Xây dựng và sử dụng website dạy học chương lượng tử ánh sáng vật lý 12 theo hướng nâng cao năng lực tự học của học sinh: - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

THÁI VĂN THANH

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC
CHƯƠNG “LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG” VẬT LÝ 12
THEO HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC
CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH – 2012

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

THÁI VĂN THANH

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC
CHƯƠNG “LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG” VẬT LÝ 12
THEO HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC
CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lý
Mã số: 60.14.10

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

ĐC

Đối chứng

TN

Thực nghiệm

THPT

Trung học phổ thông

CNTT

Công nghệ thông tin

4


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................1

Kết luận chương 1....................................................................................... 30
Chương II: XÂY DỰNG WEBSITE DẠY HỌC CHƯƠNG “LƯỢNG
TỬ ÁNH SÁNG” THEO HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC
CỦA HỌC SINH
5


2.1. Cấu trúc nội dung chương: "Lượng tử ánh sáng"............................32
2.1.1 Hệ thống kiến thức chương: "Lượng tử ánh sáng"................................32
2.1.2 Các dạng bài tập của chương “Lượng tử ánh sáng”..............................41
2.2. Giới thiệu website..................................................................................45
2.2.1 Xác định mục tiêu và đối tượng sử dụng website..................................45
2.2.2 Lựa chọn và nghiên cứu công cụ để xây dựng website.........................45
2.2.3 Thiết kế website và hướng dẫn sử dụng website..................................47
2.3 Thiết kế một số tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của website
nhằm nâng cao năng lực tự học của học sinh........................................... 59
Kết luận chương 2........................................................................................73
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích thực nghiệm.............................................................................
75
3.2 Nội dung thực nghiệm.............................................................................75
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm và phương pháp đánh giá...............75
3.4 Kết quả thực nghiệm............................................................................ 77
3.4.1 Kết quả tiến trình dạy học và việc tự học.............................................77
3.4.2 Kết quả của đợt kiểm tra đánh giá........................................................78
3.4.3 Nhận xét và kết luận rút ra từ thực nghiệm sư phạm............................80
3.5 Hiệu quả của tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của website.................
82
Kết luận chương 3..........................................................................................
84

khích tự học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng
cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Chỉ thị 58/2000/TW của bộ chính trị:“Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
công tác giáo dục đào tạo ở cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các
hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt
tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục đào tạo, kết nối
internet với tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”.
Trên thực tế hiện nay, hoạt động tự học của học sinh còn nhiều hạn chế,
trong đó học sinh chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây
dựng và rèn luyện kĩ năng tự học cho bản thân, hình thức tự học chưa hợp
lý...Ngoài ra còn phải kể đến sự ảnh hưởng của phướng pháp dạy học
truyền thống theo lối truyền thụ kiến thức một chiều, đã tồn tại từ lâu trong
văn hoá, cũng như giáo dục. Việc thiếu đi những phương tiện hỗ trợ,
hướng dẫn giúp cho học sinh thực hiện hoạt động tự học cũng là một trong
những nguyên nhân làm cho học sinh trở nên thụ động, phụ thuộc vào giáo
viên giảng dạy. Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề tự học của học sinh
hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tự học của
học sinh góp phần nâng cao kết quả học tập và chất lượng đào tạo là có
tính cấp thiết. Đồng thời việc nghiên cứu và phát triển những công cụ,
những phương tiện hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học là một vấn đề cần
được ưu tiên phát triển một cách đúng mức.
Máy vi tính với ứng dụng công nghê World Wide Web để xây dựng
website dạy học đang là một hướng đi mới mang tính thời sự, thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhưng các phần mềm dạy học đã được
biên soạn trong nước còn đơn lẻ chưa có hệ thống và còn mang tính thử
nghiệm.
8


Nghiên cứu sách giáo khoa vật lý lớp 12, chúng tôi nhận thấy chương



5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng thành công và sử dụng website một cách hợp lý, khoa học
thì sẽ có tác dụng hỗ trợ tốt hoạt động tự học của học sinh trong dạy học
chương “Lượng tử ánh sáng”, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng website hỗ trợ
-

và nâng cao năng lực tự học của học sinh.
Nghiên cứu nội dung chương: "Lượng tử ánh sáng".
Thiết kế website nhằm hỗ trợ và nâng cao năng lực tự học của học sinh.
Thiết kế một số tiến trình dạy học chương “Lượng tử ánh sáng”.
Thực nghiệm sư phạm: tổ chức một số tiết học với sự hỗ trợ của
website.

