốt nóng, lúc sốt lạnh gây không ít khó khăn cho nông dân và cho
sản xuất nông nghiệp.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố cơ bản của thị trờng phân bón vô
cơ nh: cung, cầu, giá cả phân bón vô cơ trên thị trờng và các chính sách điều
tiết của nhà nớc nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu. Giải quyết một cách

năm khác thì từ sau đổi mới, tình hình đã khác hẳn. Nông nghiệp Việt
Nam hiện nay đợc xem là ngành quan trọng để phát triển kinh tế đất nớc.
Vai trò của nó đợc thể hiện nh sau:
+ Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình tích luỹ
vốn cho Công nghiệp hoá.
Trong nhiều năm trớc đây, nông nghiệp đã tạo ra trên 40% thu nhập
quốc dân sản xuất và hiện nay ngành này đang tạo ra gần 30% GDP và
hơn 45% giá trị xuất khẩu của cả nớc.
Tích luỹ từ nông nghiệp tuy không lớn về ngoại tệ, nhng lại diễn ra trên
phạm vi rộng (trên 10 triệu hộ nông nghiệp). Tích luỹ từ ngành này đợc
thực hiện trực tiếp thông qua thuế nông nghiệp trớc đây(nay là thuế sử
dụng đất nông nghiệp). Đối với các Tỉnh, Huyện nông nghiệp thì đây là
nguồn thu chủ yếu.

3


Biểu 1: tỷ lệ thuế nông nghiệp trong tổng thu ngân
sách và GDP nông nghiệp (1993-1998)
Năm
Tỷ lệ thuế nông nghiệp
so với
1993
1994
1995
1996
1997
1998

Tổng thu ngân sách

+ Nông nghiệp và nông thôn là thị trờng rộng lớn của công nghiệp và
dịch vụ vì khu vực này chiếm 80% dân số cả nớc. có thể nói sức mua của
nông dân có vai trò quan trọng, đôi khi là quyết định đối với quy mô và
tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, muốn phát triển kinh
tế bền vững và ổn định phải dựa vào thị trờng trong nớc, trớc hết là nông
dân. Sức mua của thị trờng này hiện nay còn rất thấp cho nên tiềm năng có
thể khai thác là rất lớn. Nông dân càng giàu thì chênh lệch giữa nông thôn
và thành thị càng thấp, sức mạnh của nông dân càng cao, tăng trơng kinh
tế càng lớn và ổn định. Ngợc lai, thu nhập của nông dân càng thấp, chênh
lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị càng cao thì sức mua của nông
thôn sẽ giảm, kéo theo nhiều vấn đề phức tạp nh tỷ lệ đói nghèo cao, di c

4


từ nông thôn ra thành thị sẽ tăng, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát làm chậm quá
trình tăng trởng kinh tế.
+Sản xuất nông nghiệp là nguồn cung cấp lơng thực, thực phẩm cho đời
sống và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp. Cho đến nay, lơng thực
thực phẩm tạo ra từ nông nghiệp vẫn là nguồn nuôi dỡng không thể thiếu
đợc của xã hội loài ngời. Nhu cầu lơng thực, thực phẩm ngày càng tăng do
dân số ngày càng nhiều, cũng nh qua trình công nghiệp hoá gắn liền với sự
tăng liên tục của lực lợng lao động phi nông nghiệp. Lơng thực, thực phẩm
không những là yếu tố vật chất cơ bản nuôi sống con ngời mà còn cung
cấp các nguyên liệu cần thíêt cho Công nghiệp chế biến. Quy mô và tốc độ
tăng trởng của công nghiệp chế biến phụ thuộc vào quy mô và tốc độ phát
triển nông nghiệp. Hiện nay công nghiệp chế biến ở ở nớc ta cha đạt đến
trình độ cao. Nhiều nông sản nguyên liệu vẫn phải xuất thô, giá trị thấp
nh cà phê nhân, cao su tấm, cao su xốp, chè sơ chế, thuỷ sản đông lạnh, gỗ
ván sàn.... cùng với quá trình công nghiệp hoá, tình trạng đó sẽ đợc khắc

