Tiểu luận xuất nhập khẩu của việt nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra - Pdf 37

Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

LỜI MỞ ĐẦU
Góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước, hoạt động thương
mại nói chung và xuất nhập khẩu nói riêng đã giải quyết được những vấn đề
kinh tế, khai thác được nội lực và phát huy được tiềm năng, lợi thế so sánh
của đất nước. Tuy nhiên xuất nhập khẩu của nước ta còn nhiều tồn tại như quy
mô, khối lượng xuất khẩu thì nhiều nhưng trị giá thấp, dễ gặp rủi ro. Thị
trường xuất khẩu của ta chưa ổn định một trong những nguyên nhân là chất
lượng hàng hoá chưa cao, mẫu mã còn nghèo nàn, giá thành cao, nhiều trường
hợp phải buôn bán qua trung gian.Về cơ cấu hàng xuất khẩu có những thay
đổi rõ nét nhưng tỷ trọng hàng chế biến còn thấp hơn hàng thô. Về nhập khẩu,
thì tình trạng nhập siêu lớn .
Trong thời gian tới, cùng với lộ trình tham gia AFTA và trở thành thành viên
của WTO, chính phủ Việt Nam cần có những chính sách thương mại quốc tế
phù hợp và hữu hiệu để mở rộng thị trường và tăng kim ngạch xuất khẩu hàng
hoá, đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt nhập siêu. Do vậy việc đánh giá hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam, tìm ra nguyên nhân của vấn đề để đề xuất
nhữnh giải pháp đổi mới và hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế trong nước, đặc biệt là giai đoạn hiện nay- giai đoạn đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, có ý nghĩa quan trọng cả mặt lý luận và
thực tiễn vì vậy nghiên cứu hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong
những năm gần đây là hết sức cần thiết .
Đề án môn học bao gồm những nội dung chính sau:
-

Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây.

-

Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000

gấp 1,8 lần tổng kim ngạch năm 1991-năm đầu tiên thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế 1991-2000; và bằng 51,83% tổng kim ngạch năm 1996-năm đầu
tiên thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000. Một chút so sánh như vậy để thấy
rằng ngành thương mại đạt kim ngạch xuất khẩu 14,45 tỷ USD là một thành
tích rất đáng tự hào, một sự cố gắng rất lớn góp phần cùng cả nước đưa tốc độ
tăng GDP năm 2000 lên 6,7% .
Kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đạt 15,1 tỷ USD, bằng 90,1% kế hoạch, tăng
4,5% so với năm 2000. Kim ngạch xuất khẩu đạt được thấp hơn nhiều so với
mục tiêu đặt ra từ đầu năm, chủ yếu là do tình hình kinh tế thương mại thế
giới diễn biến không thuận lợi, nhất là vào những tháng cuối năm giá giảm
quá mạnh trên thị trường thế giới , đặc biệt là giá giầu thô.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2002 đạt 16,706 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm
2001. Khác với đồ thị giảm dần của năm 2001, tốc độ tăng trưởng luỹ kế trong
năm 2002 có diễn biến tăng dần (sau 3 tháng –12%, 6 tháng –4,9%, 9 tháng
+3,2%, 12 tháng +11,2%).
Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 10 tháng đầu năm 2003 đạt khoảng 16,55 tỷ
USD, bằng 93% kế hoạch cả năm và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2002.
Tuy tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng có thấp hơn so với kết quả của
các tháng đầu năm nhưng đã vượt khá xa so với mục tiêu tăng 7-8% đề ra cho
cả năm 2003. Xuất khẩu tăng một phần là nhờ được lợi về giá và quan trọng
Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

4


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

hơn là do tăng nhanh khối lượng xuất khẩu. Số liệu thống kê cho thấy giá cả
hàng hoá xuất khẩu tăng góp phần làm cho kim ngạch xuất khẩu chung tăng
hơn 700 triệu USD. Trong khi đó, khối lượng hàng hoá xuất khẩu tăng cũng

9,4

100
52,1
14,5
8,9

năm 2003
100
47,6
15,8
7,3

Nhật Bản
Hàn Quốc
2.Châu Âu
EU
Đông Âu
3.Châu Mỹ
Mỹ
4.Châu Đại

17,8
2,4
23,0
19,6
1,9
6,6
5,1
9,0

8,8
6,9
8,0
6,6
5.Châu Phi
1,0
1,1
0,8
1,1
(Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 166 – thứ 6 – 17/10/2003 –trang 6 –
tác giả Dương Ngọc)