7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn.
- Thực nghiệm sư phạm.
- Thống kê toán học.
8. Đóng góp của đề tài.
- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tự học và nâng cao năng lực
tự học khi học sinh học xong phần kiến thức chương “Lượng tử ánh
sáng”.
- Đề xuất những nội dung, hình thức và phương pháp cần hướng dẫn cho
học sinh tự học với sự hỗ trợ của website.
- Xây dựng website nâng cao năng lực tự học chương “Lượng tử ánh
sáng”.

1.1 Cơ sở lý luận của hoạt động tự học
1.1.1 Khái niệm và mục đích của việc tự học
Thực chất tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức
không trực tiếp có thầy giáo, đó là một quá trình “lao động khoa học” vất vả
hơn nhiều so với khi học có thầy giáo hướng dẫn. Có thể nói quá trình tự học
của học sinh là một quá trình tự nỗ lực, quyết tâm, tích cực để đạt được mục
tiêu học tập. Nếu thiếu sự nỗ lực thì học sinh không thể đạt kết quả tốt, đây
cũng chính là điều kiện để học sinh nâng cao chất lượng học tập của bản thân
và các trường THPT nâng cao chất lượng giáo dục.
Tự học (self - study) là sự nỗ lực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng của bản
thân người học để hướng tới những mục đích học tập nhất định. Các nhà khoa
học giáo dục đã nghiên cứu vấn đề tự học dưới nhiều góc độ nhưng một cách
chung nhất có thể hiểu tự học là quá trình tự giác, độc lập, tích cực, sử dụng
các năng lực trí tuệ, phẩm chất của bản thân người học để người học chiếm
lĩnh được tri thức của nhân loại và những kinh nghiệm lịch sử xã hội, biến
những tri thức đó thành sở hữu của mình, hình thành kỹ năng, thái độ và ngày
càng hoàn thiện nhân cách của bản thân.
Những quan điểm trên về tự học tuy khác nhau, nhưng đều chung bản
chất đó là sự tự giác và kiên trì cao; sự tích cực, độc lập và sáng tạo của người
học trong học tập. Do đó, có thể khái quát chung: Tự học là hoạt động độc
lập, chủ yếu mang tính cá nhân của người học trong quá trình nhận thức, học
12


tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của quá
trình đào tạo.
1.1.2 Vai trò và vị trí của việc tự học trong quá trình học tập và nhận
thức
Tự học là cốt lõi của việc học, hễ có học là có tự học, không ai có thể
học hộ người khác. Khi nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và

Tự học đối với học sinh còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm giúp
các em rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán độc
lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hành nội quy, kỷ
luật của nhà trường, xây dựng thái độ, đạo đức, kỹ năng tự hoàn thiện bản
thân để có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn cuộc sống sau này.
Từ những phân tích trên có thể thấy tự học đóng vai trò quyết định đến
sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, bởi nhân cách người học
sinh chính là phẩm chất và năng lực được hình thành và phát triển trong quá
trình đào tạo tại nhà trường phổ thông.
Tóm lại tự học đóng vai trò quan trọng đối với đời sống cũng như học
tập đối với tất cả mọi người và đặt biệt hơn là với học sinh, thanh niên khi rèn
luyện cho mình tính tự học đồng nghĩa với việc chúng ta đang đem đến cho
mình những kiến thức vô cùng có giá trị, khi tự học con người sẽ phát hiện ra
những thứ mình cần phải có và hiểu hơn về bản thân mình, từ đó góp phần
vào việc hoàn thiện bản thân hơn. Tinh thần tự học là rất cần thiết cho học
sinh, thanh niên ngày nay. Nó đã nhắc nhở chúng ta cách học tập tốt nhất là tự
học, không nên quá khuôn mẫu hay giam mình vào những công thức có sẵn
mà phải trau dồi, rèn luyện thêm kiến thức cho mình. Tự học cũng có nghĩa
tương đồng với tự lập, bởi vì khi chúng ta tự tìm hiểu những vấn đề nào đó thì
đòi hỏi chúng ta phải dựa vào sức của mình, không phải nhờ ai làm dùm hay
biến kết quả mà người khác có được thành “sản phẩm” của mình. Người ta chỉ
mang đến “bản đồ” để bạn đi tìm “kho báu” chứ không bao giờ mang những
“kho báu” mà họ tìm thấy cho bạn. Bởi vậy là học sinh, bản thân mỗi người
14


cần phải rèn luyện cho mình tinh thần tự giác để tự học, vì chỉ có như thế
chúng ta mới thực sự trưởng thành và đạt được những kết quả tốt đẹp trong
học tập
Như vậy đối với học sinh, thanh niên ai cũng phải rèn luyện cho mình