nh ure, kali, lân.... đợc đa vào sử dụng ngày một tăng ở Việt Nam. Ngày nay,
để vừa cải tạo đất, vừa nâng cao năng suất cây trồng ngời nông dân Việt Nam
thờng dùng kết hợp giữa phân hữu cơ và phân vô cơ. Tuy nhiên phân hữu cơ
chủ yếu đợc dùng từ miềnTrung trở ra và thờng là các hộ nông dân, ai có bao
nhiêu dùng bấy nhiêu, nó không phải là hàng hoá mua bán trên thị trờng nh
phânvô cơ. ở đồng bằng Sông Cửu Long do đồng ruộng hàng năm luôn đợc
phù xa bồi đắp nên ngời nông dân không có tập quán dùng phân hũ cơ để bón
ruộng.
Nói tới Cung- cầu về phân vô cơ là nói tới nhu cầu của ngời dân về loại
phân này và khả năng cung ứng của các loại doanh nghiệp (thuộc mọi thành
phần kinh tế ) cho họ. Tuy nhiên phân bón là một mặt hàng khá đặc biệt về
cầu và cung. Mặt hàng này ở Việt Nam có những nét đặc trng riêng hơi khác
so với thị trờng phân bón bình thờng ở các nớc có nền kinh tế phát triển hoàn
hảo.
Thứ nhất, nông nghiệp là ngành có lịch sử phát triển lâu đời. Nó mang tính
kế thừa sâu sắc về các kỹ thuật gieo trồng từ đời nọ sang đời kia qua hàng
nghìn năm với tính bảo thủ cao và khó thay đổi.
Thứ hai, lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lực lợng
lao động nhất là ở những nớc nông nghiệp nh nớc ta, những giá trị sản xuất
nông nghiệp lại thấp hơn. Tuy nhiên, xu hớng biến đổi tỷ trọng nông nghiệp
giảm dần về mặt số lao động và giá trị sản lợng. Theo quy luật tiêu thụ sản
phẩm, sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm thiết yếu, con ngời chỉ có thể tiêu
dùng ở một mức độ nhất định mà không thể tăng mức tiêu dùng lên cao mãi đợc. Ngày nay, năng suất lao động ngày càng tăng, nên lao động cần cho sản
xuất giảm. Nh các ngành khác, nông nghiệp sẽ dần dần đợc cơ giới hoá sử
dụng nhiều máy móc và chỉ cần ít ngời làm.
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan nh
đất đai, thời tiết, nguồn nớc....Trong đó đất đai giữ vai trò quyết định, đây là t
liệu sản xuất cơ bản của sản xuất nông nghiệp. Gắn liền vơí vai trò chủ đạo

6

tăng lên. Nh vậy, ngoài những nguyên nhân gây thoái hoá đất nh sói mòn, rửa
trôi.... thì việc không đảm bảo cân bằng giữa lợng dinh dỡng đợc bón vào đất
cũng là một yếu tố làm đất thoái hoá (dạng thoái hoá này có xu hớng tăng
lên).
ở những vùng đồi núi nơi mà nông dân có tập quán du canh thì trớc đây
thông thờng chu kỳ bỏ hoá là 10- 15 năm. Hiện nay do áp lực về dân số nên
chu kỳ bỏ hoá chỉ còn 5 năm, thậm chí 3 năm. Nh vậy về mặt thời gian không
đủ cho đất phục hồi phì nhiêu một cách tự nhiên. Việc xoá bỏ du canh, thiết