Kim ngạch xuất khẩu từ năm 2000 tới nay đều tăng lên trước hết là do Việt
Nam thực hiện phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá thị trường xuất
khẩu cho tới nay Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với 200 nước và vùng
lãnh thổ.
Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

5


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

Trong các châu lục, Châu Á-một thị trường gần với nhiều điểm tương đồng về
thị hiếu, nhu cầu, về chất lượng, chủng loại, mẫu mã-đã chiếm tỷ trọng lớn
nhất; Châu Âu vẫn duy trì được tốc độ tăng và tỷ trọng khá; Châu Mỹ đã vượt
lên chiếm vị trí lớn thứ 2; Châu Đại Dương vẫn là một thị trường lớn và Châu
Phi bước đầu được mở mang, được coi là thị trường tiềm năng .
Trong các nước và vùng lãnh thổ có 10 thị trường lớn nhất. Nhật Bản liên tục
dẫn đầu, chỉ nhường vị trí này cho Mỹ từ năm 2003; Mỹ đã vươn lên đứng


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

Việt Nam đã hình thành một số thị trường chủ lực xuất khẩu hàng hoá,
hiện có 40 thị trường nhập khẩu hàng Việt Nam có giá trị từ 8 triệu USD
trở lên, trong đó 23 thị trường trên 100 triệu USD, đặc biệt là 8 thị trường
nhập khẩu hàng Việt Nam trên 500 triệu USD trong đó 3 nước đạt trên 1 tỷ
USD là Nhật Bản, Trung Quốc và Australia. Với Trung Quốc đây là năm
đầu tiên kim ngạch 2 chiều đạt gần 3 tỷ USD trong đó Việt Nam xuất khẩu
là 1,6 tỷ USD , còn Nhật Bản vẫn đứng vị trí hàng đầu với việc nhập khẩu
hàng Việt Nam trong năm 2000 đã lên tới 2,621 tỷ USD tăng 46,77% so
với năm 1999.
Hoạt động thương mại năm 2000 đã góp phần nâng tầm Việt Nam trên thế
giớI, đó là chúng ta đã ký hiệp định thương mại Việt – Mỹ tháng 7/2000
mở ra thời kỳ mới trong quan hệ buôn bán với một cường quốc kinh tế
mạnh. Hiệp định thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 vì
vậy quan hệ thương mại giữa Việt và Mỹ bắt đầu phát triển .
-

Năm 2002 nổi bật là xuất khẩu vào Hoa Kỳ tăng mạnh, cả năm ước đạt
2,42 tỷ USD, bằng hơn 2 lần so với năm 2001. Tỷ trọng của Hoa Kỳ trong
tổng kim ngạch đã tăng từ 7,1% lên 14,5% và riêng phần đóng góp đối với
tốc độ tăng trưởng chung năm 2002 là 9% .
Xuất khẩu vào Hoa Kỳ tăng nhanh nhưng xuất khẩu sang Nhật Bản và
ASEAN lại giảm, xuất khẩu vào EU và Trung Quốc tăng chậm. Xuất khẩu
vào Nhật Bản giảm 3%, chủ yếu do giảm kim ngạch dầu thô và hàng dệt
may. Thị trường ASEAN vẫn trì trệ do giảm kim ngạch linh kiện vi tính và
sự chuyển hướng xuất khẩu dầu thô sang khu vực khác. Xuất khẩu vào EU
tăng 4,5 % nhưng trong đó xuất khẩu hàng dệt may giảm 9% do sức mua
năm nay yếu, Trung Quốc lại được EU bãi bỏ hạn ngạch đối với một số

