Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập chương sóng ánh sáng vật lý 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên - Pdf 29

LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo
sau đại học, khoa vật lý trường ĐH Vinh - ĐH Sài Gòn đã tận tình hướng dẫn,
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
hướng dẫn, PGS. TS Lê Phước Lượng.
Xin chân thành cảm ơn PGS. TS Phạm Thị Phú cùng các thầy cô trong
Khoa Vật lý đã có sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến quí báu cho đề tài.
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo và các em học viên TT.
GDTX quận Tân Phú đã giúp đỡ tôi trong khi thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, đồng nghiệp đã
dành nhiều sự giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
và hoàn thành đề tài này.
Tác giả
Nguyễn Chí Trung
Trang 70
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức
và bồi dưỡng năng lực tự học thông qua hoạt động giải bài tập vật lý 4
1.1 Năng lực tự học 4
1.1.1 Năng lực 4
1.1.2. Tự học 4
1.1.3 Năng lực tự học 7
1.1.4 Vai trò của năng lực tự học trong việc phát triển tư duy của học viên 7
1.2 Bài tập vật lý 8
1.2.1 Khái niệm bài tập vật lý 8
1.2.2 Phân loại các bài tập vật lý 9
1.2.3. Các bước chung để giải bài tập vật lý 11
1.3 Vai trò của bài tập vật lý trong việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức 13

2.2.1.2 Khó khăn 29
2.2.2 Thực trạng việc sử dụng các bài tập trong dạy học chương “Sóng ánh sáng”
của giáo viên hiện nay 29
2.3 Khai thác, xây dựng bài tập chương “Sóng ánh sáng” theo hướng củng cố,
hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên 30
2.3.1 Mục tiêu 30
2.3.2 Một số yêu cầu khi soạn thảo bài tập 30
2.3.3 Các nguyên tắc chung khi xây dựng các bài tập 30
2.3.4 Phương pháp soạn thảo bài tập 31
2.4 Phân loại bài tập chương “Sóng ánh sáng” 31
2.5 Một số giáo án dạy học chương “Sóng ánh sáng” 41
2.5.1 Giáo án 1 41
2.5.2 Giáo án 2 47
2.5.3 Giáo án 3 53
Kết luận chương 2 59
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 60
3.1 Mục đích 60
3.2 Nhiệm vụ 60
3.3 Đối tượng 60

Trang 72
3.4 Phương pháp 60
3.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 61
3.6 Đánh giá thực nghiệm sư phạm 61
3.6.1 Đánh giá định tính 61
3.6.2 Đánh giá định lượng 62
3.6.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 65
Kết luận chương 3 68
KẾT LUẬN CHUNG 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường
xuyên”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trang 74
Khai thác, xây dựng và sử dụng các bài tập vật lý chương “Sóng ánh sáng” - vật lý
12 nhằm giúp học viên giáo dục thường xuyên củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi
dưỡng năng lực tự học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng:
- Quá trình dạy học vật lý ở trung tâm giáo dục thường xuyên;
- Các bài tập vật lý lớp 12.
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Các bài tập chương “Sóng Ánh Sáng” - Vật lý 12 ở trung
tâm giáo dục thường xuyên.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu khai thác, xây dựng và sử dụng các bài tập theo hướng củng cố, hệ thống hóa
kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học, sư phạm
theo đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở Trung tâm GDTX.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng bài tập trong dạy học vật lý nói chung và
chương “Sóng Ánh Sáng” – Vật lý 12 ở Trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng;
5.2 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc dạy học các bài tập vật lý;
5.3 Nghiên cứu mục tiêu, nội dung kiến thức, kỹ năng chương “Sóng Ánh Sáng” -
Vật lý 12;
5.4 Khai thác, xây dựng các bài tập vật lý chương “Sóng Ánh Sáng” - Vật lý 12 và
xây dựng các phương án giảng dạy với các bài tập này;
5.5 Soạn thảo tiến trình dạy học một số kiến thức chương " Sóng ánh sáng " - Vật
lý lớp 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học;
5.6 Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định mức độ phù hợp, tính khả thi và tính hiệu
quả của các giáo án đã xây dựng với các bài tập theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến
thức và bồi dưỡng năng lực tự học (tại Trung tâm giáo dục thường xuyên Tân Phú).

- Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải
quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội …và khả năng
vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những
tình huống linh hoạt “ (WEINERT 2001)
1.1.2 Tự học
Khái niệm về tự học (Self Directed Learning – SDL) bắt nguồn từ việc giáo dục cho
người trưởng thành, là một giải pháp thực hiện bởi học viên người lớn ở tiểu học và trung
Trang 76
học. Hiện nay, việc định nghĩa về tự học đã có nhiều thay đổi nhưng tựu trung lại có một
số quan điểm sau: Theo Bolhuis và Garrison thì “Tự học là sự tích hợp của việc tự quản lí
với tự kiểm soát của người học, đó là quá trình mà người học tự theo dõi, đánh giá và
điều chỉnh chiến lược nhận thức của mình. Người học là chủ thể trong sự hợp tác chặt
chẽ của GV và các bạn học cùng lớp”.
Tác giả GS. Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình, rồi cả
động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết
mới nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.
Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá
nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành
ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã
được qui định”.
Nguyễn Kỳ viết “Tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng
hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học
mọi người. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu,
xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập
xử lí thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải
pháp…”.
Như vậy có thể hiểu, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo…, kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học.
Đó là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác, phát huy cao độ vai trò

mình giải quyết vấn đề. Điều này đòi hỏi người học tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, động
não…từ đó tạo điều kiện cho việc thấu hiểu kiến thức sâu sắc hơn. Lê-nin đã viết:
“Không có sự lao động tự lực thì không thể tìm thấy chân lí trong bất kì vấn đề hệ trọng
nào và ai sợ tốn công sức thì không sao tìm ra sự thật được”.
- Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học. Như đã
nói, kết quả của tự học bao giờ cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức, biến kiến thức chung của
nhân loại thành kiến thức riêng của mình. Người biết tự học là người có khả năng thu
thập và xử lí thông tin, biết vận dụng thông tin và biết tự kiểm tra, đánh giá hoạt động
học tập của mình.Vì thế, người biết tự học là người có khả năng tự giải quyết vấn đề tốt,
có khả năng tự làm giàu kiến thức cho mình.
- Tự học góp phần rèn luyện kĩ năng, cách học. Khi tự học, các thao tác tư duy và
thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần hình thành kĩ năng, phương pháp
Trang 78
học cho người học. Tự học là cốt lõi của cách học. Bác Hồ đã từng nói: “Về cách học
phải lấy tự học làm cốt”.
- Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy. Khi tự học, người học
phải sử dụng các thao tác tư duy để giải quyết vấn đề, vì thế tư duy được rèn luyện một
cách thường xuyên. Các nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao cùng với lượng kiến thức, kĩ
năng, năng lực thu được ngày càng nhiều sẽ góp phần nâng cao dần khả năng tư duy của
HV.
- Tự học có vai trò to lớn trong sự sinh tồn của mỗi người. Ngày nay nguồn cung
cấp thông tin rất đa dạng và phong phú, từ sách, mạng internet, băng, đĩa CD… nên nếu
có kĩ năng tự học tốt thì sẽ tận dụng được nguồn thông tin phong phú, đa dạng đó trong
việc thu nhận khiến thức cho mỗi cá nhân. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện
nay, tự học có vai trò quan trong hơn bao giờ hết, tự học là điều kiện quyết định sự thành
công của mỗi người. Một triết gia đã từng nói: “Anh đang tư duy nghĩa là anh đang tồn
tại”. Vì thế con người muốn tồn tại đúng nghĩa thì phải tự học, tự học là tự cứu lấy mình.
- Trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy trong giáo dục thì vai trò của
người học đã có sự thay đổi, họ trở thành người giữ vai trò trung tâm, là chủ thể tích cực
chủ động sáng tạo của quá trình học tập. Bên cạnh việc học ở lớp dưới sự hướng dẫn của

