Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
1
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè có lịch sử phát triển lâu đời trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Nhiều
năm qua, cây chè luôn được xác định là cây kinh tế mũi nhọn đối với các
huyện trong vùng sản xuất chè nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung. Chính vì
vậy phát triển cây chè là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của
tỉnh Phú Thọ. Ngành sản xuất và xuất khẩu chè đang ngày càng đóng vai trò
quan trọng và trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, với
80% sản lượng chè của tỉnh được dành cho xuất khẩu. Lợi nhuận từ xuất khẩu
chè đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
Không những thế, xuất khẩu chè và tạo thói quen uống chè cho người nước
ngoài là một trong những biện pháp hữu hiệu trong việc xây dựng và quảng
bá hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam nói chung và quê hương Đất
tổ nói riêng.
Tuy nhiên một thực tế cho thấy chè xuất khẩu của tỉnh chưa thực sự có
uy tín, chưa có chất lượng cao so với các nước trong khu vực và thế giới,
thậm chí ngay cả trong nước. Nguyên nhân cơ bản của vấn đề này nằm ngay
trong những khâu đầu của quy trình sản xuất, từ xây dựng vùng nguyên liệu,
chọn giống, công nghệ chế biến,… Hầu hết các doanh nghiệp chế biến và xuất
khẩu chè đều gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào, giá cả biến động,
sản xuất manh mún, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường. Mặc
dù phần lớn sản lượng chè của tỉnh sản xuất ra dành cho xuất khẩu song chủ
yếu dưới dạng nguyên liệu, chưa định vị được thương hiệu, giá thành thấp,
dẫn đến thu nhập của người trồng và sản xuất chè còn chưa cao. Ngành sản
chè của tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu
sản phẩm chè của tỉnh Phú Thọ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê số liệu, đánh giá thực trạng xuất
khẩu chè của tỉnh Phú Thọ, kết hợp với biện pháp tổng hợp dữ liệu, phân tích
thị trường và dự báo từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu chè của tỉnh Phú Thọ.
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
3
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
5. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu
Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ và tham khảo một số tỉnh lân cận.
Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2002 đến nay và đưa ra một số giải pháp cho giai đoạn tới.
6. Kết quả dự kiến đạt được
Về mặt lý luận: Đề tài làm rõ các vấn đề về xuất khẩu, hoạt động xuất
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước ( từ
nước này sang nước khác) để bán, trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh
toán ( tiền có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc đối với cả hai quốc
gia) hoặc trao đổi láy một hàng hoá khác có giá trị tương đương.
Theo điều 2, Nghị định số 57/1998 NĐ-CP của Chính phủ nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động
bán hàng hoá của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo
các hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất và
chuyển khẩu hàng hoá.
Theo khoản 1 điều 28 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005: Xuất khẩu
hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa
vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật.
Dù hiểu theo nghĩa nào thì hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu
hàng hoá nói riêng đều có những tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tếxã hội của mỗi quốc gia.
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
5
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu hàng hoá
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau nhưng
Xuân
6
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
trường đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải có cán bộ kinh doanh có kinh
nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
Bốn là, buôn bán đối lưu. Đây là phương thức giao dịch trao đổi hàng
hoá trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời
là người mua, lượng hàng giao dịch đi có giá trị tương ứng với lượng hàng
nhận về. Thực chất của hình thức này là sự mở rộng của phương thức giao
dịch hàng đổi hàng.
Năm là, xuất khẩu theo nghị định thư. Hình thức xuất khẩu này nhằm
mục đích thực hiện những thoả thuận đã được ký kết giữa chính phủ của các
quốc gia với nhau. Hình thức xuất khẩu nầy đảm bảo được khả năng thanh
toán là rất cao nhưng đi kèm với nó là liên quan đến uy tín, lợi ích của quốc
gia trên thị trường quốc tế mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp
ứng được.