7


lập một nền tảng thâm canh, trong đó cân bằng dinh dỡng thông qua phân bón
giữ một vị trí quyết định.
Ngoài ra, việc bón phân không những chỉ là cung cấp dinh dỡng mà còn
có ý nghĩa cải tạo đất, hoặc loại trừ các yếu tố hạn chế năng suất trong đất.
Trong một số trờng hợp, phân bón (nhất là Lân, Kali và một vài nguyên tố vi lợng khác) còn thúc đẩy quá trình cố định đạm của cây Bộ đậu, và tăng cờng
dinh dỡng cho đất. Đồng thời việc kết hợp hài hoà các nguồn dinh dỡng nh
hữu cơ, phân khoáng, phân sinh học... sẽ đảm bảo cho một nền thâm canh ổn
định.
Khuyến nông phân bón.
(Chơng trình thực hiện ở 15 tỉnh với 3726 ha )

Phơng pháp bón

Quy mô

-Bón phân cân đối cho
lúa vàng thâm canh
1.000


800

22

4.272

535

16

3.185

150

10

2.281

277

27
23
300

5.686
5.200
17

215

nh cân đối với từng loại cây trồng trong một hệ thống luân canh). Tóm lại,
phân bón nói chung và phân bón vô cơ nói riêng rất cần cho cây trồng. Song
để sử dụng mang lại kết quả nh mong muốn thì phải quan tâm và nghiên cứu
đến tính chất, tác dụng từng loại phân cũng nh đặc điểm đất đai, sử dụng hợp
lý và đúng thời vụ.
2. Các nhân tố cơ bản ảnh hởng đến cầu phân bón vô
cơ ở Việt nam.
ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển hoàn hảo, có nền nông nghiệp
phát triển cao, cơ cấu các loại cây trồng tơng đối ổn định thì nhu cầu phân vô
cơ của ngời nông dân chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập của ngời nông dân,
song ở Việt Nam nhu cầu phân vô cơ hiện tại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
đó là:
2.1. Phụ thuộc vào sự phát triển của diện tích gieo trồng.
Việt Nam chỉ có khoảng 7 triệu ha đất nông nghiệp, song do Việt Nam
nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, ma nhiều, nắng cũng nhiều, thời tiết nóng
ẩm quanh năm. Các loại cây ngắn ngày, nếu giải quyết vấn đề tới tiêu nớc, vấn
đề phòng trừ sâu bệnh .... thì có thể làm cho diện tích gieo trồng của đất nớc
tăng lên qua từng năm. Việt Nam còn 3 triệu ha đất có khả năng nông nghiệp
có thể khai hoang để chuyển thành đất nông nghiệp, song thực ra diện tích đất
khai hoang chỉ đủ cho diện tích đất nông nghiệp bị mất đi hàng năm do
chuyển sang đất xây dựng cơ bản, vì thế diện tích gieo trồng tăng chủ yếu là
do tăng vụ mà có.
Theo con số thống kê thì năm 1996 so với năm 1989 diện tích gieo trồng
của Việt Nam đã tăng lên 1.932.800ha, bình quân mỗi năm tăng lên khoảng
276.114ha. Trong đó cây hàng năm tăng 1.415.000 ha. Bình quân mỗi năm
tăng 201.142ha, diện tích tăng này chủ yếu là do tăng vụ mà có, cây lâu năm
tăng 518.200ha. Trong số này cây công nghiệp lâu năm tăng 402.900ha (chủ
yếu là do khai hoang trồng mới) và cây ăn quả tăng 63.000 ha (chủ yếu là do
cải tạo các vờn tạp mà có).


trên 70% lực lợng lao động của toàn xã hội làm việc trong nông nghiệp nhng
đất nông nghiệp lại quá ít (tính bình quân đầu ngời vào loại ít nhất thế giới).
Đã thế lại chịu sự tàn phá nặng nề của 2 cuộc chiến tranh trong suốt 30 năm,
do đó ngời dân, nhất là nông dân nghèo cho đến nay GDP bình quân ở nông
thôn mới đạt khoảng 200 USD/năm /ngời, thì nông dân khó có thể đem nhiều
tiền để mua phân bón, bởi lẽ họ còn nhiều nhu cầu khác cần thiết hơn. Theo
đánh giá của một số chuyên gia, ngời dân nớc ta cha đủ khả năng để dùng
phân bón vừa đủ. So với định mức của Hội phân bón Quốc tế(IFA), mức phân
bón cho cây lúa, cam, chè ở Việt nam chỉ đạt 50%, cho cây cà phê chỉ đạt

