SKKN vận dụng kiến thức liên môn vào dạy học chương “lượng tử ánh sáng”, vật lý 12 theo phương pháp dựa trên vấn đề - Pdf 37

Trường THPT Trấn Biên

SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương

SỞ GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Trấn Biên
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN VÀO
DẠY HỌC CHƯƠNG “LƯỢNG TỬ ÁNH
SÁNG” VẬT LÝ LỚP 12 THEO PHƯƠNG
PHÁP DỰA TRÊN VẤN ĐỀ

Người thực hiện:ĐỖ THỊ THANH PHƯƠNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: Vật lý 

Có đính kèm:Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

Năm học: 2014 - 2015
1



- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: 5 năm
Số năm có kinh nghiệm:5 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

2


Trường THPT Trấn Biên

SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
MỤC LỤC
TRANG

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT …………………………………………..1

PHẦNI.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................... 1
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................................... 3

2.Dạy học dựa trên vấn đề (PBL).................................................................... 3
2.1. Khái niệm. ................................................................................................ 3
2.2. Mô hình dạy học dựa trên vấn đề (PBL). ................................................. 4
2.3. Thực trạng việc áp dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề vật lý ở
trường phổ thông. ............................................................................................ 6
PHẦN III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP ........................... 7
3.1.Giai đoạn thiết kế và giao vấn đề .............................................................. 7
3.2. Tiến trình hướng dẫn HS tham gia giải quyết vấn đề .............................. 8
3.2.1. Phổ biến yêu cầu, cách thức làm việc, chia nhóm. ............................... 8
3.2.2. Kế hoạch hướng dẫn HS giải quyết vấn đề ........................................... 8
3.3.Kế hoạch chi tiết tiến trình dạy học dựa trên vấn đề................................. 10
3.4. Tiến trình dạy học theo PBL chương “Lượng tử ánh sáng” Vật Lý 12. .. 15

Giáo viên



Hoạt động

HS

Học sinh

PBL

Problem-based learning

PPDH

Phương pháp dạy học

QTDH

Quá trình dạy học

SGK

Sách giáo khoa

1


Trường THPT Trấn Biên

- Nội dung vật lý gắn với thực hành, thực nghiệm.
- Nội dung vật lý phải có tính thiết thực.
2


Trường THPT Trấn Biên
SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
Tuy nhiên các môn KHTN trong nhà trường còn “khô khan”, chưa có các
hoạt động kích thích HS đam mê và tìm hiểu, đóng góp vào lợi ích của tập thể,
cộng đồng.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn chuyên đề “Vận dụng kiến
thức liên môn vào dạy học chương “Lượng tử ánh sáng”, vật lý 12 theo phương
pháp dựa trên vấn đề, nhằm nâng cao năng lực tự học giúp học sinh yêu thích môn
Vật lý, góp phần đổi mới PPDH vật lý ở trường THPT.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2. Dạy học dựa trên vấn đề (PBL)
2.1. Khái niệm
- Theo Barrows và Kelson: “PBL vừa là chương trình, vừa là quá
trình. Chương trình bao gồm những vấn đề được lựa chọn kĩ càng, đòi hỏi người
học trong quá trình học phải tích lũy kiến thức then chốt. Quá trình là sự rèn luyện
các kĩ năng GQVĐ thành thạo, phương pháp tự học, kĩ năng làm việc theo nhóm,
rèn luyện trong những quá trình, những phương pháp được sử dụng phổ biến trong
cuộc sống, trong GQVĐ”[21].
- Theo Boud, ý tưởng của PBL là dùng một vấn đề mà người học phải giải
quyết để làm điểm khởi đầu của học tập. Trong môi trường dạy học PBL người
học được khuyến khích để GQVĐ của thế giới thực [17]. PBL là phương pháp
theo chủ nghĩa kiến tạo với quan điểm triết lý cho rằng kiến thức không phải là
tuyệt đối mà được kiến tạo bởi người học dựa trên những kiến thức sẵn có và thế
giới quan của riêng họ. Trong PBL, ba quy tắc kiến tạo cơ bản được phản ánh là:
hiểu biết xuất phát từ tác động hỗ tương với môi trường xung quanh; xung đột