- Để có được kiến thức học viên phải trải qua học tập : Học ở trường, học ở lớp, học
ở nhà, học ở bạn bè, học ờ mọi người… Nhưng kiến thức ấy chưa trở thành tài sản riêng
của học viên. Ở TT. GDTX các kiến thức vật lý học chủ yếu ở giờ trên lớp, qua việc học
tập học viên tích luỹ dần kiến thức cũng như kỹ năng cơ bản,biến kiến thức đã học thành
của riêng cho mình để vận dụng và giải quyết một số vấn đề có liên quan trong quá trình
khám phá ra kiến thức mới,hoặc giải quyết những vấn đề nâng cao. Để có được điều đó
học viên phải có phẩm chất năng tự học.
- Trong thực tế việc học của học viên hiện nay chủ yếu là do ngoại lực tác động
vào đó là: của gia đình, của xã hội của, của bạn bè …. Do đó học viên có tư tưởng trông
chờ ỷ lại, học viên không tự mình làm hoặc không muốn làm chỉ nhờ vào sự truyền thụ
của GV “thầy làm sẵn ” Điều đó thường gặp trong thực tế nếu giao bài tập hơi khác so
với bài thầy đã làm, học viên thường lúng túng không tự mình tìm ra hướng giải,hoặc
cách gải, hoặc học tự mình không thể tiến hành.
- Để khắc phục vấn đề trên thì phải phát huy nội lực của học viên là khâu then
chốt quyết định hiệu quả học tập của học viên . Do đó phát huy nội lực của học viên có ý
nghĩa rất quan trọng giúp học tự chiếm lĩnh kiến thức mới .
Trang 80
1.1.4.2 Phát huy năng lực tự học của học viên là khả năng giúp cho học viên tự
học, tự rèn, tự nâng cao vì:
Học viên sau quá trình học tập tiếp thu kiến thức trên lớp các em phải tự thấm
hiểu và vận dụng được kiến thức đã học muốn vậy đòi hỏi học viên phải tự cân đối thời
gian học tập ở trường và thời gian học tập ở nhà trên cơ sở đó các em tự rèn luyện, tự
trang bị, tự bổ sung kiến thức, kỹ năng cơ bản cần thiết. Tự đào sâu mở rộng kiến thức, tự
hệ thống tổng hợp hoá kiến thức giúp các em hiểu kỹ, hiểu sâu, nắm chắc kiến thức đã
học phục vụ hữu ích cho việc ôn tập kiểm tra. Thông qua đó hình thành cho học những
thói quen, giúp cho học viên yêu học tập và ý thức được học tập là một nhu cầu cần
thiết, từ đó tự hình thành cho các em có động cơ và thái độ học tập đúng đắn .
Tóm lại : Phát huy năng lực tự học của học không có nghĩa là khoán trắng cho học
viên, để cho học tự tìm hiểu SGK, tự vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề nào đó
. Song đối với người thầy phải chủ đạo cố vấn, thiết kế, xây dựng chương trình kế

