PHÒNG GIÁO DUC- ĐẠO TẠO YÊN LẠC
TRƯỜNG THCS YÊN ĐỒNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ
VÀ GIÁO CỤ TRỰC QUAN
VÀO QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Môn : Tiếng Anh
Tổ : KHXH
Mã: ………………….
Người thực hiện :Tạ Thị Giang
ĐT: 01665657075
MỤC LỤC:
A. Phần mở đầu 31
I. Lý do chọn đề tài
II. Phạm vi nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Mục đích nghiên cứu
B. Phần nội dung
I. Cơ sở lý luận
II. Thực trạng vấn đề
III. Giải quyết vấn đề
IV. Tiến trình thực hiện đề tài:
- Hình thức trò chơi dùng để giới thiệu từ mới
-
Hình th c trò ch i dùng ki m tra t m i:ứ ơ để ể ừ ớ
-
Hình th c trò ch i dùng thi t l p tình hu ng,…ứ ơ để ế ậ ố
-
10
10
11
12
12
13
13
14
14
14
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
2
I. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay xã hội đang ngày càng phát triển, việc học tập, tiếp thu, lĩnh hội tri thức
nhân loại đang là nhu cầu cấp thiết của từng người. Để mỗi người dễ dàng tiếp cận
với nguồn tri thức dồi dào đó, Tiếng Anh là phương tiện không thể thiếu. Do đó,
việc học tiếng Anh đang ngày càng được xã hội quan tâm hơn đặc biệt là thế hệ trẻ.
Để đáp ứng một phần mục đích này, là giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng
Anh bậc THCS, tôi hiểu bộ môn Tiếng Anh góp phần không nhỏ trong việc đầu tư
kiến thức, mở rộng tầm hiểu biết của học sinh để giao lưu với thế giới, nắm bắt
những thông tin có giá trị, những công nghệ khoa học tiên tiến trên toàn thế giới.
Bởi vì tiếng Anh là ngôn ngữ chung nhất được sử dụng và được giao lưu Mỗi môn
học có những phương pháp giảng dạy, đặc thù riêng. Đối với việc giảng dạy môn
Ngoại ngữ nói chung và với môn Tiếng Anh nói riêng thì phương pháp giảng dạy
phải là một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu. Để có một tiết học Tiếng Anh có
chất lượng tốt, tạo cho học trò một sự hứng khởi khi tiếp thu bài học thì người giáo
viên giảng dạy phải thực sự có những phương pháp độc đáo, hấp dẫn .
Giảng dạy là một quá trình mang tính chất nghệ thuật tạo sự kích thích, định
hướng và hướng dẫn. Dạy không chỉ là sự truyền đạt đơn thuần kiến thức mà là
Nghiên cứu sử dụng trò chơi và giáo cụ trực quan để tạo sự hứng thú, ham học của
học sinh trong các tiết học môn tiếng Anh ở trung học cơ sở.
B. PHẦN NỘI DUNG:
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Như chúng ta đã biết, việc học Tiếng Anh đang là xu hướng của thời đại công nghệ
phát triển như hiện nay. Tuy nhiên, Tiếng Anh là một ngoại ngữ, không phải là
tiếng mẹ đẻ, do đó việc giảng dạy tiếng Anh là đã một việc khó, để học sinh tiếp
thu và vận dụng tiếng Anh vào thực tiễn của cuộc sống lại là việc làm khó khăn
hơn. Học sinh cần phải lĩnh hội, tiếp thu và vận dụng tốt các kỹ năng nghe – nói –
đọc – viết thông qua các hoạt động giao tiếp có mục đích. Do đó, giáo viên phải có
những kỹ năng, phương pháp riêng, phải luôn học hỏi, tìm tòi, sáng tạo để truyền
đạt kiến thức cho học sinh. Điều đầu tiên giáo viên phải làm là tạo cho học sinh sự
hứng thú, ham muốn học tập, tạo sự tò mò và muốn biết được những điều mình sắp
được học. Việc thiết lập, tạo những tình huống đưa học sinh hướng vào chủ điểm,
nội dung của bài học là cả một nghệ thuật của người giáo viên. Xuất phát từ vấn đề
này, tôi cho rằng tổ chức các trò chơi trong mỗi bài học tuy là nhỏ, nhưng chính các
trò chơi trong mỗi bài học, đặc biệt là ở phần “warm up” đã góp phần quan trọng
trong việc tạo sự tập trung, theo dõi của học sinh vào các vấn đề được trình bày, tạo
sự thoải mái, giảm sự căng thẳng của học sinh. Cũng từ đó, học sinh ham thích môn
học và học tập có hiệu quả hơn. Các trò chơi có rất nhiều hình thức, phong phú, đa
dạng, được áp dụng rộng rãi tùy thuộc vào các hình thức của bài học. Hơn nữa đó
cũng là một hoạt động tích cực trong phương pháp giảng dạy mới của bộ môn tiếng
Anh. Vì thế, mỗi thầy giáo, cô giáo cần nghiên cứu, vận dụng các trò chơi vào
trong mỗi bài dạy nhằm tạo sự hứng thú cho học sinh, giảm đi sự căng thẳng, chán
nản đối với môn học như chúng ta đã thấy ở rất nhiều học sinh trong thời gian qua.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
4
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn tiếng Anh nhiều năm, tôi đã nhận thấy học
sinh yếu kém ở môn học này còn nhiều, chỉ có một số học sinh nói, viết khá lưu
Tỉ lệ Số HS
không
thích
Tỉ lệ Số HS
ghét
Tỉ lệ
1 8A1 19 5 26% 10 53% 4 21%
2 8A2 16 3 19% 9 56% 4 25%
3 8A3 19 4 21% 9 47% 6 32%
5
PHẦN III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Nhiều tài liệu tham khảo về phương pháp dạy học tiếng Anh cũng đã giới thiệu một
số trò chơi phổ biến áp dụng được trong tất cả các phần của một giờ học, ví dụ như
Chain game, Guessing Game, Hangman, Lucky Numbers, Noughts and Crosses,
Rub out and Remember, Slap the Board … Những trò chơi này có thể được coi là
những trợ giảng đắc lực cho rất nhiều giáo viên tiếng Anh ở mọi cấp học. Qua quá
trình thực hiện, có thể thấy rõ ràng là không khí lớp học sôi nổi hơn nhiều.