● Bước 3: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
● Bước 4: Xác định và hoàn thành bài tập cá nhân
● Bước 5: Báo cáo bài tập cá nhân
● Bước 6: Tập hợp thông tin, giải quyết vấn đề
● Bước 7: Tổng hợp, đánh giá quá trình giải quyết vấn đề
Từ những nhận định trên, vậy PBL là PPDH lấy vấn đề làm điểm khởi đầu, và
vấn đề đó sẽ điều khiển cả quá trình học tập của người học. Vấn đề được chọn là
vấn đề có trong cuộc sống, và đồng thời có liên quan đến chương trình học. Vấn đề
phải kích thích được sự hứng thú của người học. Vấn đề sẽ được giao trước khi
người học được tiếp cận các kiến thức mới, qua việc thảo luận làm việc nhóm để
4


Trường THPT Trấn Biên
SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
GQVĐ, người học sẽ chủ động lĩnh hội các kiến thức cần thiết, đồng thời rèn luyện
được các kĩ năng: phân tích vấn đề, tìm kiếm và sử dụng các nguồn tư liệu, đưa ra
các giải pháp GQVĐ cũng như kĩ năng làm việc nhóm.
Căn cứ vào cấu trúc PBL và nội dung dạy học, tác giả đề xuất một sơ đồ thực
hiện dạy học theo PBL như sơ đồ

XÁC ĐỊNH NỘI DUNG
VÀ MỤC TIÊU
DẠY HỌC

NHẬN BIẾT VÀ PHÂN
TÍCH VẤN ĐỀ

TÌM KIẾM THÔNG TIN


Các trường đại học khác cũng đang tìm hiểu và có những bài tham luận nói về
phương pháp này như: Đại học An giang, Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh,…
Tuy nhiên, phương pháp này cũng chỉ mới dừng lại ở một số trường đại học còn ở
THPT thì chưa một trường phổ thông nào áp dụng phương pháp này. Đây thực sự
là một khó khăn khi quyết định áp dụng PBL vào trường THPT.
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức vật lý gắn kết một cách chặt
chẽ với thực tế đời sống. Tuy nhiên đối với đại đa số học sinh phổ thông hiện nay,
việc vận dụng kiến thức vật lý vào đời sống còn rất nhiều hạn chế. Việc giảng dạy
kiến thức cho học sinh nói chung và kiến thức vật lí nói riêng ở nhiều trường vẫn
còn tiến hành theo lối “thông báo - tái hiện”, với tâm lí ngại cho học sinh tiếp xúc
với thí nghiệm vì sợ học sinh làm hư hỏng, gây phiền toái, điều này là tương đối
phổ biến ở các trường trung học phổ thông, làm cho học sinh phổ thông có quá ít
điều kiện để nghiên cứu, quan sát và tiến hành các thí nghiệm vật lí. Do những khó
khăn nhất định về kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bị mà nhiều trường trung học phổ
thông đã chưa khuyến khích được giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, không
tạo được cho họ những điều kiện tốt để có thể sử dụng các hình thức dạy học tiên
tiến (sử dụng các phương tiện dạy học như tranh ảnh tự làm, tự sưu tầm, máy tính,
thực hiện các tiết học bằng bài giảng điện tử ...) và do đó, lối “dạy chay” vẫn là
cách dạy học ngự trị ở nhiều trường trung học phổ thông hiện nay. Vì vậy, việc áp
dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề ở các trường phổ thông ít được phát
huy.
Qua việc phân tích cơ sở lý luận của HĐ dạy học thì chúng tôi thấy được xu
thế hiện nay của việc dạy học là lấy HS làm trung tâm, HS phải tự tìm kiếm kiến
thức bằng quá trình tự học của chính bản thân, bằng những HĐ GQVĐ thực tiễn…
Và bên cạnh việc trau dồi kiến thức thì dạy học hiện nay rất chú trọng đến rèn
luyện kĩ năng. Với việc tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy học dựa trên PBL là
6


