Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trong dạy học chương sóng ánh sáng vật lý 12 theo định hướng phát huy tính tích cực của học sinh - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐẶNG THỊ THANH PHƯƠNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “SÓNG ÁNH SÁNG” VẬT LÍ 12
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ Hà Nội - 2015 ii

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Trường Đại Học Giáo
Dục - Đại Học Quốc Gia Hà Nội, đặc biệt các thầy cô giáo trong khoa: Lý
luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý đã giúp em hoàn thành khóa học
này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Bùi Văn Loát -
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH các thầy cô giáo trong nhóm Vật lí
của hai trường THPT Lý Thường Kiệt và THPT Quang Trung - TP Hải Phòng
cùng các em học sinh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành thực nghiệm
đề tài.
Xin cảm ơn gia đình bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ để tôi hoàn
thành khóa học này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không tránh khỏi thiếu sót.
Kính mong được sự chỉ dẫn của các nhà khoa học, quý thầy cô và các bạn
động nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả Đặng Thị Thanh Phương


i
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt

ii
Mục lục

iii
Danh mục các bảng

vi
Danh mục hình vẽ

vii
MỞ ĐẦU

1
1.Lý do chọn đề tài

1
2. Mục đích nghiên cứu

4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu

4
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4
5. Vấn đề nghiên cứu


20
1.2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của trắc nghiệm

20
1.2.2. Các hình thức trắc nghiệm khách quan sử dụng trong đề tài

21
1.2.3. Nguyên tắc biên soạn câu hỏi trắc nghiệm

24 v
1.3. Cơ sở lí luận của việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

26
Kết luận chương 1

29
Chương 2: SOẠN THẢO VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU
HỎI TRẮC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ SÓNG
ÁNH SÁNG” VẬT LÍ 12 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH

30
2.1. Phân tích cấu trúc nội dung chương “ Sóng ánh sáng”

30
2.1.1. Mục tiêu cơ bản chung của chương “ Sóng ánh sáng”


55
2.4.5. Bài số 5: Bài tập

61
2.4.6. Bài số 6: Các loại quang phổ

65
2.4.7. Bài học 7: Bài tập

71
2.4.8. Bài học 8: Tia hồng ngoại và tia tử ngoại

76
2.4.9. Bài học 9: Tia X

82
2.4.10. Bài học 10: Ôn tập tổng hợp chương V

85 vi
2.4.11. Bài học 11: Kiểm tra 45 phút

87
Kết luận chương 2

89
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM


97
1.Kết luận

97
2. Khuyến nghị

97
TÀI LIỆU THAM KHẢO

98
PHỤ LỤC

101 vii
DANH MỤC CÁC BẢNG


Sơ đồ 2.1. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương” Sóng ánh sáng” 31
Đồ thị 3.1. Đồ thị tần suất điểm bài kiểm tra 45 phút sau TN 96 1

2
dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Bởi “Muốn có chủ nghĩa xã hội trước hết phải có
con người mới xã hội chủ nghĩa”. Đó là những con người phát triển toàn diện
cả về đức và tài, phát triển về thể lực, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, có kỹ năng
lao động giỏi, có ý chí và bản lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đất
nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, sự nghiệp giáo dục - đào tạo với vị trí, vai
trò của mình là phải đi trước một bước. Hơn bao giờ hết, trong giai đoạn hiện
nay, việc chuẩn bị nhân tài, lực lượng lao động cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, là sự đầu tư vừa cơ bản, vừa lâu dài, vừa cấp bách. Trước
những đòi hỏi đó, vai trò của người thầy càng có ý nghĩa. Sứ mệnh, nhiệm vụ
của những nhà giáo hơn lúc nào hết rất nặng nề và người thầy hơn ai hết hiểu
rõ mình cần phải tạo dựng những phẩm chất và năng lực để tự khẳng định
nhằm cống hiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc nói chung, sự nghiệp giáo dục -
đào tạo nói riêng.
Thực hiện theo những định hướng đổi mới đã được xác định trong các
nghị quyết Trung ương được thể chế hoá trong Luật giáo dục và được cụ thể
hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật Giáo dục, điều
28.2 đã ghi“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,tự
giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh”.[8]. Một trong những giải
pháp hữu hiệu nhằm thực hiện những mục tiêu trên là đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng tích cực.Vì vậy, dạy học phát huy tính tích cực của học
sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng của giáo dục phổ thông hiện nay.
Thực tiễn dạy và học môn vật lý trong nhà trường THPT hiện nay cho
thấy, đa số giáo viên đã nắm được vấn đề cốt lõi của đổi mới dạy và học
hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động,
nên đã và đang thực hiện theo tinh thần đó. Tuy nhiên, việc thực hiện này

phát huy tích tích cực học tập cao nhất của học sinh.