Sáu là, xuất khẩu tại chỗ. Đây là hình thức mà hàng hoá và dịch vụ có
thể chưa vượt ra khỏi biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó cũng
giống như hoạt động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho
các đoàn ngoại giao, khách du lịch quốc tế,…Hoạt động xuất khẩu này đang
được phổ biến có nhiều ưu điểm như giảm được chi phí vận chuyển, độ rủi ro
thấp.
Bảy là, gia công xuất khẩu. Đây là một hình thức kinh doanh theo đó
một bên nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm từ bên đặt gia công sau đó
chế biến thành thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công.Hình thức này
giúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhận được
các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất. tuy nhiên doanh nghiệp
mãn nhu cầu và thị hiếu thị trường cũng như sức cạnh tranh của hàng hóa so
với các đối thủ khác.
b. Chi phí sản xuất và giá sản phẩm xuất khẩu
Chi phí để tạo ra một hàng hóa là chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm
có xem xét tương quan với chất lượng sản phẩm đó. Chi phí sản xuất hàng
hóa, đặc biệt là nông sản dựa trên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, khu vực.
Các nước có lợi thế so sánh trong hoạt động sản xuất nông sản, nhờ tích lũy
kinh nghiệm qua nhiều thế hệ, cũng như điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các
giống cây phát triển Tuy nhiên, hiện nay cạnh tranh nhằm giảm chi phí sản
xuất nông sản xuất khẩu không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi và
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
8
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
kinh nghiệm trong sản xuất, mà phải dựa trên hiệu quả của tất cả các khâu:
sản xuất, thu mua, vận chuyển, chế biến, kho bãi, cầu cảng… Bên cạnh đó,
chi phí sản xuất chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để nâng cao sức cạnh tranh
cho hàng hóa xuất khẩu, vì nông sản xuất khẩu muốn cạnh tranh với các đối
thủ khác còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiến lược kinh doanh,
marketing, quản trị xuất khẩu, khả năng dự báo và đối phó với những thay đổi
bất thường của thị trường quốc tế…
d. Thị trường và thương hiệu nông sản xuất khẩu trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế
Việc xác định chỉ tiêu cho từng thị trường xuất khẩu nằm trong định
hướng xuất khẩu của các quốc gia dưới áp lực cạnh tranh toàn cầu. Định
hướng thị trường xuất khẩu không những giúp các quốc gia xác định lợi thế
so sánh và yêu cầu từ thị trường từ đó tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa
mà còn hỗ trợ các nhà quản lý xác định và dự báo được quy mô và chủng loại
nông sản xuất khẩu làm cơ sở để đề xuất kế hoạch sản xuất cho kỳ tiếp theo.
Do đó, định hướng thị trường xuất khẩu có tính quyết định tính khả thi của
chiến lược.
Xác định chỉ tiêu thị trường xuất khẩu bao gồm: dự báo nhu cầu gạo trên
thị trường quốc tế (các thị trường truyền thống và các thị trường tiềm năng),
xác định các yêu cầu về đảm bảo an toàn vệ sinh, các quy định kiểm tra, các
yêu cầu về thời gian số lượng.
1.1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu
a. Quan hệ chính trị ngoại giao
Một quốc gia muốn phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu phải có
đường lối chính trị mở cửa hội nhập với thế giới một cách nhất quán và ổn
định lâu dài, có quan hệ ngoại giao cởi mở được thể hiện cụ thể cụ thể bằng
các hiệp định được ký kết và triển khai cụ thể cho từng thời kỳ. Việc thiết lập
quan hệ ngoại giao giữa các nước là điều kiện tiên quyết thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu và tìm thị trường đối tác.
b. Chính sách thương mại của Nhà nước
Chính sách mậu dịch tự do: một nước theo đuổi chính sách mậu dịch tự
do thì ở đó Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp và quá trình điều tiết ngoại
thương, Nhà nước sẽ mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa để cho hàng hoá và
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
nên áp dụng hạn ngạch xuất khẩu trừ những trường hợp các mặt hàng có liên
quan đến an ninh quốc gia như lúa gạo hoặc các hàng hoá xuất khẩu sang
những thị trường mà tại đó có quy định hạn ngạch nhập khẩu.