nếu không có thị trường Mỹ với kim ngạch xuất khẩu tăng thêm con số hơn 1
tỷ USD so với năm 2002 thì cũng khó có tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao trong
năm 2003; mặt khác nếu không có sự chuẩn bị tốt thực hiện hiệp định thương
mại Việt –Mỹ sẽ bỏ qua thời cơ khách quan đem lại.
Về thị trường xuất khẩu của Việt Nam cũng có một số điểm lưu ý :
Châu Á - một châu lục duy nhất mà nước ta nhập siêu – thì tỷ trọng xuất khẩu
vào châu lục này liên tục giảm xuống, trong đó giảm mạnh là Nhật Bản và
Trung Quốc. Cần phải tận dụng cơ hội giảm thuế suất nhập khẩu vào ASEAN,
tranh thủ thị trường gần là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc để cải thiện cán
cân thương mại với nước này.
Đông Âu vốn là thị trường truyền thống, nhưng hiện tỷ trọng còn ở mức rất
thấp và giảm trong 3 năm liền. Tới đây, 10 nước ở khu vực này gia nhập EU
sẽ vừa tạo thuận lợI, đồng thời cũng xuất hiện những khó khăn nhất định, cần
khai thác mặt thuận và hạn chế mặt nghịch .
Châu Phi là thị trường rộng lớn, nhất là đối với hàng nông sản và các loại
hàng chưa đòi hỏi cao về chất lượng, nhưng quy mô xuất khẩu vào thị trường
này còn nhỏ bé.

* Mặt hàng
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu (triệu USD)
Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

8


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

Mặt hàng chủ yếu

2000

619
718
679
6.Điện tử,mt
780
709
484
550
7.SP gỗ
289
332
434
446
8. Cà phê
505
392
317
374
9.TC,MN
289
317
334
285
10.Cao su
158
166
267
273
11.Dây,CĐ
0

90
100
89
(Nguồn: Bộ thương mại; Tính toán dựa trên số liệu trong thời báo kinh tế Việt Nam số
66 –thứ 6 - 17/10/2003 trang 6 tác giả Dương Ngọc )

Nhìn chung số loại mặt hàng và kim ngạch xuất khẩu đã gia tăng qua các năm.
Đến năm 2002 Việt Nam đã có 17 mặt hàng đạt kim ngạch trên 100 triệu USD
và 3 mặt hàng đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD ( dệt may, dầu thô, thuỷ sản) trong
đó Dầu thô đạt trên 3 tỷ USD; Khả năng năm 2003 này sẽ có thêm mặt hàng
nữa là giầy dép đạt trên 2 tỷ USD và 2 mặt hàng có khả năng vượt 3,5 tỷ USD
Trong 4 mặt hàng trên cũng đang có sự rượt đuổi để thay đổi ngôi thứ, hàng
dệt may đang vị trí thứ 2 đã vượt lên vị trí thứ nhất vào đầu năm 2003. Hàng
dệt may Việt Nam đã có mặt ở trên 170 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có
những thị trường lớn sau.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may vào các thị trườngchính(%)
1 . Mỹ
2 . EU
3 . Nhật Bản
4 . Đài Loan
5. Hàn Quốc

2,6
33
32,4
13,8
3,6

Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42


2 .Trung Quốc
3. singapore
4. Nhật Bản
5. Indonêsia
Cộng 5 thị trường

2000
31,5
22,2
15,4
15
4,8
88,9

2001
28,4
17,9
23,0
12,3
4,8
86,4

2002
34,6
21,0
19,8
7,6
3,6
86,8


còn lượng dầu xuất khẩu chỉ tăng 1,4% so với năm 1999, nhờ đó giá trị xuất
khẩu mặt hàng này đã đạt tới 3,496 tỷ USD, tăng 71,5% so với năm 1999,
điều này chưa thực đáng mừng vì rằng hoàn toàn do yếu tố khách quan mang
lại.
Lĩnh vực xuất khẩu thuỷ sản, kim ngạch xuất khẩu đạt ngoài dự kiến là 1,473
tỷ USD, tăng 51,9% so với năm 1999, vượt mức kế hoạch 34,1%, có được
thành công là do thời gian qua ta đã chuẩn bị tốt được nguồn hàng xuất khẩu
từ đánh bắt, nuôi trồng đến chế biến bảo quản, hiện nay hải sản Việt Nam đã
có mặt trên 40 nước và lãnh thổ ,đặc biệt trong số đó sáu bạn hàng lớn nhất là
Nhật, Mỹ, EU, Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan, riêng thị trường khu
vực này đã chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may đạt 1,892 tỷ USD nhưng tốc độ tăng
trưởng chỉ ở mức 3,9% so với năm 1999, chưa đạt được kế hoạch năm (1,95
tỷ USD ). Tình hình trên đây là do trong các hợp đồng của khách hàng xuất
hiện nhiều chủng loại mới và khó may nên ta chưa chuẩn bị được đủ hàng để
giao nhận mặc dù EU đã tăng thêm hạn ngạch cho Việt Nam. Do giá gia công
quá thấp, nhiều doanh nghiệp có xu hướng chuyển dần hình thức tự doanh nên
bước đầu còn đang gặp những khó khăn nhất định trong việc tìm đầu ra cho
sản phẩm. Bên cạnh đó, hàng dệt may Việt Nam đã gặp phải sự cạnh tranh
quyết liệt của một loạt các nước trong khu vực như Trung Quốc,Thái Lan…
Xuất khẩu giầy dép các loại của Việc Nam năm 2000 dường như dậm chân tại
chỗ chỉ tăng có 0,7% so với năm 1999. Kim ngạch xuất khẩu cả năm chỉ đạt
Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