Trường THPT Trấn Biên



Trường THPT Trấn Biên
SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
- Chuẩn bị các vấn đề của bài học: quay phim, chụp ảnh… các tình huống để
đặt vấn đề cho HS.
Xây dựng vấn đề
“Là một người tính toán tạo nguồn cho máy tính cầm tay hoạt động thì em
sẽ làm như thế nào?”
Việc giao vấn đề cho HS quan sát máy tính cầm tay.
3.2. Tiến trình hướng dẫn HS tham gia giải quyết vấn đề
3.2.1. Phổ biến yêu cầu, cách thức làm việc, chia nhóm
- HS sẽ GQVĐ trong vòng 2 tuần (7 tiết trên lớp). Mỗi tuần HS sẽ có 3 tiết
lên lớp để thảo luận, trao đổi và nhận sự giúp đỡ từ GV. Mỗi nhóm cũng có thể sắp
xếp các buổi thảo luận riêng của nhóm ngoài giờ lên lớp. Hai tiết cuối cùng của
chương sẽ dùng để tổng kết khoá học và làm bài kiểm tra chương.
- HS sẽ làm việc theo nhóm. Chia lớp học ra thành 4 nhóm (khoảng 12 HS/
1 nhóm). Mỗi nhóm sẽ bầu ra một thành viên làm nhóm trưởng để điều khiển các
buổi thảo luận (nên chọn những người tháo vát và có học lực khá, giỏi) và thư kí
để ghi biên bản các buổi thảo luận.
- Từ vấn đề đưa ra, nhóm sẽ cùng nhau thảo luận. Các ý kiến thảo luận được
tôn trọng như nhau và sau đó đem ra phân tích để thống nhất vấn đề cần nghiên
cứu. Mỗi thành viên trong nhóm sẽ được phân công nhiệm vụ và báo cáo kết quả,
tham gia thảo luận khi họp nhóm.
- Sau mỗi vấn đề được làm sáng tỏ sẽ có sản phẩm UDKT để đánh giá kiến
thức mà HS cũng như nhóm đã tìm hiểu, xây dựng được. Nhận xét về mặt tích cực
và mặt tiêu cực mà mỗi nhóm đạt được.
3.2.2. Kế hoạch hướng dẫn HS GQVĐ
Tiến trình hướng dẫn HS GQVĐ sẽ thực hiện theo tiến trình 6 bước như đã
trình bày ở chương 1.

CHĐH, có thể cung cấp các địa chỉ web, các tên sách về tạo pin HS dễ dàng tìm
kiếm, nhưng chỉ nên cung cấp khi có yêu cầu từ phía HS. Việc chủ động tìm kiếm
thông tin sẽ giúp HS thu thập được thông tin nhiều hơn, chi tiết hơn là khi được
GV cung cấp địa chỉ cụ thể.


Bước 3: Trình bày và phân tích thông tin

Với các thông tin thu thập được thì các cá nhân sẽ lần lượt trình bày trước
nhóm, cả nhóm sẽ cùng nhau thảo luận phân tích thông tin của từng cá nhân. Ở
bước này GV có thể đưa ra những CHĐH giúp HS dễ dàng lựa chọn thông tin
đúng và cần thiết để GQVĐ.


Bước 4: Xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
9


Trường THPT Trấn Biên
SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
Sau khi hoàn thành bước 3, nhóm sẽ phải tìm hiểu, phân tích kĩ lại những
thông tin đã thu thập được, những nguyên lý, các bước chế tạo pin. Các cá nhân sẽ
được phân công việc, nhiệm vụ theo bản kế hoạch và sẽ phải hoàn thành công việc
của mình đúng thời hạn.


Bước 5: Tổng hợp - So sánh

Các cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình, cả nhóm sẽ đưa ra sản phẩm về
UDKT. Các sản phẩm sẽ được so sánh và tổng hợp để tìm ra được sản phẩm thỏa

- Giới thiệu tiến trình GQVĐ như đã trình bày ở chương 1 để HS nắm rõ các
bước, các giai đoạn và công việc cần làm của mình.
- Giới thiệu bảng tiêu chí đánh giá để HS xác định đâu là những ưu điểm của
bản thân cần phải phát huy, đâu là những nhược điểm cần phải khắc phục để đáp
ứng tốt yêu cầu đặt ra.


Chia nhóm (5 phút).

