Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
********
Mã số :……………..
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH
VÀ PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG
DẠY HỌC MÔN GDCD 10
Người thực hiện: Phạm Thị Dinh
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn: GDCD
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác:
E-mail:
7. Chức vụ: Tổ trưởng Tổ GDCD
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Sông Ray
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân khoa học.
- Năm nhận bằng: 2009
- Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục Chính trị.
III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy
- Số năm có kinh nghiệm: 7 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Sử dụng phương pháp dự án trong Hoạt động giáo dục Hướng nghiệp ở bậc
THPT.
Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn GDCD bậc THPT
Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn
GDCD 12
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Trang 2
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
MỤC LỤC
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT........................................................................Trang 4
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .............................................................................Trang 5
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI..................................Trang 6
PPDH
Phương pháp dạy học
PPTT
Phương pháp thuyết trình
PPTQ
Phương pháp trực quan
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
SGK
Sách giáo khoa
CNTT
Công nghệ thông tin
THPT
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh”.
Môn GDCD giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho học sinh ý thức và hành
vi của người công dân, góp phần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất
và năng lực cần thiết của người công dân trong một xã hội dân chủ, công bằng văn
minh.
Ở cấp học phổ thông, môn GDCD là một trong những môn học cơ bản góp phần
tạo nên nội dung dạy học, giáo dục toàn diện. Là môn học trực tiếp giáo dục cho học
sinh những tri thức theo một hệ thống xác định, toàn diện về thế giới quan, nhân sinh
quan. Từ đó giúp học sinh hiểu được những quy luật phát triển tất yếu khách quan của
xã hội loài người, giúp học sinh nhận thức đúng đắn các quy luật phát triển của tự
nhiên, xã hội. Dạy học môn GDCD là nhằm chuyển các giá trị xã hội thành nhận thức,
tình cảm, niềm tin và hành vi tích cực ở học sinh. Muốn vậy dạy học GDCD là một
quá trình tổ chức, sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học sao cho phù hợp với
yêu cầu của thực tiễn.
Phương pháp và hình thức dạy học môn GDCD rất phong phú, đa dạng: bao gồm
cả phương pháp hiện đại và phương pháp truyền thống. Mỗi phương pháp đều có mặt
mạnh và hạn chế riêng. Phương pháp dạy học theo hướng tích cực không có nghĩa là
bác bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống; vấn đề là
cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của phương pháp dạy học hiện có đồng thời
phải vận dụng một số phương pháp dạy học mới một cách sáng tạo và linh hoạt nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập phù hợp với hoàn cảnh, điều
kiện dạy học cụ thể…
Trong những năm qua, hưởng ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Ngành,
Trường THPT Sông Ray đã hết sức quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn cả về mặt khách quan và
chủ quan.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: Kết hợp phương pháp thuyết trình và
phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10 là đề tài sáng kiến kinh
để giúp HS hiểu các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật. Dạng thuyết trình này
đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các PPDH bộ môn. Trong dạy học GDCD,
dạng này thường được sử dụng khi dạy những tri thức mới hoặc khó của bài. Bởi vì
xuất phát từ đặc thù tri thức của bộ môn, mỗi bài học bao giờ cũng gắn liền với các
khái niệm, phạm trù, do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp, trong khi
giảng giải, GV có thể kết hợp giảng giải với các PPDH khác như đàm thoại, nêu vấn
đề,... với sự hỗ trợ của các phương tiện trực quan.
- Diễn giảng là một dạng thuyết trình, trong đó thông qua lời giảng của mình, GV
giúp HS tiếp thu được khối lượng tri thức tương đối lớn theo một hệ thống lôgic chặt
chẽ. Trong dạy học GDCD, diễn giảng thường được áp dụng đối với những bài có nội
dung tri thức phức tạp, khó, trừu tượng, khái quát cao. Ngoài ra, quá trình sử dụng
phương pháp cũng cần kết hợp nhuần nhuyễn với các PPDH khác, nhất là phương
pháp đàm thoại với hệ thống câu hỏi dẫn dắt và phương pháp nêu vấn đề với việc đặt
ra và giải quyết tình huống. Một bài diễn giảng thường được tiến hành theo trình tự ba
bước:
+ Mở đầu (GV giới thiệu nội dung tri thức cần tiếp thu dưới dạng một yêu cầu
hoặc một tình huống có vấn đề).