11


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

1,402 tỷ USD mặc dù kế hoạch đặt ra là 1,65tỷ USD. Nguyên nhân là do có


12


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

thế giới được cải thiện. Kim ngạch của nhóm hàng khác ngoài 17 nhóm chủ
lực đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay là 28,2% làm tỷ trọng của
nhóm này trong tổng kim ngạch xuất khẩu lên tới 26%. Điều này thể hiện tác
dụng của việc mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu của mọi thương nhân,
khai thác triệt để tiềm năng của các thành phần kinh tế trong việc tạo ra các
mặt hàng xuất khẩu mới.
* Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu đạt 16,706 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm
2001, trong đó một số mặt hàng có tốc độ tăng trưởng khá là dệt may
(+39,3%), giầy dép (+19,7%), hàng TCMN (+40,7%), sản phẩm gỗ (+30%),
cao su (+61,4%), hạt điều(+38%). Khác với đồ thị giảm dần của năm 2001,
tốc độ tăng trưởng luỹ kế trong năm 2002 có diễn biến tăng dần (sau 3 tháng –
12%, 6 tháng –4,9%, 9 tháng +3,2%, 12 tháng +11,2%). Xuất khẩu các sản
phẩm phi dầu thô tăng 12,9%, cao hơn mức tăng 8,7% của năm 2001. Cơ cấu
xuất khẩu có sự chuyển dịch tích cực. Tỷ trọng của nhóm hàng chế biến chủ
lực (dệt may, giầy dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính, hàng TCMN, sản
phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, thực phẩm chế biến, cơ khí điện, đồ chơi ) đạt 39%
( năm2001 là 36,3%), trong đó mặt hàng có tốc độ tăng khá là dệt may, giầy
dép, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa và hàng TCMN. Riêng phần đóng góp của
2 nhóm hàng dệt may và giầy dép đối với tăng trưởng chung là 7,2% (dệt may
5,2%, giầy dép 2%). Về xuất khẩu nông sản mặc dù giá vẫn thấp nhưng có tới
5 mặt hàng có lượng tăng là lạc nhân, cao su, hạt tiêu, hạt điều, chè. Điều này
cho thấy thị trường tiêu thụ vẫn được bảo đảm, thị phần của ta đối với một số
mặt hàng tiếp tục tăng. Hai mặt hàng gạo và cà phê lượng xuất khẩu giảm
nhưng nguyên nhân chính là do chuyển dịch cơ cấu kết hợp với tác động của


2002
8.937

10t đn 2003
8.284

trong nước
Các DN có vốn ĐTNN

6.809

6.748

7.769

8.266

(Nguồn: Ngoại thương 21-31 /1/2002 trang 9, 10; Thời báo kinh tế Sài Gòn 30/10/2003
trang 8; Tính toán dựa trên số liệu trong thương mại số 7/2003- trang 2)

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2000 khu vực kinh tế trong nước chiếm
tỷ trọng trên 50%, đạt 7641 triệu USD tăng 8% so với năm 1999; khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm cả dầu thô) đạt khoảng 6809 triệu USD tăng
47,4%.
Sở dĩ tốc độ tăng của khu vực kinh tế trong nước chưa cao vì những mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu là hàng nông sản, rau quả, lâm, hải sản, thủ công mĩ nghệ,
có giá trị thấp. Hơn nữa năm 2000 lại là năm đặc biệt khó khăn với gạo và cà
phê (gạo: phẩm chất chưa cao, giá cả khong ổn định; Cà phê: giá xuống thấp
liên tục qua các tháng).