10


70%, khoai sắn chỉ đạt 6-7%. Mấy năm gần đây, nhờ thu nhập của ngời nông
dân có tăng lên, do đó việc đầu t mua phân bón có khá hơn.
2.4. phụ thuộc vào tập quán sản xuất và trình độ thâm canh của từng
vùng trong nớc.
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên- kinh tế -xã hội cụ thể, lãnh thổ Việt Nam
đợc chia thành, vùng kinh tế và sinh thái khác nhau.
-Vùng trung du và miền núi bắc bộ
-Vùng đồng bằng sông hồng
-Vùng khu 4 cũ
-Vùng Duyên Hải nam trung bộ
-Vùng tây Nguyên
-Vùng đông nam bộ và
-Vùng đồng bằng Sông cửu Long
Dới đây là diện tích cây trồng mỗi vùng .
biểu số 2: Diện tích cây trồng phân theo vùng
ở Việt Nam
Đơn vị tính: 1000ha

457,6 464,7
473,6 500,1
524
533,8
631
Đông nam bộ
838,3 850,9
881,8 935,7 1.000,2 1096,8
1133
ĐB Sông Cửu Long
2963 3097,1 3321,2 3444,2 3535,9 3819,9
3781
Nguồn: Tổng cục thống kê
Biểu trên cho ta thấy, trừ đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích trên 4
triệu ha, lớn nhất cả nớc. Còn các vùng khác có diện tích gần bằng nhau.
(riêng Tây Nguyên là ít nhất song vùng này cũng có khả năng mở rộng ra
trong tơng lai). Tuy nhiên, không phải nông dân ở 7 vùng đều có nhu cầu sử
dụng phân bón vô cơ nh nhau. Đồng bào thuộc các dân tộc ít ngời ở miền núi
phía bắc, khu 4 cũ, Duyên hải miền trung và ở Tây Nguyên với phơng thức
canh tác rất lạc hậu , đốt nơng làm rẫy (chọc lỗ, gieo hạt, sau đó là trăm sự
nhờ trời ) nên ít sử dụng phân bón. Một bộ phận đồng bào các dân tộc sống
định canh ở các cánh đồng lúa nớc ven các thung lũng, hoặc những vùng cây
nguyên liệu tập trung nh Chè, Cà phê, Cao su.v.v... đã biết sử dụng phân vô cơ,
nhng do thu nhập của họ còn quá thấp nên số lợng sử dụng cũng không nhiều.

11


Nông dân các vùng đồng bằng đều có sử dụng phân vô cơ vào sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên mức độ cũng có khác nhau, ở đồng bằng Sông Cửu

Công thức : Q = S.M
Q: Nhu cầu một loại vật t cần xác định cho một loại cây trồng nào đó .
S: Sản lợng cây trồng đó
12