+ Trình bày nội dung chính (GV lần lượt triển khai các nội dung của tri thức
một cách logic, chặt chẽ để giải quyết vấn đề).
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Trang 6
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
+ Kết thúc (GV khái quát và nhấn mạnh những nội dung cơ bản mà HS cần
nắm vững).
- Kể chuyện là một dạng của phương pháp thuyết trình, trong đó GV dùng lời nói
việc nghiêm túc, nhiệt tình, lối ứng xử thân tình, gần gũi HS.
- Lời giảng cần chính xác, rõ ràng và đạt tới sự biểu cảm (kết hợp sắc thái tình
cảm, cử chỉ với ngữ điệu của lời nói...)
- Tốc độ và cường độ của lời giảng phải phù hợp với đặc điểm tri thức của bài
học, đối tượng nhận thức.
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Trang 7
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
- Khi sử dụng phương pháp thuyết trình cần phải nghiên cứu kỹ mục tiêu, chuẩn
kiến thức, kỹ năng và nội dung của bài học để xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và
lựa chọn những nội dung thiết thực nhất đưa vào giảng dạy. Trên cơ sở xác định kiến
thức cơ bản, trọng tâm của bài dạy, căn cứ vào thời gian lên lớp, trình độ của đối
tượng, mục tiêu và chuẩn kiến thức của từng bài, giáo viên sẽ xác định và lựa chọn
những nội dung phải nói, cần nói và nên nói tương ứng với những gì người học phải
biết, cần biết và nên biết.
- Sử dụng các thao tác tư duy lôgíc (diễn dịch, quy nạp, làm rõ nội hàm các khái
niệm, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,... ) để giúp HS khai thác
sâu nội dung bài học.
- Kết hợp với các PPDH khác một cách linh hoạt và khai thác sự hỗ trợ của các
phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin.
1.1.3. Phương pháp trực quan
a. Khái niệm
Trực quan là PPDH trong đó GV sử dụng các phương tiện tác động trực tiếp đến
cơ quan cảm giác của HS giúp các em tiếp thu tri thức của bài học một cách nhẹ
nhàng, sinh động và hiệu quả.
huy tính tích cực trong quá trình lĩnh hội tri thức của HS.
- Giúp HS huy động sự tham gia của nhiều giác quan, phát triển năng lực chú ý,
quan sát, hình thành và bồi dưỡng trí tò mò khoa học của HS.
- Phù hợp với quá trình nhận thức của HS.
- Nếu sử dụng các sơ đồ một cách khoa học còn giúp HS nắm được tri thức một
cách khái quát, hệ thống.
* Hạn chế:
- Sử dụng sơ đồ trực quan dễ hình thành ở HS tư duy siêu hình, máy móc.
- HS bị phân tán chú ý, thiếu tập trung vào các dấu hiệu cơ bản nhất của sự tiếp
nhận tri thức, thậm chí còn làm hạn chế sự phát triển năng lực tư duy trừu tượng của
HS.
- Phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
e. Một số yêu cầu sư phạm
- Phải lựa chọn phương tiện trực quan phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của tiết học.
- Các tài liệu trực quan đưa ra cần đảm bảo tính chính xác, chân thực, rõ ràng.
Cần hết sức tránh sử dụng những tài liệu trực quan chưa được kiểm tra kĩ càng, không
đảm bảo độ tin cậy.
- Phải xác định được thời điểm sử dụng phương tiện sao cho thích hợp và hiệu
quả nhất.
- Sử dụng các phương tiện trực quan cần đúng địa chỉ, đúng chỗ, đúng thời điểm..
- Phải nắm vững các yêu cầu và cách thức sử dụng đối với từng loại phương tiện
trực quan.