nhanh hơn là tốc độ tăng của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước.
1.2. Nhập khẩu
* Kim ngạch nhập khẩu
Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2000 đạt 15,2 tỷ USD tăng khoảng 30,8% so
với năm 1999 (vượt 15,2% kế hoạch năm ). Cân đối giữa xuất và nhập thì
nhập siêu năm 2000 vào khoảng 750 triệu USD. Tuy gấp 11 lần mức nhập
siêu năm 1999 nhưng so với năm 1998 chỉ bằng 42% và so với năm 1997 chỉ
bằng 37,2%. Nhập siêu tăng do một trong những nguyên nhân là sự tăng giá
của các mặt hàng nhập khẩu và giảm giá đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu
khác của nước ta. Hơn nữa cơ cấu hàng nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất
như phân bón, xăng dầu, máy móc …
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2001 đạt 16 tỷ USD, bằng 89,9% kế
hoạch năm, tăng 5,3% so với năm 2000.

Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

15


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

Kim ngạch nhập khẩu năm 2002 đạt 19,3 tỷ USD, tăng 20,6% so vói năm
2000, vượt 1,4% so với kế hoạch năm, nhập siêu là 2,594 tỷ USD. Như vậy
nhập siêu năm 2002 đã tăng lên gấp 3 lần so với năm 2000 và năm 2001 .
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá 10 tháng đầu năm 2003 là 20,316 tỷ USD,
gần bằng kế hoạch cả năm và tăng 29,9% so với cùng kỳ năm 2002.
Như vậy kim ngạch nhập khẩu vẫn tiếp tục tăng với tốc độ cao. Hai yếu tố giá
cả và khối lượng hàng nhập khẩu đều góp phần làm kim ngạch chung tăng
lên, nó được thể hiện rõ qua bảng số liệu sau.
Đơn vị tỷ USD & %

trưởng NK

* Mặt hàng chủ yếu
Đơn vị triệu USD
Mặt hàng chủ yếu

Năm 2000

Năm2001

Năm2002

10 tháng đầu

1, ô tô NC
2, Ôtô dạng linh kiện
3, Thép TP
4, Phôi thép
5, Phân bón
Phân ure
6, Xăng dầu
7, Xe gắn máy (linh

134
97
577
234
508
261
2058

kiện LR)
8,Giấy cácloại
9, Chất dẻo Nliệu
10, Sợi các loại
11, Bông
12, Hoá chất Nliệu
13, Máy móc, thiết bị

142
480
231
101
307
2571

153
489
248
133
343
2706

193
617
312
94
404
3700

185


294
756
1619

dệt may
Hànghoá khác
4934
5153
6487
(Nguồn: Thời báo kinh tế Sài Gòn 30/10/2003-trang 8; Ngoại thương
21-31/1/2002-trang 10, 21-31/1/2003-trang 3)

Có 16 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam trong đó hàng tiêu dùng có
xu hướng giảm, các sản phẩm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, dầu thô,
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm. Hàng nhập
khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất như: hoá chất ,nguyên vật liệu, ling kiện điện
tử. Trong điều kiện một nước đang phát triển, chưa ổn định và cần tăng cường
mạnh đầu tư nước ngoài, trong nước, đôi khi sự gia tăng về nhập khẩu để đáp
ứng yêu cầu sản xuất trong nước lại là hết sức cần thiết .
Năm 2000 tốc độ tăng nhập khẩu cao, phải kể đến yếu tố tăng giá trên thị
trường thế giới ở một số mặt hàng như: sắt thép, sợi dệt, chất dẻo, xăng dầu .
Năm 2001 kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu tăng cao so với
năm 2000: ôtô dạng linh kiện tăng 131,5%, ôtô nguyên chiếc tăng 47%, phôi
thép tăng 32%, bông tăng 31,7%…Các mặt hàng thiết yếu đối với nền kinh tế
như xăng dầu, sắt thép, hoá chất , bông, sợi …có mức tăng khá về lượng. Một
số mặt hàng chủ yếu giảm về giá trị: xe gắn máy (dạng ling kiện lắp ráp) giảm
26,8%, phân bón các loại giảm 19,4%, ling kiện điện tử giảm 10,7%, xăng dầu
giảm 9,1%, tân dược giảm 6,8%…
Năm 2002 các mặt hàng chủ yếu, quan trọng đối với sản xuất trong nước