Nên chia lớp thành 4 nhóm, có thể lấy 4 tổ có sẵn của lớp nhưng lưu ý là phải
phân chia số lượng HS có học lực tương đương nhau trong 4 nhóm. Trong đó có:
+ Nhóm trưởng: GV phổ biến vai trò, nhiệm vụ cho nhóm trưởng.
+ Thư kí: GV phổ biến vai trò, nhiệm vụ.
Giới thiệu vấn đề (5 phút)


Làm việc nhóm (25 phút)

GV sẽ hướng dẫn HS phân tích vấn đề bằng những câu hỏi, những gợi ý
nhỏ:
- Các em hãy gạch dưới những từ khoá, những khái niệm mà các em nghĩ là
cần thiết phải làm rõ để GQVĐ.
- Khi đọc vấn đề, nguyên nhân nào để tạo nguồn cho máy tính cầm tay là
nguyên nhân em nghĩ đến đầu tiên?
- Dựa vào những kiến thức đã học thì cách thức tạo pin sẽ như thế nào?
- Hướng dẫn HS lập kế hoạch hoạt động nhóm theo phương pháp 5W & 1H
Từ giữa buổi 1 và buổi 2:
- HS sẽ tìm kiếm thông tin về cách tạo ra nguồn sử dụng trong máy tính
cầm tay.
- Hoàn thành bản kế hoạch hoạt động nhóm theo phương pháp 5W & 1H.

dung dịch hóa chất được không? Dung dịch hóa chất đó phải đáp ứng yêu cầu gì?
Định hướng 3: Từ những kiến thức đã được học và hóa chất sẵn có trong
phòng thí nghiệm hóa, làm thế nào tạo ra pin nhỏ gọn, an toàn?
HĐ nhóm
Các nhóm sẽ tiếp tục thảo luận tìm hiểu về nhiệm vụ của nhóm được giao
tương tự như khi thảo luận để tìm hiểu vấn đề. Kết quả sau cùng của buổi thảo luận
là phải xác định được những thông tin nào cần tìm hiểu, cần làm rõ để giải quyết
nhiệm vụ của nhóm. HS xác định những công việc cần làm trong khoảng thời gian
tại nhà trước khi lên lớp buổi tiếp theo.
Từ buổi 2 đến buổi 3
12


Trường THPT Trấn Biên
SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
Trong thời gian này HS sẽ tìm hiểu về các CHĐH. HS sẽ phải tìm hiểu
thông tin qua sách báo, internet, xuống phòng thí nghiệm, xưởng kĩ thuật… và có
thể liên lạc với GV để nhận được sự giúp đỡ.
Trước buổi 3
Bốn nhóm đưa ra bản kế hoạch và bài báo cáo trên email.
 Buổi 3
 Thảo luận nhóm (10 phút)
HS sẽ trình bày thông tin mình đã tìm hiểu được về 3 CHĐH, nhóm sẽ thống
nhất câu trả lời cho 3 CHĐH để trình bày trước lớp.
 Làm việc toàn lớp (15 phút)
Bốn nhóm sẽ trình bày câu trả lời của nhóm về 3 CHĐH. Các câu trả lời của
mỗi nhóm có thể sẽ khác nhau, vì vậy các nhóm sẽ đưa ra những thông tin, bằng
chứng, luận điểm để biện luận cho câu trả lời của nhóm, câu trả lời thuyết phục
nhất sẽ được cả lớp thống nhất chọn để thực hiện bước tiếp theo trong tiến trình
GQVĐ.