1.2.2.1 Phân loại theo nội dung
Có thể chia làm hai loại:
- Bài tập có nội dung lịch sử Đó là những bài tập, những câu hỏi chứa đựng những
kiến thức có đặc điểm lịch sử, những dữ liệu về thí nghiệm, về những phát minh, sáng
chế hoặc về những câu chuyện có tính chất lịch sử.
- Bài tập có nội dung cụ thể và trừu tượng Bài tập có nội dung cụ thể là bài tập trong
đó dữ liệu của đầu bài là cụ thể và người học có thể tự giải chúng dựa vào vốn kiến thức
cơ bản đã có. Ưu điểm chính của bài tập cụ thể là tính trực quan cao và gắn vào đời sống.
Bài tập có nội dung trừu tượng là những bài tập mà dữ liệu đã cho là không cụ thể, nét
nổi bật của bài tập trừu tượng là bản chất vật lý được nêu bật lên, nó được tách ra không
lẫn lộn với các chi tiết không cơ bản.
- Bài tập có nội dung theo phân môn. Trong vật lý học người ta phân ra các chuyên
ngành nhỏ để nghiên cứu và bài tập cũng được xếp loại theo các phân môn.
- Bài tập có nội dung kỹ thuật tổng hợp. Đó là các bài tập mà số liệu dữ kiện gắn với
các số liệu thực tế trong các ngành kỹ thuật, công nghiệp, các bài tập này có ứng dụng
thực tế.
1.2.2.2 Phân loại theo cách giải
Có thể chia ra thành hai loại:
- Bài tập định tính: Đây là loại bài tập mà việc giải không đòi hỏi phải làm một phép
tính nào hoặc chỉ là những phép tính đơn giản có thể nhẩm được. Muốn giải bài tập này
phải dựa vào khái niệm, những định luật vật lý đã học, xây dựng những suy luận lôgic, để
xác lập mối liên hệ phụ thuộc vào bản chất giữa các đại lượng vật lý.Bài tập định tính có
Trang 82
tác dụng lớn trong việc củng cố những kiến thức đã học, giúp đào sâu hơn bản chất của
hiện tượng vật lý, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, rèn
luyện năng lực quan sát, bồi dưỡng tư duy lôgic. Vì vậy đây là loại bài tập có giá trị cao,
ngày càng được sử dụng nhiều hơn.
- Bài tập định lượng: Là bài tập mà khi giải nó phải thực hiện một loạt các phép tính
và thường được phân ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp. Bài tập tập
dượt là loại bài tập tính toán đơn giản, muốn giải chỉ cần vận dụng một vài định luật, một

1.2.3.1 Hoạt động giải bài tập vật lý
Mục tiêu cần đạt tới khi giải một bài toán vật lý là tìm được câu trả lời đúng đắn,
giải đáp được vấn đề đặt ra một cách có căn cứ khoa học chặt chẽ. Quá trình giải một bài
toán thực chất là tìm hiểu điều kiện của bài toán, xem xét hiện tượng vật lý được đề cập
và dựa trên các kiến thức về vật lý, tính toán để nghĩ tới mối liên hệ có thể của cái đã cho
và cái cần tìm sao cho thấy được cái phải tìm có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với
cái đã cho, từ đó đi đến chỉ rõ được mối liên hệ tường minh trực tiếp của cái phải tìm với
cái vơi cái đã biết nghĩa là đã tìm được lời giải đáp cho bài toán đặt ra. Hoạt động giải bài
toán vật lý có hai phần việc cơ bản quan trọng là:
+ Việc xác lập các mối liên hệ cơ bản, cụ thể dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lý
vào điều kiện cụ thể của bài toán đã cho.
+ Sự tiếp tục luận giải, tính toán, đi từ mối liên hệ đã xác lập được đến kết quả cuối
cùng của việc giải đáp vấn đề được đặt ra trong bài toán đã cho. Sự nắm vững lời giải
một bài toán vật lý phải thể hiện ở khả năng trả lời được câu hỏi: Việc giải bài toán này
cần xác lập được mối liên hệ nào? Sự xác lập các mới liên hệ cơ bản này dựa trên sự vận
dụng kiến thức vật lý nào? Vào điều kiện cụ thể gì của bài toán? Đối với bài tập định
tính, ta không phải tính toán phức tạp nhưng vẫn cần phải có suy luận lôgic từng bước đi
để đến kết luận cuối cùng.
1.2.3.2 Phương pháp giải bài tập vật lý
Xét về tính chất của các thao tác tư duy khi giải các bài tập vật lý người ta thường
dùng hai phương pháp sau.
Phương pháp phân tích Theo phương pháp này điểm xuất phát là các đại lượng cần
tìm. Người giải phải tìm xem đại lượng chưa biết này có liên quan gì với các đại lượng
vật lý khác, và khi biết được sự liên hệ này thì biểu diễn nó thành những công thức tương
ứng, cứ làm như thế cho tới khi nào biểu diễn được hoàn toàn đại lượng cần tìm bằng
những đại lượng đã biết thì bài toán đã được giải xong.
Trang 84
Như vậy phương pháp này thực chất là đi phân tích một bài toán phức tạp thành
những bài toán đơn giản hơn rồi dựa vào những quy tắc tìm lời giải mà lần lược giải các
bài tập này, từ đó đi đến lời giải cho bài toán phức tạp trên.