- Nhanh chóng tiếp cận, khai thác các thành tựu mới nhất: các phần mềm dạy
học, internet... vào dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao hơn.
- Không được lạm dụng các phương tiện trực quan.
1.2 Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp trực quan trong dạy học
môn GDCD lớp 10.
Khi bàn về khái niệm kết hợp, Từ điển Tiếng Việt viết: “Kết hợp là gắn với
nhau để bổ sung cho nhau”. Do đó trong dạy học môn GDCD lớp 10 kết hợp phương
pháp thuyết trình với phương pháp trực quan được hiểu là gắn phương pháp thuyết
kiến thức trong một thời gian ngắn với lối thuyết trình khô khan thiếu sinh động,
những hình ảnh, biểu đồ sẽ giúp học sinh cảm thấy hứng thú học tập hơn, đảm bảo
tiếp thu kiến thức có bản nhất đi từ trừu tượng đến cụ thể, kích thích sự chủ động rất
cao của học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Về dạy học môn GDCD lớp 10
Qua trao đổi và tìm hiểu, tất cả các GV đều cho rằng kết hợp PPTT với PPTQ
đem lại động lực dạy và học cho cả GV và HS. GV tìm tòi, đầu tư hơn trong dạy học,
đồng thời HS cũng hứng thú hơn trong học tập, hạn chế được mức thấp nhất những
điểm yếu của PPTT và phát huy ở mức cao nhất những điểm mạnh của PPTQ làm cho
bài học nhẹ nhàng hơn và kiến thức mà HS lĩnh hội được cũng ở mức cao nhất.
Bảng 1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc kết hợp PPTT với PPTQ trong
dạy học môn GDCD lớp 10
STT
Mức độ
Số lượng
Tỷ lệ %
1
Rất cần thiết
6
100%
2
Mức độ
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Số lượng
Tỷ lệ %
Trang 10
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
1
Thỉnh thoảng
0
0
2
Thường xuyên
6
100%
3
2
Là môn học phụ, học cũng được mà không 43
cũng được
21,50
3
Là môn học không thiết thực
13
26
Tỷ lệ %
(Nguồn: số liệu điều tra HS ở trường THPT Sông Ray tháng 9/2015)
Bảng 4 Mức độ tích cực của HS đối với giờ học môn GDCD
STT
Ở trên lớp, em tham gia phát biểu ý kiến, Số ý kiến
xây dựng bài, tranh luận, thảo luận như thế
nào trong tiết học môn GDCD
Tỷ lệ
1
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
vị trí môn GDCD, song về ý thức, thái độ học tập thì trái với nhận thức. Chỉ có
51,50% số HS có thái độ thường xuyên tham gia vào xây dựng bài, 16 % số HS đôi
khi tham gia vào xây dựng bài, còn lại 32,50% số HS không quan tâm đến môn học.
Như vậy giữa nhận thức về vai trò, vị trí của môn học và thái độ học tập của HS
có sự mâu thuẫn. Qua tìm hiểu tôi được biết nguyên nhân chủ yếu là do phương pháp
dạy học của GV chưa thật sự kích thích được sự hứng thú, tích cực, chủ động của HS.
Sự hứng thú là một yếu tố tạo nên tính tích cực của HS trong quá trình lĩnh hội
kiến thức. Để tìm hiểu mức độ đón nhận của HS khi được GV thực hiện kết hợp
PPTT với PPTQ cho HS khi học môn GDCD. Bằng phương pháp điều tra tôi thu
được kết quả như sau:
Bảng 5 Mức độ hứng thú của học sinh khi được GV tổ chức thực hiện PPTT
với PPTQ trong dạy học môn GDCD
STT
Thái độ
Số lượng
Tỷ lệ %
1
Rất hứng thú
104
phát huy tính chủ động, tích cực của HS trong quá trình tiếp thu kiến thức bài học.