chứng minh là kết quả mình nghiên cứu được là đúng. Nhóm sẽ họp để tổng kết
công việc cả nhóm, hoàn thành các công việc mà GV giao, giải thích rõ ràng các
CHĐH. Vận dụng các kiến thức nghiên cứu được để GQVĐ của khoá học và
chuẩn bị bài báo cáo trước lớp.
Trước buổi 4
+ Bốn nhóm đưa ra bản kế hoạch hoàn chỉnh và bài báo cáo trên email.
+ Phải đưa ra sản phẩm của nhóm.
 Buổi 4
 Các nhóm báo cáo toàn lớp (35 phút)
Bốn nhóm trình bày trước lớp sẽ giải thích rõ ràng các CHĐH, và đưa ra sản
phẩm UDKT cho vấn đề của khoá học. Trong bài báo cáo phải nêu ra được những
nguyên lý, kiến thức gì của môn Vật lý được sử dụng để GQVĐ.
 GV nhận xét và đưa ra CHĐH cuối cùng (10 phút)
GV sẽ nhận xét về từng bài báo cáo của các nhóm và đưa ra định hướng cuối
cùng để GQVĐ:
Định hướng 4: để hoàn thành pin cho máy tính cầm tay,thì cần bao nhiêu
vôn? Làm sao thiết kế pin thật nhỏ, gọn,dễ thiết kế và tận dụng được năng lượng tự
nhiên là tối ưu nhất?
14


Trường THPT Trấn Biên
Từ buổi 4 đến buổi 5

SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương

GV sẽ tổ chức một buổi ngoại khoá cho HS tại phòng thí nghiệm của trường
để HS có thể thực hiện thí nghiệm hoàn thành vấn đề được đề ra.
Định hướng 4: HS sẽ được vào phòng thí nghiệm lý, hóa, và xưởng kỹ thuật
để hoàn thành vấn đề của nhóm.


SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương

6. Mô tả vấn đề và nhiệm vụ của HS:
Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển không ngừng, nó đã góp phần quan
trọng nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Chính vì vậy, con người sống
trong thời đại này đòi hỏi yêu cầu cao về khả năng: tìm tòi, sáng tạo, thích nghi và
cải tiến. Nếu bạn là một người tính toán tạo nguồn cho máy tính cầm tay hoạt động
thì bạn sẽ làm như thế nào?
7. Thời gian thực hiện: 2 tuần.
II. Mục tiêu cần đạt được
1. Kiến thức
- Biết được cách thức làm việc và nhiệm vụcủa mình trong khóa học UDKT
trên PBL.
- Xác định được các từ khoá trong vấn đề.
- Bước đầu nêu ra được những nhận định ban đầu về vấn đề.
- Nêu được những vấn đề cần tìm hiểu và giải quyết ở nhà cũng như ở buổi
thảo luận tiếp theo. Đó là vấn đề liên quan đến làm thế nào để máy tính cầm tay
hoạt động.
2. Kĩ năng
- Biết liên kết các ý tưởng để rút ra được vấn đề chính, trọng tâm cần tìm
hiểu, biết cách lập luận để loại bỏ những vấn đề gây nhiễu.
- Liệt kê những kiến thức có sẵn để phân tích vấn đề.
- Làm việc nhóm, khả năng tranh luận, lắng nghe và thuyết phục nhóm.
3. Thái độ
- Có niềm vui thích, hào hứng với phương pháp học tập mới.
- Sẵn sàng đối mặt với vấn đề.
- Sẵn sàng hợp tác với các thành viên trong nhóm.
III. Các HĐ



Hình 2.2. Máy tính cầm tay
17


Trường THPT Trấn Biên
● Làm việc nhóm (25 phút)

SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương

GV sẽ hướng dẫn HS phân tích vấn đề bằng những câu hỏi, những gợi ý
nhỏ:
- Các em hãy gạch dưới những từ khoá, những khái niệm mà các em nghĩ là
cần thiết phải làm rõ để GQVĐ.
- Khi đọc vấn đề, nguyên nhân nào để tạo nguồn cho máy tính cầm tay là
nguyên nhân em nghĩ đến đầu tiên?
- Dựa vào những kiến thức đã học thì cách thức tạo pin sẽ như thế nào?
- Hướng dẫn HS lập kế hoạch hoạt động nhóm theo phương pháp 5W & 1H.
HS sẽ thảo luận nhóm:
+ Đầu tiên mỗi HS sẽ xác định từ khoá trong các vấn đề: nguyên tắc hoạt
động máy tính cầm tay, và quá trình tạo nguồn ….
+ Động não tóm tắt và phân tích vấn đề: Cần phải tìm ra giải pháp và đưa ra
sản phẩm tạo nguồn cho máy tính cầm tay.
+ Các thành viên trong nhóm đều phải đưa ra các ý kiến của mình về vấn đề.
+ Tranh luận giữa các thành viên về giải pháp tạo nguồn cho máy tính cầm
tay hoạt động trên cơ sở kiến thức đã học.
- Nguồn pin phải đáp ứng yêu cầu có giá trị vôn là bao nhiêu?
- Để tạo được nguồn pin thì có bao nhiêu giải pháp?
- Pin được tạo ra phải thỏa mãn nguyên lý, định luật nào?
Cả nhóm sẽ thống nhất công việc cần làm khi về nhà là sẽ tìm kiếm thông