Trong quá trình dạy học, dự giờ, học hỏi kinh nghiệm, và nghiên cứu tài liệu sách
vở, tôi đã để ý được rất nhiều dạng Game có thể phù hợp vời từng bài cụ thể trong
sách giáo khoa . Từ đó, tôi đã mạnh dạn soạn một số tiết có các trò chơi thông dụng
như :
- Bingo
- Jumble words
- Chain game
- Noughts and crosses
- Kim’s game
- Brainstorming
- Categozing
- Guessing
học sinh lên bảng và viết lại các từ đúng nghĩa của nó. Người thắng sẽ là học sinh
hoàn thành công việc đúng nhất và sớm nhất.
Ví dụ 1 : Unit 6: Places, phần A1, lớp 6. Giáo viên có thể sử dụng trò chơi
“Jumple words” để kiểm tra các danh từ mà học sinh đã được học ở tiết trước.
JUMBLE WORDS
hotel
aelk ohtel
dray retes trees
yard vrier wfleros
flowers
river
Ví dụ 2: Khi kiểm tra từ mới trong Unit 6: Paces lớp 6, phần A, giáo viên có thể
cho học sinh chơi trò “word square” để học sinh tìm ra các danh từ chỉ địa diểm,
nơi chốn. Giáo viên chia lớp thành các nhóm tùy theo số lượng học sinh của lớp.
Tổ nào hoàn thành sớm nhất sẽ chiến thắng trong trò chơi này.
H O T E L B V W Z
O C Z L R A S K O
U T I E N S K I O
S A V T A C P E M
E I M L Y M Q A C
R I C E P A D D Y
KEY
7
lake
hotel, rice paddy
city, lake
house, zoo river, clas
The country whose capital city is Phnom Penh.
A friend who keeps contact through letters.
A place we go to study.
The country has the beautiful beaches of Phuket and Pattatya.
8
The country has the largest population in the world.
The country is the smallest among ASEAN members.
The money system is used in a country.
It is belief in superhuman especially in Gods.
4.
Hình th c dùng trò ch i s d ng “brainstorming”giúp h c sinh ng não, suy nghứ ơ ử ụ ọ độ ĩra các ho t ng ho c các l nh v c mà giáo viên a raạ độ ặ ĩ ự đư
:
Ví dụ: Unit 6, phần 1 “Getting started + listen and read”, lớp 9. Giáo viên có
thể dùng “ networks” chia lớp ra thành hai đội và yêu cầu các đội viết các vấn đề ô
nhiễm về môi trường. Trong vòng 2 phút đội nào viết được nhiều hơn sẽ thắng trò
chơi.
Garbage dump deforestationair pollution environmental pollution dynamite fishing
water pollution spraying pesticides
5.Hình thức dùng trò chơi - sử dụng “noughts and crosses” nhằm mục đích giúp
cho học sinh ôn lại bài học hoặc một điểm ngữ pháp nào đó:.
Ví dụ : Unit 4, phần “language focus” lớp 8 nhằm giúp học sinh ôn lại thì quá khứ
đơn, giáo viên chia học sinh thành hai đội “noughts” và “crosses”. Hoc sinh ở hai
- Group 1: I go to the market, I buy some apples and bananas.
- Group 2: I go to the market, I buy some apples, bananas and fish.
…….
7.Hình thức dùng trò chơi - sử dụng “Board race”.
Ví dụ : Unit 3, phần “Write” lớp 8 . Mỗi học sinh ở 3 đội lần lượt viết các từ lên
bảng theo chủ điểm . Trong vòng 2 phút đội nào có nhiều từ nhất sẽ thắng trò chơi.