Để có thể xác nhận kết quả cần tìm, cần kiểm tra lại việc giải theo một hoặc một số
cách sau đây?
- kiểm tra xem đã tính toán đúng chưa
- Kiểm tra xem thư nguyên có phù hợp hay chưa
- Kiểm tra kết quả bằng thực nghiệm xem có phù hợp hay chưa
- Giải bài toán theo các cách khác xem có giống kết quả hay không
Tuy nhiên trong nhiều bài tập, không nhất thiết phải tách bạch một cách cứng nhắc
giữa bước 2 và bước 3. Tùy từng bài toán mà ta có thể kết hợp hai bước này trong tiến
hành luận giải.
1.3 Vai trò của bài tập vật lý trong việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức
1.3.1 Vai trò của việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức trong dạy học vật lý
Trong quá trình giảng dạy, việc củng cố và hệ thống hoá kiến thức là một vấn đề rất
quan trọng, có thể là củng cố, hệ thống một kì, cả năm hoặc một chương với mục đích là:
- Trên cơ sở củng cố, hệ thống hóa kiến thức thầy vạch lại cho học viên thấy sự liên
quan logic giữa các kiến thức đã học. Thấy được những vấn đề cơ bản nổi lên trên chuỗi
các kiến thức trong chương, hoặc trong phần giáo trình. Chính vì vậy củng cố, hệ thống
hóa kiến thức không phải chỉ là nhắc lại kiến thức một cách đơn giản mà phải làm nổi rõ
vấn đề quan trọng, những điểm cần ghi nhớ hay nói cách khác ôn tập có sự nâng cao.
- Từ mục đích, yêu cầu của củng cố, hệ thống hóa kiến thức, thêm nữa thời gian quy
định cho công việc này lại rất ít cộng với tình hình thực tại của các lớp học viên, để cho
việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức có kết quả đòi hỏi phải chuẩn bị rất công phu.
1.3.2 Vai trò của bài tập vật lý trong việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức
Việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức không chỉ giúp học viên hiểu được một cách
sâu sắc và đầy đủ những kiến thức quy định trong chương trình mà còn giúp các em vận
dụng những kiến thức đó để giải quyết những nhiệm vụ của học tập và những vấn đề mà
thực tiễn đã đặt ra. Muốn đạt được diều đó, phải thường xuyên rèn luyện cho học viên
những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào cuộc sống hằng ngày. Kỹ năng vận dụng
kiến thức trong bài tập và trong thực tiễn đời sống chính là thước do mức độ sâu sắc và
vững vàn của những kiến thức mà học viên đã thu nhận được. Bài tập vật lý với chức
năng là một phương pháp dạy học có một vị trí đặc biệt trong dạy học vật lý ở trường phổ

vững chắc của kiến thức sẽ lớn nhất khi “tình huống có vấn đề” được tạo ra, trong nhiều
trường hợp nhờ tình huống này có thể làm xuất hiện một kiểu bài tập mà trong quá trình
giải người học sẽ phát hiện lại quy luật vật lý chứ không phải tiếp thu quy luật dưới hình
thức có sẵn. Bài tập là một phương tiện hình thành các khái niệm. Bài tập là một phương
Trang 87
tiện phát triển tư duy vật lý cho người học. Việc giải bài tập làm phát triển tư duy lôgic,
sự nhanh trí. Trong quá trình tư duy có sự phân tích và tổng hợp mối liên hệ giữa các đại
lượng vật lý đặc trưng. Bài tập là một phương tiện rèn luyện kỹ năng vận dụng các kiến
thức của người học vào thực tiễn. Đối với việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp bài tập vật lý
có ý nghĩa rất lớn, những bài tập này là một trong những phương tiện thuận lợi để người
học liên hệ lý thuyết với thực hành, học tập với đời sống.
1.4.1 Các kỹ năng cần rèn luyện trong quá trình tự học của học viên giáo dục
thường xuyên
Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện một hệ thống các thao tác tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động tự học trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động
đó. Có bao nhiêu loại hình học tập thì có bấy nhiêu loại hình kỹ năng chuyên biệt. Các
nhà nghiên cứu đã phân chia các kỹ năng tự học theo nhiều cách khác nhau. Theo nhóm
nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, kỹ năng tự học
có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế
(lập kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá,
rút kinh nghiệm. Tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói
chung và của học viên GDTX nói riêng gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực
hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá.
Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi phân chia hoạt động tự học bao gồm các
nhóm kỹ năng cơ bản sau:
Trang 88
1.4.1.1 Kỹ năng định hướng
Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thành công người học cần thiết lập cơ sở định
hướng của hành động. Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng
nó để thực hiện một hành động xác định nào đó. Nó có chức năng nhận thức đối tượng,