4
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trong dạy học
chương “ Sóng ánh sáng” Vật Lí 12 theo định hướng phát huy tính tích cực
của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lý trong giai đoạn
hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những luận điểm về phát huy tính tích cực của học sinh
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp trắc nghiệm khách quan.
- Soạn thảo phương án dạy học trong từng tiết cụ thể của chương “Sóng
ánh sáng” Vật lí 12 kết hợp sử dụng câu hỏi trắc nghiệm theo định hướng phát
huy tính tích cực học tập của học sinh.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở hai trường THPT thành phố Hải
Phòng nhằm xác định mức độ phù hợp, tính khả thi và tính hiệu quả của việc
sử dụng câu hỏi trắc nghiệm trong dạy học chương “ Sóng ánh sáng” Vật Lí
12 theo định hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
- Đề xuất một số ý kiến, nhận xét.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 12 trong quá trình học tập
chương “ Sóng ánh sáng”.
Đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học chương “Sóng ánh sáng”
theo hướng xây dựng các phương án dạy học sử dụng câu hỏi trắc nghiệm
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
5. Vấn đề nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trong dạy học
chương “Sóng ánh sáng” Vật Lí 12 như thế nào để phát huy tính tích cực của
học sinh?
6. Giả thuyết khoa học

xác định nội dung, kiến thức, cấu trúc logic mà học sinh cần nắm vững trong
chương “Sóng ánh sáng” Vật lí 12. Nghiên cứu các dạng câu hỏi trắc nghiệm
trong các kỳ thi, trong các tài liệu tham khảo thuộc kiến thức của chương

6
“Sóng ánh sáng” Vật lí 12.
- Tìm hiểu thực tế dạy học thông qua dự giờ, trao đổi với GV, sử dụng
phiếu điều tra ở một số trường THPT, phân tích kết quả và đề xuất nguyên
nhân của những khó khăn, sai lầm và hướng khắc phục.
9.3 Phương pháp xử lý thông tin:
- Tiến hành dạy học chương “Sóng ánh sáng” Vật lí 12 theo định hướng
phát huy tính tích cực của HS với sự kết hợp câu hỏi trắc nghiệm
- Phân tích tình hình diễn biến cụ thể qua các tiết học trên lớp.
- Xử lí số liệu và phân tích kết quả kiểm tra.
- Đề xuất những nhận xét sau thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính khả thi
của đề tài. Phân tích những ưu, nhược điểm, điều chỉnh lại cho thật phù hợp.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm theo định
hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Vật lý.
Chương 2: Soạn thảo và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trong dạy
học chương” Sóng ánh sáng” Vật lí 12 theo định hướng phát huy tính tích cực
của học sinh.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức. Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình
nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết đến
mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được. Tuy nhiên, trong học
tập học sinh cũng “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân dưới sự tổ
chức và hướng dẫn của GV. Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được
qua hoạt động nỗ lực của chính mình. Nhưng khi đạt tới một trình độ nhất định thì sự
học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng có thể tạo ra.