III. GIẢI PHÁP VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI
PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN LỚP 10
1. Những yêu cầu cơ bản khi kết hợp phương pháp thuyết trình với phương
pháp trực quan trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 10
Để có thể có một phương pháp kết hợp tốt nhất điều cốt yếu đầu tiên giáo viên
cần phải tuân thủ những yêu cầu khi sử dụng phương pháp thuyết trình và phương
pháp trực quan, những yêu cầu ấy là tiền đề cho việc giáo viên dùng phương pháp
thuyết trình để kết hợp với phương pháp trực quan nhằm phát huy được tính tích cực
của học sinh, bên cạnh đó trong lúc thực hiện hai phương pháp kết hợp đòi hỏi giáo
viên cần phải tuân thủ những yêu cầu cơ bản sau :
Điều đầu tiên người giáo viên phải đảm bảo tính hệ thống trong khi kết hợp
các phương pháp, phải theo một hệ thống nhất định, phương pháp nào sẽ đưa vào dạy
trước và sau.
Tính vừa sức đối với việc ứng dụng các phương pháp dạy học vào dạy cho học
sinh là rất quan trọng, giáo viên phải lựa chọn phương pháp kết hợp phù hợp với đối
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Trang 12
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
tượng học sinh. Chẳng hạn, khi dạy đến bài : Thế giới quan và phương pháp luận biện
chứng, giáo viên không thể sử dụng ngay những phương pháp mới đối với học sinh
mới vừa lên cấp THPT và tùy vào trình độ, học lực của học sinh mà có cách truyền
thụ phù hợp nhất.
Trong khi tiến hành vận dụng sự kết hợp giáo viên cần phải phát huy tối đa
định mục tiêu bài dạy là rất quan trọng, nếu xác định mục tiêu không đúng sẽ dẫn đến
lựa chọn phương pháp, phương tiện sai lệch, hậu quả là bài dạy không đạt yêu cầu
giáo dục để ra. Chẳng hạn, khi dạy bài 3 ( GDCD 10) : “Sự vận động và phát triển của
thế giới vật chất”, mục tiêu của bài học này là giúp học sinh nắm được thế nào là vận
động, các hình thức vận động cơ bản, phát triển, trên cơ sở rèn luyện cho học sinh kĩ
năng quan sát vấn đề diễn ra xung quanh, xem xét mọi sự vật, hiện tượng trong sự
biến đổi không ngừng và luôn phát triển. Dựa vào mục tiêu này giáo viên sẽ dễ dàng
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Trang 13
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
đưa ra được những phương pháp dạy học thích hợp và có cách thức tổ chức lớp học tối
ưu nhất.
Xác định kiến thức trọng tâm bài giảng: Việc xác định đúng kiến thức trọng tâm
của bài sẽ giúp cho việc dạy của giáo viên trở nên thuận lợi và có chất lượng hơn vì
nếu xác định đúng trọng tâm ta sẽ phân phối thời gian dạy hợp lý hơn, cần đi sâu
giảng kiến thức trọng tâm tránh không xác định đúng sẽ dẫn đến dạy dàn trải, cháy
giáo án. Nếu làm được bước này giáo viên sẽ giúp học sinh nắm chắc kiến thức trọng
tâm và vận dụng kiến thức vào cuộc sống rất có hiệu quả.
Chuẩn bị đồ dùng dạy học, phương tiện dạy học: Là công việc không thể thiếu
trong một tiết dạy, việc chuẩn bị tốt đồ dùng và phương tiện dạy học sẽ làm tăng sự
hứng thú của học sinh khi học, có thể giúp học sinh thông qua bài học cùng với sự
củng cố bằng sơ đồ, biểu đồ hay lồng ghép tranh ảnh hiện thực sinh động rèn luyện kĩ
năng của mình và nắm vững trọng tâm của bài hơn.
Tham khảo tài liệu, giáo trình có liên quan: Để có một tiết dạy tốt điều đòi hỏi
rất lớn đối với người dạy, đó chính là chuyên môn và nghiệp vụ, trước khi dạy giáo
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
+ Giới thiệu bài mới (thời gian...)
+ Dạy bài mới (thời gian...)
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung cơ bản
.........................