M: Mức tiêu hao vật t cho 1 đơn vị sản phẩm của cây trồng đó
VD: Sản lợng Ngô năm 1991là 672 ngàn tấn
-Mức tiêu hao phâm đạm theo định mức là 100 kg đạm tiêu chuẩn/ tấn
ngô.
Nhu cầu phâm đạm cho cây Ngô năm 1991 là:
672 tấn x 100 = 67.200 tấn (đạm tiêu chuẩn)
Tổng nhu cầu của một loại vật t nào đó cho một thời kỳ đợc xác định
theo công thức sau: Q = S.M
Q: là tổng nhu cầu của một loại vật t .
Si: sản lợng của các loại cây trồng từ 1 đến n.
Mi: là mức tiêu hao vật t cho các cây trồng từ năm 1-n
*Phân đạm tiêu chuẩn: là loại phân có chứa lợng đạm (N) là 20-21% Tính
trung bình 20,5%
*Phân lân quy Suppe phốt phát Lâm Thao: chứa lợng lân P2O5 -Lân chuẩn
10% P2O5
+Mức độ chính xác của phơng pháp.
-Lợng vật t thực tế sử dụng: là số vật t đã tiêu hao trong quá trình sản xuất.
Trong phạm vi cả nớc việc thống kê số liệu này là rất khó, vì vậy có thể lấy số
lợng vật t đã đợc nhập khẩu và số vật t đã đợc bán ra của các cơ sở sản xuất
trong nớc là số vật t thực tế sử dụng.
-Lợng vật t tính theo lý thuyết: Sử dụng công thức trên.
+Ưu điểm của phơng pháp:
-Trên cùng một đơn vị diện tích nhng năng suất càng cao, yêu cầu phân
bón càng lớn.

năng xuất cây trồng
VD: 1ha gieo trồng lúa đông xuân nếu:
Năng suất từ 30-40tạ/ha, mức bón từ 60-80N
Năng suất từ 50-60tạ/ha -100-120N/ha
+Ưu điểm phơng pháp:
-Căn cứ vào diện tích gieo trồng là diện tích thực sự cần phân bón
-Trong định mức có tính đến năng suất cây trồng khác nhau mức tiêu hao
vật t khác nhau
*Một số ảnh hởng khi áp dụng cách tính nhu cầu phân bón (nhờ việc nâng
cao hiệu quả sử dụng phân bón)
+Sử dụng công thức QUEFTS hay máy đo diệp lục tố đã giảm bón lợng
đạm từ 15-20% mà năng suất lúa không đổi.
+Nâng cao hàm lợng chất dinh dỡng trong phân bằng cách loại bỏ các tạp
chất hay những yếu tố không cần thiết cho cây trồng, nh sản xuất ure (40%N)
thay dần cho Bicacbonatamon hay sunphatAmôn, Clorua amôn, sản xuất DAP,
TSP có hàm lợng lân cao (46% P2O5) thay dần cho supephôtphát đơn hay
Tecmophotphat. Thông qua sản xuất phân hoá hợp, phana trộn chứa từ 2-3,
nguyên tố trở lên nh MAP, DAP, Phân NPK các loại.
+Sản xuất phân bón chuyên cây.

14


Phần 2. Cung phân bón cô cơ trên thị trờng
Việt Nam.
Có 2 nguồn cung câp phân bón vô cơ cho sản xuất nông nghiệp trên thị trờng Việt nam đó là: Nguồn nhập khẩu và nguồn sản xuất phân bón trong nớc.
1. Nguồn sản xuấtphân bón vô cơ trong nớc.
1.1. Năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nớc:
Hiện tại nền công nghiệp hoá chất, nhất là công nghiệp sản xuất phân bón
vô cơ của chúng ta cha có khả năng sản xuất và cung ứng đủ lợng phân bón vô


4.775
120.000

Nhà máy hoá chất phân bón Hải Hng

NPK

613

Lân Ninh Bình
Lân Văn Điển
Công ty Hoá chất Vinh
Công ty Hoá chất Quảng Ngãi
Phân bón Miền Nam

Lân nung chảy
Lân
NPK
Lân
NPK
Các loại khác
NPK
Su pe phối phát
NPK

Phân bón Cần thơ
Supe Lâm Thao

Biểu số 4: tổng kết -Sản lợng sản xuất phân bón

16

42.054
116.000
6.380
4.610
5.014
379.925
18.785
565.000
55.158


Biểu số 5 : sản lợng sản xuất p hân vô cơ từ n ăm 1990 1998
ĐVT: (1000 tấn)
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Phân hoá học
354
450
530
714
841
937
965
982
974
các loại
Doanh nghiệp
354
450