e. Tỷ giá hối đoái
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
11
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
Tỷ giá hối đoái là một công cụ tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu
một cách gián tiếp, Các nước theo đuổi chính sách hướng về xuất khẩu
thường sử dụng chính sách hạ giá đồng nội tệ, Khi ấy hàng hoá xuất khẩu sẽ
rẻ hơn tương đói so với hàng hoá của các quốc gia khác. Điều này khuyến
khích các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá nhiều hơn, làm tăng thêm GDP
cho nền kinh tế.
f. Quy định hải quan
Hàng hoá xuất khẩu phải được thông qua nhanh chóng. Nếu hoạt động
hải quan phức tạp gây nhiều phiền hà cho người xuất khẩu thì sẽ làm mất cơ
hội kinh doanh cho các doanh nghiệp. Do đó cần phải hoàn thiện quy trình
nghiệp vụ hải quan, áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại phân loại hàng
hoá theo mức độ quan trọng để từ đó thông quan nhanh chóng cho những
hàng hoá thông thường.
Chỉ có những hàng hoá có sức cạnh tranh cao thì mới có thể đứng vững
trên thị trường thế giới. Do đó xuất khẩu giúp cho quốc gia có thể nhận biết
thế mạnh của mình. Từ đó quốc gia tập trung nguồn lực để sản xuất và cung
ứng những sản phẩm thuộc thế mạnh của mình, phân công lao động quốc tế
được hình thành. Nguồn lực sẽ được phân bổ hiệu quả hơn trên cơ sở các
quốc gia đều nhận thấy được lợi thế so sánh của mình.
Xuất khẩu tạo ra cơ hội cho tất cả các quốc gia nhất là các quốc gia đang
phát triển có thể tận dụng được thời cơ, đẩy mạnh công nghiệp hoá trên cơ sở
ứng dụng thành quả cách mạng khoa học công nghệ vào sản xuất.
• Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc
và những nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá
Xuất khẩu là động lực kích thích các ngành sản xuất phát triển, tăng thu
nhập cho nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
Mặc dù không phải là nguồn thu ngoại tệ duy nhất nhưng có thể khẳng
định rằng đây là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu nhất và bền vững nhất. Nguồn
thu quan trọng nhất để nhập khẩu máy móc, công nghệ để phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là từ xuất khẩu. Xuất khẩu vừa là tiền đề, là
động lực của nhập khẩu. Thúc đẩy xuất khẩu để tăng khả năng nhập khẩu mở
rộng sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Đây chính là sự kết hợp giữa nội lực và
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
13
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
14
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
Xuất khẩu tạo nguồn vốn nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, phục
vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng phong phú
của người dân.
Đồng thời sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng
nhiều hơn, năng suất lao động cao. Rõ ràng xuất khẩu tác động tích cực tới
tay nghề và thay đổi thói quen của những người sản xuất hàng xuất khẩu.
• Xuất khẩu là cơ sở để thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại,
tăng cường địa vị kinh tế của mỗi quốc gia trên thị trường thế giới.
Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà phân công lao động quốc tế ra đời. Từ
đó làm các quốc gia phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Các quốc gia sẽ đặt mục
tiêu kinh tế lên hàng đầu thúc đẩy quan hệ ngoại giao phát triển. Đến lượt nó,
quan hệ ngoại giao là điều kiện tiền đề thúc đẩy hoạt động thương mại quốc
tế, đẩy mạnh xuất khẩu.