.........................
Cụ thể hơn ở phần này sẽ được thực hiện ở bước 3
+ Củng cố (thời gian)
+ Dặn dò (thời gian)
Bước 3: Thực hiện kế hoạch bài giảng
Đây được xem là bước quan trọng, quyết định nhất cho chất lượng dạy học của
giáo viên. Việc thực hiện dạy học đúng với yêu cầu mục tiêu đặt ra không đơn giản
một chút nào cả. Trong tiến trình tiến hành dạy một bài giảng kết hợp các phương
pháp đòi hỏi giáo viên cần chú ý những yêu cầu sau đây :
- Sau khi đã chuẩn bị xong các khâu kế hoạch bài giảng, giáo viên bắt đầu đi
vào bài giảng trên lớp chính thức, điều đầu tiên giáo viên cần phải nắm vững kiến thức
cần truyền đạt, trình bày một bài giảng theo các bước nêu ở trên, trong từng bước cần
phải thực hiện kết hợp các phương pháp phù hợp với nội dung bài giảng. Bài giảng sẽ
được trình bày theo một lôgic, lịch sử vấn đề.
- Ngoài việc đảm bảo về nội dung và lôgic bài dạy, việc thống nhất lựa chọn
các phương pháp kết hợp trong bài dạy là một việc làm rất quan trọng, quyết định đến
chất lượng tiết học của học sinh. Vì vậy, cần lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng
đơn vị kiến thức và từng phần.
- Nắm được các thông tin, chứng minh được sự quan tâm của đảng và Nhà nước
ta đối với sự phát triển toàn diện của con người.
3. Về thái độ:
- Có ý thức vận dụng quy luật khách quan vào cuộc sống, học tập và hoạt động
hàng ngày.
II- Nội dung trọng tâm:
Tiết 1: Phân tích rõ được Con người là chủ thể của lịch sử.
III- Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:
Kết hợp PPTT với PPTQ
Ngoài ra có sử dụng một số phương pháp khác như: đàm thoại, nêu vấn đề, thảo
luận nhóm…
IV- Phương tiện dạy học: SGK, SGV, tài liệu Câu hỏi và BT GDCD 10; chuẩn bị
phiếu học tập, máy tính, máy chiếu.
V- Tiến trình bài học
1.Ổn định lớp-Kiểm tra sĩ số
2. Kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: Thực tiễn có vai trò như thế nào đối với nhận thức? Lấy ví dụ chứng minh.
3. Dạy bài mới.
GV giới thiệu bài: Khi nghiên cứu về quá trình phát triển của lịch sử, các nhà triết học
duy tâm cho rằng: Thần thánh, thượng đế đã tạo ra và quyết định sự phát triển của lịch
sử loài người. Dựa vào kết quả nghiên cứu khảo cổ học và nhiều ngành khoa học
khác, triết học duy vật biện chứng đã khẳng định: Giới tự nhiên có trước con người,
còn người và xã hội là sản phẩm của tự nhiên. Con người là chủ thể của lịch sử, là
mục tiêu phát triển của xã hội.
Hoạt động của thầy và trò
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Nội dung kiến thức cơ bản
từ vượn cổ thành người ?
GV: Những công cụ lao động có ý - Người tối cổ: biết sử dụng hòn đá,
nghĩa gì đối với sự ra đời và phát cành cây làm công cụ lao động.
triển của lịch sử xã hội ?
+ HS: Cả lớp trao đổi
- Người tinh khôn: Lúc đầu sử dụng
công cụ lao động bằng đồ đá, sau bằng
đồ kim loại.
+ GV: ghi nhanh ý kiến của HS lên
* Quá trình phát triển của xã hội.
góc bảng phụ
+ GV: Nhận xét, kết luận: Lịch sử - Người tối cổ sống theo bầy, đàn
loài người hình thành từ khi con trong hang động, núi đá, sau biết dựng
người biết lao động sản xuất. Nhờ chế lều.
tạo và sử dụng công cụ lao động, con
người đã tự tách mình ra khỏi thế giới
loài vật để chuyển sang thế giới loài
người.