học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình
huống, viết bài thu hoạch…
- Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri
thức thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối
cùng của quá trình tiếp nhận tri thức.
1.4.1.4 Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Khi người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá
được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa
làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục. Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh
giá, học sinh cần:
- Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi, dự
kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc
trước lớp để tìm ra chỗ sai từ đó khắc phục.
- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè.
- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm sau đó
tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm…
1.4.2 Phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường
xuyên thông qua hoạt động giải bài tập vật lý
1.4.2.1 Giải pháp chung
Phát huy tiềm năng giáo dục
- Tiềm năng kiến thức :
Mỗi đơn vị kiến thức cung cấp cho học viên (Nội dung của SGK) thường ẩn chứa
nhiều tiềm năng giáo dục. Thông qua việc tiếp nhận kiến thức học viên được giáo dục về
tư tưởng, giáo dục về thế giới quan nhân viên quan duy vật biện chứng, Điều đó thể hiện
khi hình thành cho học viên những định nghĩa , định luật vật lý. Bên cạnh đó còn giáo
dục cho các em những văn hoá khoa học: Tính đúng đắn, chính xác, gọn gàng, chặt chẽ ,
xúc tích….
- Tiềm năng của học :
+ Thông thường chúng ta thường nói “để học tốt phải có tố chất tốt” ( ý nói là trí
thông minh ).

của từng đối tượng học viên
- Về kỹ năng sư phạm: Lời nói trong quá trình giảng dạy môn vật lí giáo viên dùng
lới nói để diễn tả phân tích hiên tượng , phát biểu định luật, định nghĩa …hoặc hướng dẫn
Trang 91
học viên. Lời nói của giáo viên có tác dụng quyết định đến nhận thực của học viên do đó
lời nói phải chính xác, rành mạch gọn gàng đầy đủ. Giọng nói , nhịp điệu phải thích hợp
để lôi cuốn được người nghe
- Thí nghiệm thực hành: Đối với môn vật lý thông thường kết luận , định luật , ….
Điều rút ra từ kết quả thí nghiệm. Do đó kỹ năng hướng dẫn làm thí nghiệm của giáo
viên là hết sức quan trọng, là điều kiện cần và đủ để học viên làm thí nghiệm thành công
từ đó thuyết phục hấp dẫn cho học viên thông qua đó học hình thành kỹ năng và nắm bắt
kiến thức một cách cách chắc chắn và bền vững. Quyết định thành công của một bài lên
lớp đối với môn vật lý.
- Gieo vấn đề: Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình giảng dạy để học viên suy
nghĩ , tìm tòi và thấy có nhu cầu bức xúc cần phải giải quyết vấn đề mà người thầy đề ra,
từ đó kích thích sự ham hỏi , ham khám phá một vấn đề mới mà mình chưa biết. Đặt vấn
đề thường được dùng khi giới thiệu bài mới , chuyển ý từ các phần, hoặc từ thí nghiệm
giáo viên gieo vấn đề yêu cầu học viên phải tự giải quyết vấn đề đó.
- Sử dụng các dụng cụ phương tiện dạy học: Giáo viên phải hướng dẫn được học
viên biết sử dụng các dụng cụ dạy học , các em phải biết làm được thí nghiệm .
+ Ví dụ học phải biết mắc được mạch điện theo sơ đồ , biết các dụng cụ đo như
ampe kế, vôn kế, sử dụng thước, sử dụng cân, sử dụng bình chia độ …
+ Khi học viên tự làm thí nghiệm sẽ giúp các em nắm vững được kiến thức, đồng
thời kích thích sự tưởng tượng, hứng thú cũng như say mê trong việc nghiên cưú khoa
học.
+ Trong điều kiện hiện nay trước chương trình SGK mới nói chung đồ dùng khá
đầy đủ, đôi lúc đồ dùng giáo viên chưa được làm quen. Vậy để khai thác đồ dùng dạy
học có hiểu quả giáo viên cần phải nghiêm túc nghiên cứu đồ dùng trước, nếu làm được
như vậy thì kết quả thí nghiệm trong một giờ lên lớp sẽ đạt hiệu quả. Bên cạnh kỹ năng
làm thí nghiệm giáo viên cần trao dồi các kỹ năng khác như: xử lí các tình huống sư