Những thông tin mà HS cần ghi chép lại:
- Pin sử dụng trong máy tính cầm tay là bao nhiêu vôn?
- Quá trình chế tạo pin phải nắm rõ các tính chất hóa học để đảm bảo an
toàn.
GV đưa ra bộ CHĐH (5 phút).
Để giúp HS dễ dàng hơn trong việc GQVĐ đồng thời tránh việc đi lạc
hướng quá xa so với vấn đề, GV sẽ tổng hợp và cung cấp cho HS bộ CHĐH:
Định hướng 1: Từ những trái cây có trong thiên nhiên có cách nào tạo ra
nguồn cho máy tính cầm tay không? Có những loại trái cây nào tạo được pin?
Định hướng 2: Hệ thống kiến thức đã được học từ trước tạo nguồn pin từ các
dung dịch hóa chất được không? Dung dịch hóa chất đó phải đáp ứng yêu cầu gì?

19


Trường THPT Trấn Biên
SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
Định hướng 3: Từ những kiến thức đã được học và hóa chất sẵn có trong
phòng thí nghiệm hóa, làm thế nào tạo ra pin nhỏ gọn, an toàn?
 HĐ nhóm thảo luận về bộ CHĐH (25 phút)
Các nhóm sẽ tiếp tục thảo luận tìm hiểu về các CHĐH tương tự như khi thảo
luận để tìm hiểu vấn đề. Kết quả sau cùng của buổi thảo luận là phải xác định được
những thông tin nào cần tìm hiểu, cần làm rõ để giải quyết các CHĐH. HS xác định
sơ qua những công việc cần làm trong khoảng thời gian tại nhà trước khi lên lớp
buổi tiếp theo. Hai vấn đề mà các nhóm cần phải làm rõ là: tạo pin và thiết kế nhỏ
gọn.

20



● GV cung cấp kiến thức liên quan đến CHĐH
- Điều kiện để có dòng điện là phải có một hiệu điện thế đặt vào hai đầu vật dẫn.
- Nguồn điện duy trì hiệu điện thế giữa hai cực của nguồn điện.
21


Trường THPT Trấn Biên
SKKN: Đỗ Thị Thanh Phương
- Công của lực lạ thực hiện làm dịch chuyển các điện tích qua nguồn được
gọi là công của nguồn.
- Suất điện động của một nguồn điện là đại lượng đặc trưng cho khả năng
thực hiện công của nguồn điện và được đo bằng

A: công của lực lạ thực hiện khi dịch chuyển một điện tích dương ngược
chiều điện trường.
q: độ lớn điện tích.
- Công của lực lạ làm dịch chuyển các điện tích thực ra là phản ứng hóa học
xảy ra bên trong pin, khi nối hai cực có bản chất hóa học khác nhau được ngân
trong chất điện phân thì có một dòng điện chạy liên tục ở mạch ngoài và mặt trong
pin. Tác dụng hóa học đóng vai trò của lực lạ tạo ra và duy trì sự tích điện khác
nhau ở hai cực của pin, do đó duy trì hiệu điện thế giữa chúng và tạo ra suất điện
động của pin.


Làm việc nhóm phân chia nhiệm vụ về nhà (20 phút)

Tuỳ theo câu trả lời và những thông tin biện luận của các nhóm mà GV sẽ có
những định hướng khác nhau cho mỗi nhóm với mục đích là giúp nhóm hiểu được
tính chất hóa học trong quá trình tạo pin. Qua việc giải quyết ba CHĐH đã nêu,
GV đưa những gợi ý giúp HS phát hiện ra sự liên quan giữa các CHĐH với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status