354

450

530

714

841

937

962

980,6

972,5

Nguồn tính từ số liệu của tổng cục Thông kê
Nguồn tính từ số liệu của tổng cục thông kê Trớc tình hình nhu cầu
phân hoá học ngày một tăng các đơn vị sản xuất phân hoá học ở Việt Nam
cũng đã tìm cách khôi phục và mở rộng các hoạt động sản xuất của mình.
Có thể nhận định tình hình sản xuất phân bón qua những DN chủ yếu
sau:
1.1.1. Nhà máy phân đạm Hà Bắc:
Từ sản lợng 45.000 tấn urê năm 1992, do việc đầu t chiều sâu khôi phục
và cải tạo và đổi mới thiết bị đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đến năm 1995 đã đợc
nâng lên 110.000 tấn và vợt công suất thiết kế (Công suất tối đa 120.000
tấn/năm dây chuyền công nghệ của Trung Quốc). Đồng thời do nông nghiệp

tỷ đồng
tỷ đồng
1000đ

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

44.891
822
52.250
94,6
5,1
5,7
236

82.633
1.078
64.000
158,3

106.548
2.585
8
0,7
732

130.000
1.188
106.548
2.585
8
0,7
732

Nguồn Tổng cục thống kê

Nh vậy với mức sản lợng ngày một tăng theo công suất thiết kế thì
nhà máy đã có thể đáp ứng tốt từ 5-8% nhu cầu về phân urê cho cả nớc.
Tuy nhiên tình hình thực tế cho việc sản xuất phân bón ở đây tồn tại mấy
vấn đề lớn:
- Do dây chuyền công nghệ sản xuất lạc hậu nên chất lợng của sản
phẩm do nhà máy sản xuất ra cha thuyết phục đợc ngời tiêu dùng.
- Chi phí cho các nguồn nguyên, nhiên liệu đầu vào sản xuất lớn đồng
thời hiệu suất của dây chuyền công nghệ thấp dẫn đến chi phí sản xuất lớn
(giá điện tăng) do đó tất yếu giá xuất bán sản phẩm phân đạm urê của nhà
máy khó có khả năng cạnh tranh với phân urê nhập khẩu.
Về lâu dài, nớc ta còn u tiên phát triển công nghiệp sản xuất phân bón,
tăng tỷ trọng phân bón nội địa trong tổng nguồn cung ứng cho sản xuất nông
nghiệp. Một trong những khó khăn không nhỏ là vốn đầu t để sản xuất phân
đạm rất lớn nhng lợi nhuận lại không cao. Do đó không hấp dẫn các nhà đầu t,

Đơn vị tính: Tấn
Năm

Lân

1989

329.190

298.390

1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996

325.456
391.125
418.200
595.799
713.370
799.176
825.688

280.000
315.000
303.000

khăn hơn, vì dân quen dùng giá thấp do Nhà nớc bù lỗ ở thời kỳ kế hoạch hoá
tập trung bao cấp.
Trớc tình hình đó, các DN đã tập trung đầu t chiều sâu, đổi mới kỹ thuật
và công nghệ sản xuất, đổi mới mẫu mã bao bì, đóng gói - Phân lân từ chỗ bán
phân rời đã chuyển sang đóng bao bì nh phân đạm. Chất lợng phân cũng đợc
nâng cao, công tác tuyên truyền khuyến mại cũng đợc thực hiện tốt hơn. Do
vậy từ năm 1995 đến nay, số lợng phân lân sản xuất cũng nh tiêu thụ đã tăng
lên khá nhanh, giá bán tơng đối ổn định, sản xuất phân lân đã từ hoà vốn tới
có lãi và lãi năm sau cao hơn năm trớc. Ta có thể thấy điều này qua số liệu so
sánh giá bán và chi phí sản xuất phân lân một số năm:
Năm
1989
1990
1991
1992
1995
1996
1997
1998
1999