Quá trình tự học có thể chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Học sinh tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải
thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới
(chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có
tính chất cá nhân.
Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản,
bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của
mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản
phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua
sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, học sinh tự kiểm
tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành
sản phẩm khoa học.
Chu trình tự nghiên cứu → tự thể hiện→ tự kiểm tra, tự điều chỉnh
“thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và
giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học.
1.1.3.3 Tự học với sự giúp đỡ của một số phương tiện
Tự học theo phương thức này, người học có thể tự tìm hiểu, tự nghiên
cứu những kiến thức, những nội dung mình chưa biết qua các phương tiện như
sách báo, internet,… Hiện nay với sự bùng nổ công nghệ thông tin đã có ảnh
hưởng sâu sắc đến nhiểu lĩnh vực hoạt động của con người. Nói riêng trong
giáo dục, thực tế cho thấy công nghệ thông tin là một phương tiện đã hỗ trợ
rất có hiệu quả trên nhiều mặt trong hoạt động dạy và học. Chúng ta biết tự
học là tốt nhưng thường thì nó làm tốn nhiều thời gian và công sức của người

16


học. Nguyên nhân do người học phải tự tìm tòi, tự định hướng, tự học hỏi kiến
thức. Nhưng nếu có những phương tiện hỗ trợ thì việc tự học trở nên dễ dàng

hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp
dạy học, mà hiện nay chưa có những bài trắc nghiệm trên mạng như vậy .
Ưu thế của website thể hiện ở các tính năng tạo lập và quản lý nội dung
tự học như: giao – nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa giáo viên và học sinh,
giữa các bạn học (chat), tạo lập các diễn đàn,... Nhưng đặc biệt hơn cả “Quản
lý học viên” là một tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế
website bao gồm: kết nạp và theo dõi thông tin học viên trong một khóa học,
chia học viên thành các nhóm (lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của site
hoặc khóa học…, áp dụng tỉ lệ cho các hoạt động khác nhau cho học viên,
quản lí điểm, theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để
sử dụng cho khóa học… Giáo viên có thể phân quyền truy cập vào nội dung
ôn tập đối với từng nhóm đối tượng như: ôn tập cho mọi người, ôn tập dành
cho học viên,... Với khả năng tính toán của máy tính, máy tính có thể dễ dàng
và nhanh chóng thực hiện kiểm tra trên website đồng thời thực hiện chấm
điểm trên website theo thang điểm đã đặt ra.
1.1.4 Phương pháp học tập theo hướng tự học
Khi xác định được mục tiêu học tập, học sinh cần xây dựng phương pháp
học tập phù hợp với môi trường THPT, tự chủ sáng tạo trong học tập.
1.1.4.1 Tự học cá nhân
- Đọc trước sách giáo khoa, tài liệu của giáo viên, nghiên cứu kĩ nội
dung sắp học trên lớp. Từ đó, thông hiểu được những kiến thức cơ bản, còn
đối với những kiến thức, những vấn đề không thể tự hiểu chúng ta tập trung
để nắm khi tham gia lớp học. Sau khi học trên lớp học sinh phải biết tự ôn tập
và củng cố kiến thức một cách năng động sáng tạo, làm nhiều dạng bài tập
khác nhau từ đó phát hiện những lổ hỏng kiến thức để kịp thời thay đổi và sửa
chữa cho phù hợp.

18




hơn, và nhiều người có thói quen làm việc một mình trở nên gắn bó tập thể
hơn, siêng năng hơn. Làm sao làm việc nhóm có hiệu quả vẫn là bài toán lớn.
1.1.5 Từ tự học đi đến tích cực và sáng tạo
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải
thay đổi cách dạy và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một
chiều “đọc- chép” lấy giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm
trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong cách dạy này học
sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo
nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Dạy và học tích cực là
điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc
lập của học sinh vào quá trình học tập.
Tính tích cực, sáng tạo là một phẩm chất vốn có của con người. Con
người sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã
hội, sáng tạo ra nền văn hoá mỗi thời đại. Tính tích cực của con người biểu
hiện trong các hoạt động. Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học. Tính
tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát
vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri
thức. Lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm “khám phá” ra
những hiểu biết mới cho bản thân. Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã
nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình.