Objects in a bedroom Objects in a kitchen Prepositions of position
Desk, bed, Sink, refrigerator, In, on,
8. Hình thức dùng trò chơi - sử dụng “ categorizing”:
ví dụ: Unit 6, phần “speak”, lớp 8. Yêu cầu học sinh đặt các cụm từ đã được cho
trước sao cho thích hợp với dạng câu yêu cầu, đề nghị và câu đáp lại lời yêu cầu
hoặc câu đề nghị này.
Can/ could you help me, please?
What can I do for you?
Let me help you
I need a favor
Can / could you do me a favor ?
Do you need any help?
How can I help you?
I’m sorry. I’m really busy
Yes/No, thank you
Yes, that’s very kind of you.
No, thank you. I’m fine
May/Can I help you?
Certainly/ Of couse/ Sure
10
Asking for favor
Can/ Could
you ?
:
Đối với hình thức này, giáo viên chỉ cần đưa ra vài câu đố cho học sinh, giúp các
em vui vẻ, tạo cảm giác thoải mái để học bài mới có hiệu quả cao hơn.
Ex: What is the end of everything? (The letter G)
What has legs but cannot walk? (a table)
What has teeth but cannot bite? (a comb)
What am I?
“My face is marked.
My hands keep moving
I have no time to play
I must run all day.” (A clock)
VI. HIỆU QUẢ CỦA SKKN:
Qua quá trình thực tế giảng dạy ở các khối lớp, khi áp dụng đưa các trò chơi vào
các tiết học tôi thấy có hiệu quả rõ rệt. Trò chơi có sức lôi cuốn, hấp dẫn học sinh
học tập nhiều hơn, gây nên sự hứng thú học tập ở mỗi học sinh, học sinh tập trung
vào bài học hơn. Giúp cho việc truyền đạt kiến thức của giáo viên có hiệu quả
nhiều so với trước. Việc tiếp thu bài của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Đầu năm có rất
nhiều em còn sợ học bộ môn, không thích học vì cho rằng nó khó hiểu, khó tiếp
thu, đến nay chất lượng học đã tăng khá đồng đều. Đại bộ phận đa số các em đã
12
7
1
3
8
6
4
2
5
C. KẾT LUẬN CHUNG và KIẾN NGHỊ:
Qua thời gian áp dụng đưa trò chơi vào các tiết học ở học kỳ qua, tôi thấy biện
pháp sử dụng trò chơi đóng vai trò hỗ trợ tích cực trong việc giảng dạy ngoại ngữ
nói chung và tiếng Anh nói riêng. Nó là một trong những biện pháp hữu hiệu, là
động lực thúc đẩy học sinh tích cực tham gia học tập, nghiên cứu, động não bài
học. Chúng tạo nên những tình huống, ngữ cảnh, giúp sự luyện tập của học sinh trở
nên có ý nghĩa, gây hứng thú, giúp học sinh tập trung tiếp thu bài nhanh, góp phần
nâng cao chất lượng học tập của học sinh và hiệu quả giảng dạy của người thầy.
Như vậy, việc sử dụng trò chơi không chỉ tạo không khí vui vẻ, phần khởi học tập ở
học sinh mà còn là một thủ thuật có khoa học, sáng tạo của người giáo viên. Biết
lồng ghép sao cho phù hợp với đề tài bài dạy. Kích thích sự say mê học tập, nghiên
cứu ở mỗi học sinh. Chúng ta cần nhìn nhận các trò chơi như một việc làm bổ ích
13
cho các đối tượng học sinh. Mặc dù nó mất khá nhiều thời gian chuẩn bị của giáo
viên cho việc thiết kế các trò chơi ở các tiết học. Nhưng dù sao chúng ta cũng vì thế
hệ trẻ tương lai, vì đất nước mai sau, chúng ta cố gắng làm hết sức mình để đầu tư
một vốn kiến thức ngoại ngữ nhất định nào đó cho mỗi học sinh. Giúp học sinh sau
này sử dụng vốn ngoại ngữ cơ bản của mình, áp dụng làm nền tảng cho việc thực
tập, đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên ngành của chúng cũng như lĩnh hội
nguồn tri thức dồi dào của nhân loại. Bởi vì ở thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học
công nghệ mà vốn kiến thức tiếng Anh đó là nền tảng cho việc giao lưu, học hỏi
với các nước trên toàn thế giới.
Những vấn đề được trình bày trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ, chủ quan của riêng tôi
trong việc sử dụng các trò chơi vào các tiết dạy bộ môn tiếng Anh ở THCS, nếu có
gì chưa phù hợp rất mong sự góp ý phê bình của các đồng nghiệp.
*KIẾN NGHỊ:
Trong các buổi sinh hoạt nhóm, GV bộ môn tiếng Anh trao đổi kinh nghiệm sử
dụng trò chơi vào phần khởi động; ngoài ra có thể phân công nhiệm vụ cho từng
thành viên soạn phần này trong từng bài cụ thể, sau đó chia sẻ với các thành viên