Loại giải pháp liên quan đến xuất khẩu, theo đó xuất khẩu ngoài việc tận dụng
các lợi thế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh (sức cạnh tranh không chỉ
nằm ở giá thành, chất lượng mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp thị và tiến độ
cung cấp), cần hết sức tận dụng thời cơ được giảm thuế để xuất khẩu vào các
thị trường lớn như EU, Mỹ. Xây dựng thị trường nội địa thế nào để tạo dựng
nguồn nguyên vật liệu trong nước cho hàng hoá xuất khẩu, tăng tỉ lệ thưc thu
thuộc về trong nước trong kim ngạch xuất khẩu .
* Thị trường
Nhìn chung từ năm 2000 tới nay thị trường nhập khẩu của Việt Nam có xu
hướng tăng dần cả về chiều rộng lẫn chất lượng hàng nhập khẩu. Có 5 thị
trường lớn đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Singapore .
Năm 2000 chưa xuất hiện thị trường mới, trong số thị trường cũ thì thị trường
Châu Á vẫn là khu vực có nhiều bạn hàng lớn của nước ta như Nhật Bản (kim
Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

18


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

ngạch nhập khẩu khoảng 2 tỷ USD ), Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng
Kông, Đài Loan, Malaixia, Hàn Quốc, Inđonexia, …kim ngạch 2 chiều với
nhiều nước gia tăng nhanh chóng như: Pháp, Hà Lan, Đan Mạch, Itali,
Urraina…
Năm 2001 đã xuất hiện thêm nhiều thị trường nhập khẩu mới là Achentina,
Bồ Đào Nha, Mianma, Cata, Ailen. Trong khi các thị trường khác vẫn tiếp tục
duy trì và có tốc độ nhập khẩu tăng dần .
Hiệp định thương mại Việt –Mỹ có hiệu lực 10/12/2001, từ đó quan hệ thương
mại giữa 2 nước phát triển mạnh mẽ: xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ tăng

hoạch và tăng 9,4% so với năm 2000.
Năm 2002 các doanh nghiệp trong nước đạt 12,696 tỷ USD tăng 12,96% so
với năm 2001; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,604 tỷ USD
tăng 38,7% .
6 tháng đầu năm 2003 nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước đạt
7,983tỷ USD, tăng 36,3% so với cùng kỳ năm ngoái; các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài đạt 4,215 tỷ USD tăng gần 43%.
Doanh nghiệp FDI nhập khẩu tốc độ tăng cao hơn doanh nghiệp trong nước,
số ngoại tệ nhập khẩu của FDI là do chính họ bỏ ra để thanh toán chứ không
phải nhà nước. Cái mà ta cần xem xét là ngoại tệ bỏ ra để nhập khẩu từ nguồn
ngân sách nhà nước do các doanh nghiệp quốc doanh quản lý và thực hiện có
lớn và lãng phí, kém hiệu quả hơn, còn ngoài ra các doanh nghiệp khác tự lo
có ngoại tệ để nhập khẩu, tất nhiên nhà nước cũng phải xem xét quản lý khi
cần thiết .
Như vậy từ năm 2000 tới nay về giá trị tuyệt đối kim ngạch nhập khẩu của các
doanh nghiệp trong nước cao hơn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhưng về tốc độ tăng trưởng thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng
nhanh hơn các doanh nghiệp trong nước. Điều đó chứng tỏ hoạt động đầu tư,
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra
mạnh mẽ, tốc độ cao hơn các doanh nghiệp trong nước, không khí đầu tư sôi
động hơn khu vực trong nước.

1. 3 Đánh giá chung về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam từ
năm 2000 tới nay
*Thành công của xuất nhập khẩu .
Qui mô xuất khẩu đạt ở mức cao, nhờ qui mô khá nên tốc độ tăng cũng đạt
khá cao so với năm trước. Xuất khẩu tăng ở cả hai khu vực, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài không những sản xuất tăng trưởng cao hơn mà còn
tận dụng được cơ hội tốt hơn khi nước ta thực hiện cam kết mở cửa hội nhập
với Mỹ, với khu vực cũng như khi Việt Nam gia nhập WTO .