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
- Người tinh khôn: Sống từng nhóm
nhỏ, có quan hệ họ hàng, dần hình
thành thị tộc, bộ lạc.
=> xã hội loài người ra đời.
Trang 17
cho xã hội ? ( Thuyết trình và có bảng
trình chiếu Power Point)
Mục tiêu: trình bày được con người là
chủ thể sáng tạo ra các giá trị vật
chất.
Cách thức tiến hành: Nhóm 1 cử đại Sản xuất lương thực, thực phẩm
diện thuyết trình, rút ra kết luận.
- Để tồn tại và phát triển con người
phải lao động sản xuất tạo ra của cải
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Trang 18
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
Nhóm khác nhận xét bổ sung, đặt câu vật chất để nuôi sống xã hội.
hỏi nếu có.
- Sản xuất ra của cải vật chất là đặc
GV: nhận xét, bổ sung, kết luận.
trưng chỉ có ở con người.
- Là kết quả quá trình lao động và
sáng tạo của con người.
Tư liệu sinh hoạt, hàng tiêu dùng
Nhóm2 : Chứng minh con người là
chủ thể sáng tạo ra các giá trị tinh
thần cho xã hội ? ( Thuyết trình và có
bảng trình chiếu Power Point)
• Nhã nhạc cung đình Huế, (tháng
11 năm 2003) là di sản văn hóa
thế giới phi vật thể đầu tiên ở
Việt Nam
• Không gian văn hóa Cồng
Chiêng Tây Nguyên, (năm 2005)
được công nhận là kiệt tác truyền
khẩu.
• Không gian văn hóa Quan họ
Bắc Ninh được ngày 30/9/2009
Ca trù
• Ca trù được công nhận ngày
01/10/2009
Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn
Du được Unesco công nhận là di sản
văn hóa thế giới, được dịch ra nhiều
thứ tiếng. Tác phẩm này đã đưa
Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn
hoá thế giới .
Hoạt động 3:
c- Con người là động lực của các
Nhóm 3: Chứng minh con người là cuộc cách mạng xã hội.
động lực của các cuộc cách mạng xã
hội ?
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
phục vụ cuộc sống của mình.
mình.
4. Luyện tập-củng cố
- GV hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức trọng tâm toàn bài.
Con người sáng tạo ra lịch sử của mình như thế nào ? Cho ví dụ ?
Con người là chủ thể sáng tạo ra giá trị vật chất tinh thần cho xã hội như thế nào? Cho
ví dụ
5. Dặn dò
- GV yêu cầu học sinh về nhà học bài, trả lời các câu hỏi số 1 trong SGK trang 59.
- Đọc trước nội dung mục 2 và phần Tư liệu tham khảo – SGK trang 60
GVTH: Phạm Thị Dinh
Trường THPT Sông Ray
Trang 21
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
Bài 12: CÔNG DÂN VỚI TÌNH YÊU, HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH
(Tiết 2)
I. Mục tiêu bài học.
Học xong tiết 2 bài 12 học sinh cần nắm được
1. Về kiến thức.
- Hiểu được thế nào là Hôn nhân, chế độ hôn nhân, gia đình.
- Hiểu được các đặc trưng tốt đẹp, tiến bộ của chế độ hôn nhân nước ta hiện
nay.
- Hiểu được các chức năng cơ bản của gia đình, mối quan hệ trong gia đình.
- Hiểu được mối quan hệ giữa tình yêu, hôn nhân và gia đình.
2. Về kĩ năng.
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp trực quan trong dạy học môn GDCD 10
Hoạt động dạy học
Hoạt động 1: Hôn nhân là gì?
Nội dung tiết học
2. Hôn nhân.
Mục tiêu: Học sinh trình bày được nội dung a. Hôn nhân là gì ?
hôn nhân là gì?
Cách tiến hành: Thuyết trình + trực quan
minh họa ( hình ảnh)
GV: cho học sinh xem một số hình ảnh về lễ
cưới, đám cưới kết hợp sử dụng phương
pháp thuyết trình, vấn đáp để học sinh nắm
được kiến thức.