20


Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tâp.
Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự
giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên năng lực tự học. Tự học sản sinh ra nếp tư duy
độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo và ngược lại. Tính tích
cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự giác tham

nhiều lần các học sinh trả lời câu hỏi. Đó không phải là những câu hỏi khó.
Thế nhưng rất ít có cánh tay nào giơ lên, bởi vì một lý do học sinh thiếu hẳn
tinh thần tự học và không có chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Điều này ảnh
hưởng khá lớn đến không khí học tập trong lớp. Nó gây ra một cảm giác rất áp
lực mỗi khi thầy cô đặt câu hỏi, học sinh thì cảm thấy áp lực, còn giáo viên
cũng cảm thấy chán nản vì chỉ có sự làm việc một chiều.
Phương pháp tự học quyết định tới kết quả học tập của học sinh. Qua
khảo sát thực trạng việc sử dụng phương pháp tự học thì số ít học sinh có
phương pháp tự học khoa học khi biết kết hợp nhiều phương pháp học tập
khác nhau để đạt được mục tiêu học tập. Nhưng bên cạnh đó đa phần học sinh
chưa có phương pháp học tập khoa học, hợp lý; việc tự học của các em mới
chỉ dừng lại ở những phương pháp đơn lẻ để hoàn thành những nhiệm vụ cụ
thể trước mắt, chưa biết kết hợp giữa các phương pháp tự học để mở rộng, đào
sâu kiến thức nâng cao hiệu quả học tập.
Nhận thức về vai trò của tự học trong học sinh chưa toàn diện, năng lực
tự học của học sinh còn hạn chế, các em chưa có kế hoạch tự học hoặc có kế
hoạch tự học nhưng việc thực hiện kế hoạch chưa triệt để. Nội dung tự học
của học sinh chưa mở rộng, vẫn bó gọn trong vở ghi, sách giáo khoa, chưa
22


biết mở rộng các vấn đề. Phương pháp tự học chưa khoa học, chưa khai thác
được những thế mạnh của năng lực tự học.
Giáo dục nước ta hiện nay tập trung thay đổi phương pháp giảng dạy,
xóa bỏ phương thức dạy và học truyền thống và thay vào đó là những phương
pháp dạy học mới đòi hỏi tính năng động và sáng tạo của người học. Nhưng
thực trạng cho thấy việc thiếu năng lực tự học của học sinh là một rào cản rất
lớn cho công cuộc đổi mới giáo dục.
1.2.2 Nguyên nhân và cách khắc phục
 Nguyên nhân:

thường nặng về thông báo, không tổ chức hoạt động học tập cho các em,
không dự kiến được các biện pháp hoạt động, không hướng dẫn được phương
pháp tự học.
Mặt khác, phương pháp dạy học phổ biến hiện nay vẫn theo "lối mòn",
giáo viên truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động lĩnh hội tri thức. Thậm chí
có giáo viên còn đọc hay ghi phần lớn nội dung lên bảng cho học sinh chép
nội dung sách giáo khoa. Việc sử dụng các phương tiện dạy học: phiếu học
tập, tranh ảnh, băng hình, bản trong… chỉ dùng khi thi giáo viên hay có đoàn
thanh tra, kiểm tra đến dự, còn các tiết học thông thường hầu như “dạy chay".
Do việc truyền đạt kiến thức của giáo viên theo lối thụ động nên rèn
luyện kỹ năng tự học cũng như việc hướng dẫn tự học của giáo viên cho học
sinh không được chú ý làm cho chất lượng giờ dạy không cao.
 Cách khắc phục:
Giải pháp 1: Tăng cường các hình thức kiểm tra đánh giá
a) Vấn đáp
- Kiểm tra bài cũ là một khâu không thể thiếu trong dạy học vì nếu không
kiểm tra giáo viên sẽ không nắm được tình hình học bài và chuẩn bị bài của
học sinh, và nếu không đánh giá cho điểm, nhận xét khuyến khích thì không
có động lực cho việc học bài đều đặn ở nhà.

24


- Kiểm tra vấn đáp trong môn vật lý có điểm khác với các môn xã hội là
không kiểm tra học thuộc lòng, nghĩa là nếu một học sinh học thuộc và trả lời
trôi chảy lí thuyết thì không có nghĩa học sinh đó sẽ làm được bài tập (mà làm
được bài tập thì mới có điểm trong kiểm tra định kỳ!) Như vậy quá trình kiểm
tra vấn đáp phải thúc đẩy được học sinh học tập kiến thức để làm được bài tập
(chứ không phải là lý thuyết suông), ngược lại nếu học sinh làm được bài tập
thì sẽ trả lời tốt các câu hỏi vấn đáp của giáo viên. Để đạt được điều đó câu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status