Giá vốn
109.100 đ/tấn
126.300
424.300
539.600
737.700
838.400
895.200
895.300

180.000tấn/năm và Lâm Thao supe phốt phát từ 30.000 tấn/năm lên 50.000
tấn/năm phát huy thế mạnh nguồn nguyên liệu từ cây lúa, cây công nghiệp,
đặc biệt là đất chua.
Nhà máy supe Long Thành dự kiến mở rộng gấp đôi công suất lên
200.000 tấn năm, đồng thời đầu t một nhà máy sản xuất DAP công suất
330.000tấn/năm (bớc đầu nhập Amoniac) dự án đang đợc trình Chính phủ xin
đa vào kế hoạch, tìm nguồn đầu t, địa điểm tại khu vực Quảng Ninh.
Phân lân nung chảy Ninh Bình từ 100.000 tấn/năm sẽ nâng công suất
lên đến 200.000tấn/năm.
Với kế hoạch trên tổng lợng phân lân năm 2000 đạt khoảng 1,7 triệu tấn
và sẽ đa lên 2 triệu tấn vào những năm sau đó.
1.1.3.Tình hình sản xuất phân NPK.
Hiện nay, nớc ta có kế hoạch sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu trong nớc
hàng năm ớc tính khoảng 800 - 950 ngàn tấn. Hiện nay Vinachen đã sản xuất
với sản lợng khoảng 350.000tấn/năm. Các DN nhỏ khác có khả năng sản xuất
khoảng 50 tấn/năm. Theo kế hoạch thì các liên doanh sản xuất phân bón Japan
- Việt Nam Fertizers có thể đạt sản lợng 350.000 tấn/năm. Baconcò có sản lợng 150.000tấn/năm và Hydro có sản lợng 200.000 tấn/năm.
Nh vậy ớc tính tổng sản lợng NPK có để đạt đến khoảng 1,25 triệu tấn
đủ đáp ứng nhu cầu trong nớc. Tuy nhiên có thể thấy giá phân NPK sản xuất
trong nớc cao hơn giá của thị trờng quốc tế do ảnh hởng của nhiều yếu tố khác
nhau. Nhà nớc có chủ trơng bảo hộ, giúp đỡ cho sản phẩm nội địa nên mặc dù
giá có thể cao hơn giá thị trờng quốc tế nhng vẫn có thể tiêu thụ tốt tại thị trờng nội địa.
(Sản lợng sản xuất phân urê trong nớc năm 2.000 tăng vọt do nhà máy
phân đạm Bà Rịa - Vũng Tàu đi vào sản xuất với công suất 600.000 tấn/năm).
Kết luận:
Trong những năm qua, công nghiệp sản xuất phân bón nớc ta đang đi
dần vào ổn định. Các cơ sở sản xuất phân bón đã chú trọng đến việc đổi mới
21



hay 1,552.000T/ure. Về phân lân (Quy về Supephôt phát đơn 16,5% P 2O5) sẽ
là 1,2triệu tấn. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sản xuất nông nghiệp,
các quan điểm chủ yếu để đợc thống nhất là:
-Cần phát triển một ngành sản xuất phân bón đủ mạnh để làm cơ sở cho
phát triển nông nghiệp.
22