GV: Quan hệ giữa họ về mặt pháp lý được
coi là vợ chồng chưa? Vì sao?
HS: trả lời câu hỏi.
GV: diễn giảng, minh họa bằng hình ảnh và
rút ra kết luận
Tình yêu chân chính dẫn đến hôn nhân. Hôn
nhân được đánh giá bằng sự kiện kết hôn. Bắt
đầu cuộc sống gia đình và có trách nhiệm với
con cái.
Xét ví dụ SGK:
Anh A và chị B tự ý sống chung với nhau.
Sau một thời gian, giữa họ có một đứa con,
một căn nhà và một số tài sản khác. Quan hệ
Nội dung tiết học
Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi, bổ sung
năm 2014). Sau đó cho HS xem 1 clip ngắn
về nạn tảo hôn, giải thích cho HS hiểu về các
điều kiện kết hôn, đặc biệt độ tuổi.
GV yêu cầu HS nêu những đặc điểm của chế
độ hôn nhân trong xã hội cũ. Từ đó GV chỉ
ra các đặc điểm tốt đẹp, tiến bộ của chế độ
hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay.
Hoạt động 2: Chế độ hôn nhân ở nước ta.
Mục tiêu: Học sinh hiểu được nguyên tắc
của chế độ hôn nhân gia đình nước ta hiện
nay, đồng thời thấy được chế độ hôn nhân
gia đình nước ta hiện nay tiến bộ hơn so với b. Chế độ hôn nhân ở nước ta hiện
nay.
các chế độ xã hội trước đó.
Cách tiến hành: Thuyết trình + trực quan
minh họa( Sơ đồ, hình ảnh)
Theo em thế nào là hôn nhân tự nguyện và
tiến bộ?
Xét tình huống sau: anh Hoàng và chị Hoa
gần nhà nhau. Hoàng 21 tuổi và Hoa 17 tuổi.
Cha mẹ Hoa do làm ăn thua lỗ nợ nhà Hoàng
nhiều. Hoàng thì đã thích Hoa từ lâu nên đòi
mẹ cưới Hoa cho Hoàng rồi hứa sẽ trừ hết
Thứ nhất: Hôn nhân tự nguyện và
khoản nợ. Hoa phải nghe theo lời ba mẹ và
tiến bộ:
do li hôn.
GV: Theo em, cá nhân có nên lạm dụng
quyền tự do li hôn hay không? Vì sao?
GV: diễn giảng để phân tích quyền tự do li
hôn là một trong những điểm tiến bộ của chế
độ hôn nhân hiện nay. Tuy nhiên không nên
lạm dụng quyền tự do li hôn vì sẽ gây ra
nhiều hậu quả xấu cho cả hai người, đặc biệt
là con cái.
GV: Theo em khi cha mẹ ly hôn thì dẫn đến
tác hại gì đối với con cái? ( GV lưu ý đến đối
tượng HS trong lớp có bố mẹ li hôn, không
nêu cụ thể tên HS, động viên các em thông
qua các gương hiếu học, vượt lên hoàn cảnh
gia đình, thành đạt trong cuộc sống)
Cần chú ý rằng: Li hôn chỉ được coi
là bất đắc dĩ, vì li hôn gây nhiều hậu
quả xấu cho hai người, đặc biệt là đối
với con cái.
GV kết luận: Li hôn là cần thiết khi tình yêu
vợ chồng không còn nữa và cuộc sống gia
đình trở nên không thể chịu đựng nổi nữa. Li
hôn là việc bất đắc dĩ vì sẽ gây ra nhiều hậu
quả xấu cho cả hai người, đặc biệt là con cái.
GV: Quan niệm “Trai năm thê bảy thiếp, gái
chính chuyên chỉ lấy một chồng” có phù hợp Thứ hai: Hôn nhân một vợ một
với chế độ hôn nhân nước ta hiện nay chồng, vợ chồng bình đẳng.
không? Tại sao?