* Tồn tại .
Tuy đạt được sự vuợt trội, nhưng trên lĩnh vực xuất khẩu vẫn chưa thể chủ
quan thoả mãn, xuất khẩu đang đối mặt với những thách thức và nhập siêu đã
gia tăng mạnh cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỉ lệ. Phát triển xuất khẩu chưa
thật vững chắc. Gạo, ca phê, hạt tiêu đã đạt tới đỉnh cao, ít có khả năng đột
phá, còn các ngành hàng khác vẫn còn tự phát, chưa tập trung cao, nhưng
không thể có lượng hàng thật lớn và đồng đều chất lượng sẵn sàng cho xuất
Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

21


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

khẩu. Khả năng cạnh tranh của một số loại hàng và của không ít doanh nghiệp
hạn chế, bị động ứng phó khi các thị trường nhập hàng đặt ra các rào cản. Cơ
sở vật chất kỹ thuật quảng bá xuất khẩu chưa được cải thiện nhiều. Tranh chấp
thương mại vẫn phức tạp. Các dịch vụ giao nhận, vận tải quốc tế, bưu chính
viễn thông, bảo hiểm … chưa hấp dẫn về thể thức, chất lượng, giá cả. Thiếu
thông tin qua xử lý, dự báo. Thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà, tốn chi phí
ảnh hưởng tới sức cạnh tranh.
Số đông doanh nghiệp nhỏ dễ len lỏi vào thị trường, song năng lực tài chính
và việc tiếp cận khoản tín dụng ưu đãi, các dự án đầu tư, phát triển … không
dễ dàng .
Về nhập khẩu thì nhập siêu ngày càng gia tăng, sẽ làm thâm hụt cán cân vãng
lai, đe doạ tới cán cân tổng thể, tăng vay nợ nước ngoài …,dù có nhập thiết bị
máy móc dụng cụ phụ tùng, nhưng vấn đề là đầu tư sẽ đưa lại hiệu quả ra sao
trong giai đoạn tới. Hơn nữa, đây còn là vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nước, khi mà tính gia công của sản xuất, xuất khẩu và tính đại lý trong
thương mại không giảm, mà ở một số địa phương còn gia tăng . Nhất là sau

- Khó khăn:
Khả năng cạnh tranh của hàng hoá còn yếu (về giá cả, chất lượng, mẫu
mã), do quy mô sản xuất còn nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, năng xuất lao động
thấp, công tác quản lý kém hiệu quả …
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam là các mặt hàng nông sản, nguyên
liệu thô và hàng công nghiệp nhẹ chiếm tỷ trọng lớn. Đây cũng là những mặt
hàng có ưu thế của các nước ASEAN, vì vậy nếu Việt Nam không có biện
pháp để nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm của mình thì sẽ không đủ
sức để cạnh tranh với các hàng hoá của các nước ASEAN tại các thị trường
EU, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á.
Khả năng tự lập của các doanh nghiệp còn yếu do vẫn còn bị ảnh hưởng của
sự bao cấp. Nhiều doanh nghiệp chưa có chiến lược kinh doanh ổn định, lâu
dài vì vậy việc đầu tư vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như tìm kiếm thị
trường cho đầu ra của sản phẩm còn hạn chế.
* Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.
-Những cơ hội :
Hiệp định thương mại có hiệu lực vào ngày 10-12-2001, Việt Nam đã được
hưởng ưu đãi thương mại, có điều kiện thuận lợi hơn trong việc mở rộng thị
trường.
Như chúng ta đã biết Mỹ là một thị trường hấp dẫn đối với nhiều quốc gia, thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà xuất khẩu. Trước thời điểm Hiệp định thương
23
Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

mại Việt-Mỹ chưa được ký kết, doanh nghiệp Việt Nam và hàng hoá của Việt
Nam xâm nhập vào thị trường Mỹ rất khó khăn, phải cạnh tranh không bình
đẳng với các doanh nghiệp của các nước khác cùng có mặt tại thị trường Mỹ,



Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

chính sách, luật pháp và thực tiễn hoạt động kinh tế của đất nước làm cho các
hoạt động này trở nên năng động, mềm dẻo hơn thích ứng với thông lệ và tập
quán quốc tế, cũng như nguyên tắc, quy định của WTO.
-Thách thức :
Khi Việt Nam và Mỹ cùng thực hiện việc cắt giảm thuế quan và giảm thiểu
các biện pháp phi thuế quan thì Việt Nam phải đối mặt với một vấn đề là
chính hàng hoá của Mỹ và các nước khác với chất lượng cao, giá hạ hơn và
mẫu mốt đẹp hơn sẽ đạt được ưu thế cạnh tranh với hàng hoá cùng loại của
Việt Nam ngay tại thị trường Việt Nam .
Mặc dù khi Hiệp định thương mại được thực thi, hàng hoá của Việt Nam được
hưởng ưu đãi quốc gia NTR, nhưng vẫn phải cạnh tranh quyết liệt với hàng
hoá của Trung Quốc, của các nước ASEAN và nhiều nước khác đang được
hưởng NTR trên thị trường Mỹ. Trong cuộc cạnh tranh này, chất lượng giá cả,
mẫu mốt có tính quyết định. Trong khi đó sức cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam trên ba mặt này hầu như còn rất yếu.
Khi thực hiện NTR, các doanh nghiệp Mỹ sẽ thuận lợi hơn khi đầu tư vào
Việt Nam, được hưởng những ưu đãi về nhập khẩu những nguyên vật liệu để
sản xuất, gia công, chế biến hàng xuất khẩu. Những vấn đề này sẽ tác động
không nhỏ đến việc tổ chức nguồn hàng cho việc sản xuất , chế biến và xuất
khẩu những mặt hàng truyền thống của ta .
Những quy định khó tính của Mỹ về hàng nhập khẩu, đó là những trở ngại phi
thuế quan, mặt khác để doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam được vào thị
trường Mỹ, ngoài việc nắm vững nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp Việt
Nam phải làm quyen với tập quán, tác phong khi đàm phán, ký kết hợp đồng
với các nhà kinh doanh Mỹ, phải tìm hiểu và nắm vững chính sách ngoại
thương của Mỹ. Đây là quốc gia có hệ thống pháp luật, chính sách về thương

nghiệp vệ tinh (sản xuất bán thành phẩm để giao lại cho một doanh nghiệp
khác sản xuất hàng xuất khẩu ) . Đây là quyết định hết sức quan trọng, góp
phần thúc đẩy sự hình thành các chuỗi doanh nghiệp gắn kết với nhau, cùng
hướng về xuất khẩu và cùng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng lớn. Quyết định
đã được bộ tài chính hướng dẫn nhưng chưa đầy đủ. Cụ thể là chỉ có doanh
nghiệp nào đã có hợp đồng xuất khẩu bán thành phẩm nhưng không giao bán
thành phẩm ra nước ngoài mà giao thẳng cho doanh nghiệp Việt Nam khác để
sản xuất hàng xuất khẩu thì mới được hưởng ưu đãi. Việc hướng dẫn đầy đủ
các ưu đãi này đã được thủ tướng chính phủ tiếp tục chỉ đạo tại văn bản số
78/CP-KTTH của chính phủ ngày 20/1/2002, sẽ góp phần cân bằng chính sách

Đào Thị Lan-Kinh tế quốc tế K42

26


Xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2000 đến nay và những vấn đề đang đặt ra.

ưu đãi giữa nguyên liệu nội và nguyên liệu ngoại, thúc đẩy các doanh nghiệp
sử dụng ngày càng nhiều hơn đầu vào sản xuất trong nước .
Thuế xuất nhập khẩu có nhiều thay đổi căn bản và hoàn thiện hơn. Thuế suất
của thuế xuất khẩu và nhập khẩu được thiết kế hợp lý hơn. Hiện nay đối với
phần lớn hàmg xuất khẩu có thuế suất 0% trừ một số mặt hàng như dầu thô,
một số quặng và song mây. Thuế suất nhập khẩu có 3 loạI: thuế suất ưu đãi,
thuế suất thông thường và thuế suất ưu đãi đặc biệt để áp dụng trong những
trường hợp khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ quan hệ thương mại giữa Việt
Nam với các nước, tạo thuận lợi trong đàm phán về thuế, phù hợp với quy
định quốc tế mà nước ta cam kết thực hiện. Số lượng mức thuế nhập khẩu có
xu hướng giảm. Biểu thuế nhập khẩu hiện hành có 18 mức thuế suất khác
nhau, dài trải từ 0% đến 100%. Các mức thuế cao nhất (100%; 60%) áp dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status