quan trọng, giúp HV tự mình tìm hiểu trước nội dung cần học. Qua việc nghiên cứ trước
SGK giúp học viên có thể phát hiện được kiến thức mới đồng thới sẽ nảy viên những thắc
mắc, những vấn đề cần tìm hiểu để có yêu cầu tự giải quyết vấn đề đó.
Đọc SGK thể hiện ở hai bước: đọc ở nhà, đọc ở lớp. Khó khăn của dạng này giáo
viên không thể kiểm tra được, học viên không tự lọc ra được những vấn đề quan trọng
khi đọc, đôi khi học viên lại chú ý những thứ yếu và đi ra ngoài tầm mắt những luận đề
cơ bản. Để việc tạo điều kiện cho học viên tự đọc sách có hiểu quả, giáo viên cần đưa ra
câu hỏi, những vấn đề có liên quan đến bài học, đồng thời đưa ra câu hỏi mới phù hợp
trước khi đọc sách chứ không phải sau khi đọc. Từ đó định hướng cho học viên vấn đề
Trang 93
chủ yếu trong bài học. Như vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần tập cho học viên
nghiên cứu tư liệu và dần dần học viên đạt được kỹ năng làm việc với sách một cách
hoàn toàn độc lập chứ không còn trông chờ vào yêu cầu của giáo viên. Trên cơ sở đó học
viên tìm thấy điều căn bản trong sách phát hiện được sự tương quan giữa các đơn vị kiến
thức theo một hệ thống lôgic.
- Trong thực tế trên thị trường có rất nhiều tài liệu tham khảo cho học viên tự đọc,
các em không biết chọn tài liệu nào là phù hợp do đó giáo viên cần hướng dẫn giớ thiệu
cho học viên đọc tài liệu tham khảo nào phục vục cho việc bổ ích cho học tập tránh tình
trạng loạn sách .
d. Hướng dẫn làm việc ở nhà
Làm việc ở nhà là một trong những yếu tố cần thiết nhằm giúp cho tự củng cố, tự
đào sâu, tự mở rộng, tự khám phá kiến thức. Những công việc tự học ở nhà của học đối
với môn vật lý đó là ôn tập nắm vững kiến thức đã học ở trên lớp, hệ thống hóa kiến thức
đã học, lập bảng biểu, lập bảng báo cáo thí nghiệm cho bài sau , vận dụng kiến thức đã
học để giải bài tập do giáo viên yêu cầu, đối với học viên khá , giỏi cần phải đưa ra bài
tập khó – bài tập nâng cao. Với mỗi học viên việc học tập ở nhà còn thể hiện ở chỗ tự
làm lại thí nghiệm đã làm trên lớp, biết tìm hiểu dụng cụ làm thí nghiệm và cách tiến
hành làm cho bài sau sắp học thông qua nội dung kênh hình hướng dẫn trong sách.
Để học viên làm việc ở nhà có hiệu quả giáo viên phải có những hướng dẫn, yêu
cầu cụ thể, tránh yêu cầu chung chung, hình thức, đồng thời phải thường xuyên kiểm tra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status