8
Tích cực là một phẩm chất tâm lí vô cùng quan trọng quyết định sự thành
công của mọi cá nhân trong mọi loại hoạt động và quyết định sự hoàn thiện không
ngừng của nhân cách trong quá trình hoạt động thực tiễn. Có thể nói tích cực là sản
phẩm mà giáo dục có thể đạt được bằng các tác động giáo dục có mục đích, là phẩm
chất cần phát huy càng sớm càng tốt ở mỗi người thông qua giáo dục. Giáo dục có
thể tạo điều kiện tốt cho việc phát huy tính tích cực và làm cho nó trở thành phẩm
chất tốt đẹp của mỗi cá nhân. Nhưng ngược lại, giáo dục nếu không quan tâm đầy
đủ và đúng đắn đến vấn đề này có thể gây nên tác động tiêu cực làm ảnh hưởng,
thậm chí thui chột tính tích cực vốn có của cá nhân, làm cho người học trở lên thụ
động, thiếu tự tin, ảnh hưởng đến sự hoàn thiện nhân cách lâu dài. Phát huy tính tích
cực học tập vì thế vì thế là mục tiêu có tính khả thi mà việc dạy học ở mọi cấp học,
bậc học ngày nay hướng tới.
Tính tích cực là điều kiện cần cho sự phát triển tư duy độc lập và tư duy sáng
tạo, mặc dù mức độ độc lập của tư duy và sự sáng tạo của mỗi học sinh còn tùy
thuộc vào nhiều đặc điểm mang tính cá nhân, vì thế rất khác nhau với các học sinh
khác nhau. Mức độ phát triển của tư duy và óc sáng tạo không thể hoạch định trong
mục tiêu giáo dục, không thể đòi hỏi mọi HS cùng đạt tới một chuẩn mực nào đó
nhưng dạy học cần tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của hai yếu tố này. [13]
1.1.1.2. Những biểu hiện của tính tích cực
- Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên đặt ra, tích cực bổ sung các câu

Có thể tóm tắt các biện pháp để phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
của học sinh như sau:
- Nội dung dạy học phải mới, cái mới ở đây không phải là xa lạ quá đối với
học sinh, cái mới phải liên hệ với cái cũ; kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi
với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của các em.
- Phương pháp dạy học phải đa dạng (phát hiện và giải quyết vấn đề, thí
nghiệm, thực hành, so sánh, làm việc độc lập…) và phối hợp chúng với nhau. Cần
tạo điều kiện cho học sinh được làm thí nghiệm hoặc quan sát thí nghiệm: trong quá
trình học sinh tự làm hoặc quan sát, dự đoán, phân tích, lí giải thí nghiệm học sinh
sẽ tự xây dựng và chiếm lĩnh kiến thức cho mình đồng thời tăng thêm sự hứng thú
đối với môn học.
- Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, đặc biệt là các dụng cụ trực quan,
các quá trình mô phỏng bằng hình ảnh, video, phần mềm, trình chiếu. Nếu giáo viên

10
khai thác tốt (kết hợp với kĩ thuật thuyết trình và phát vấn) và sử dụng hợp lí (vừa
mức, không sa đà) thì hiệu quả giờ học sẽ rất cao đồng thời học sinh sẽ rất hứng thú.
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập thể,
làm việc trong phòng thí nghiệm….
- Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực
và hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
- Khen ngợi học sinh đúng lúc và đúng chỗ (sau khi học sinh trả lời câu hỏi,
có thể cho điểm thưởng). Khuyến khích học sinh nêu câu hỏi để hỏi lẫn nhau hoặc
hỏi ngược lại giáo viên (có thể thưởng điểm nếu câu hỏi hay). Hài hước và tế nhị
trong nhắc nhở học sinh. Tuyệt đối không mạt sát xúc phạm học sinh.
- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa thầy và trò. Trong
quá trình giảng dạy sử dụng ngôn từ tự nhiên, sinh động, không khô khan, cứng
nhắc, không quá nhiều thuật ngữ phức tạp, khó hiểu (có thể thay thế bằng từ hoặc
cụm từ khác dễ hiểu hơn miễn là chính xác).
- Kể thêm các câu chuyện bên ngoài có liên quan đến nội dung bài học như chuyện

học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo
phương pháp thụ động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy
chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới
cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực
hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng
hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng,
vẫn quen với lối học tập thụ động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy
hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một
cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp
tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì
mới thành công. Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt
với "Dạy và học thụ động".[18], [21]
1.1.2.2. Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động
học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều
mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp
đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan

12
sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình,
từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến
thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy
tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt
tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học
sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh
không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy

lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp
giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ
không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ,
uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác
trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự
phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện
nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một
mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh.
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận
định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều
chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học
sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động
kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải
trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo
những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra,
đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã
học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những
tình huống thực tế.
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là
một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn
để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.

14
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế,
tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực

sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các
phương tiện nghe - nhìn.
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi
được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật,
tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Giáo
viên tổ chức sự trao đổi ý kiến - kể cả tranh luận - giữa thầy với cả lớp, có khi giữa
trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên
giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện
kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của
sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy.
b. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh
gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn
là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh.
Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp
phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ
có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục
và đào tạo. Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và
giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết;
+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết.
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;

góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm
trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình
bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status