-Phát triển nền công nghiệp phân bón Việt Nam là cơ sở sử dụng có hiệu
quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nớc.
-Phát triển công nghiệp phân bón gắn liền với phát triển công nghiệp hoá
chất.
-Chọn chủng loại sản phẩm phân bón và bớc đi thích hợp.
- Có cách nhìn nhận đánh giá hiệu quả của công nghiệp phân bón.
-Cần phải có một tổ chức hợp lý cho việc phát triển sản xuất phân bón .
Từ các quan điểm trên, phơng hớng chung để phát triển ngành sản xuất
phân bón là khai thác mọi tiềm năng sẵn có bao gồm các tài nguyên khoáng
sản, lực lợng lao động có kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật, theo hớng đầu t
chiều sâu, hiện đại hoá từng bớc, nâng cao năng lực sản xuất. Đồng thời mở
rộng hợp tác quốc tế đầu t một số công trình mới, có công nghệ tiên tiến, qui
mô vừa và lớn tạo tiền đề vật chất cho phát triển ngành trong giai đoạn tới.
Phơng hớng cho từng sản phẩm nh sau:
*Phấn đấu sớm hoàn toàn tự túc về phân lân.
Mục tiêu 5-10 năm tới ta hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu phân lân trong nớc và với các bớc đi sau:
+ Sử dụng hợp lý, có hiệu quả công suất các cơ sở sản xuất superphốt phát
đơn hiện có, trên cơ sở có đầu t chiều sâu cải tiến thiết bị, áp dụng kĩ thuật
công nghệ mới để hạ giá thành, nâng cao chất lợng sản phẩm.
+ Phân lân nung chẩy là loại phân bón có công nghệ đơn giản nguyên liệu
hoàn toàn trong nớc, thiết bị hoàn toàn tự thiết kế chế tạo đợc, vốn đầu t ít, sản
lợng tăng nhanh, sản phẩm thích hợp với nhiều loại đất, nhất là đất chua phèn

cao năng lực sản xuất, cải tiến chất lợng các loại phân hỗn hợp đáp ứng nhu
cầu của từng loại đất, từng cây và từng vùng. đồng thời nghiên cứu phát triển
thêm các loại phân vi sinh, vi lợng, phân phun trên lá và các loại phân khác.
Kế hoạch phát triển .
Từ những mục tiêu phơng hớng trên, xuất phát từ thực trạng của ngành sản
xuất phân bón vô cơ nớc ta hiện nay và tuỳ thuộc vào khả năng giải quyết vốn
đầu t, cần thiết phải đề xuất và xem xét nhiều phơng án phát triển sản xuất
cung ứng phân bón trong gia đoạn tới. Có các phơng án khác nhau có thể lựa
chọn:
Phơng án 1:
*Đối với phân lân:
-Supephôtphát, đây là loại phân có chứa Lu Huỳnh (S) hiện đang đợc sử
dụng rộng rãi, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng phân lân ở Việt Nam.
Công ty supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao vào cuối năm 1993 sau khi
kết thúc mở rộng giai đoạn 3 sẽ có công suất 200.000 tấn/ năm Supe phốt phát
đơn. Trong một vài năm tới sẽ khai thác ở mức 400.000tấn-450.000tấn/năm .
Với lợng phân Lân nh hiện nay, ngoài việc đáp ứng nhu cầu các tỉnh phía
bắc (Từ Thừa Thiên Huế trở ra ) khoảng 300.000 tấn/năm, hàng năm vẫn phải
vận chuyển vào nam và Tây Nguyên 100.000- 150.000tấn, so với nhu cầu tiêu
thụ khu vực này khoảng 60.000-700.000tấn/ năm. Vì vậy cần thiết phải đầu t
xây dựng dây truyền sản xuất phân lân có hàm lợng dinh dỡng cao nhằm giảm
bớt chi phí vận chuyển. Mặt khác phát triển sản phẩm phân lân hàm lợng dinh
dỡng cao, cũng là đồng thời có đợc sản phẩm axit phốtphoric, một hoá chất cơ

24


bản rất quan trọng cho nền kinh tế. Trong những năm sản phẩm phân lân hàm
lợng dinh dỡng cao thì phát triển supe phốt phát kép có công suất
250.000tấn /năm, (tơng đơng 700.000tấn/năm suppe phôt phát đơn), tại Công

hành . Một trong hai nhà máy phải có axit Nitric để từ đó có thể sản xuất
Nitrophos, thuốc nổ công nghiệp.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status