b. Đới với quốc gia nhập khẩu
Không chỉ có vai trò to lớn đối với quốc gia xuất khẩu, hoạt động xuất
khẩu còn đóng vai trò tích cực trong đời sống kinh tế, đời sống xã hội của
quốc gia tiếp nhận nhập khẩu. Cụ thể như:
- Tiếp nhận nhập khẩu từ quốc gia khác tạo điều kiện cho người tiêu
dùng tại quốc gia đó được tiêu dùng những sản phẩm hàng hoá đa dang,
Cương (Cẩm Khê) với diện tích 60ha. Sau khi nghiên cứu về nông học, để
khai thác hết các tài nguyên thế mạnh của vùng trung du miền núi, năm 1918
toàn quyền Đông Dương đã ký quyết định thành lập Trại nghiên cứu nông
lâm nghiệp Phú Thọ, tiền thân của Viện nghiên cứu chè ngày nay…
Với ưu thế về đất đai, khí hậu tập quán và truyền thống lâu đời của
người dân làm chè Phú Thọ có một lợi thế lớn về sản xuất và chế biến chè, lại
có hệ thống đường xá giao thông cả ba tuyến rất thuận lợi: chính vì những thế
mạnh đó mà ngay từ sau năm 1956 khu công nghiệp chế biến chè đầu tiên của
cả nước do Liên Xô giúp đỡ xây dựng tại Đào Giã (Thanh Ba) và Hương Xạ
(Hạ Hòa) tiếp theo đó đến những năm 1970 các nhà máy Đoan Hùng, Thanh
Sơn....
Hương chè Phú Thọ đã được xuất sang Châu Âu và các nước trên thế
giới. Với những thế mạnh và vị thế cây chè Phú Thọ mà từ những năm đầu
của thập kỷ 90, các công ty tập đoàn kinh tế nước ngoài đã tìm đến Phú Thọ
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
16
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
tạo dựng cơ hội làm ăn. Cho đến nay có thể nói chưa có một địa phương nào,
tỉnh nào có một hệ thống chế biến chè đa dạng tinh xảo và lớn như Phú Thọ…
Vì vậy, Chè trở thành biểu tượng văn hoá của mảnh đất Phú Thọ, gắn bó chặt
17
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
Ngoài chè tươi, long chè (cùi chè xấy khô gồm long xoáy,…), mật ong
chè, phấn hoa cũng là những sản phẩm quí, vừa là món ăn bổ dưỡng, vừa là vị
thuốc bồi bổ sức khoẻ; hạt chè được sử dụng trong các bài thuốc đông y.
- Về giá trị văn hoá - xã hội:
Cây chè, không biết tự bao giờ đã gắn bó với người dân Phú Thọ, nhiều
gia đình đã hết đói nghèo, khấm khá lên từ trồng chè và chế biến chè thành
nhiều loại sản phẩm đa dạng, phong phú hơn như Long chè, nước chè đóng
hộp, mật ong chè, phấn hoa chè, chè sen long chè…
Do giá trị của cây chè, thời phong kiến, nhiều gia đình lấy vườn chè làm
của hồi môn cho con cái đi ở riêng. Đặc biệt, thời phong kiến, các quan lại địa
phương đã đem những sản vật quí cống nạp; trong đó có Chè được đem
đi“Tiến Vua”. Hiện nay vẫn còn di tích cây “Chè Tiến”, hay còn gọi là cây
chè Tổ ở trước cửa Đình Hiến, phường Hồng Châu, Thị xã Phú Thọ.
Vì vậy, Chè trở thành biểu tượng văn hoá của mảnh đất Phú Thọ, gắn bó
chặt chẽ với đời sống của người dân Phú Thọ. Nói đến Phú Thọ, người ta nghĩ
ngay đến “Chè bổ ngập dao phay”. Trong dân gian, nhiều thứ được gắn với
Chè như: Con gái xứ Chè, Mắt đen hạt Chè, Mùi thơm hương Chè, Giọng nói
ngọt như vị Chè…
- Về tính kinh tế nhờ quy mô lớn:
Phú Thọ với địa hình chủ yếu là hệ thống đồi bát úp, đất có độ phì nhiêu
cao độ PH rất thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển. Đặc biệt người
dân ở Phú Thọ đã có truyền thống trồng chè và chế biến chè từ rất lâu đời, cơ
sở chế biến chè xanh, chè đen (Orthordox, CTC) đã được xây dựng ở đây từ
những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20. Tỉnh Phú Thọ có 13 huyện, thành,
thị thì có tới 10 huyện, thị có diện tích chè. Cũng vì những lý do đó mà nhiều
tươi tăng liên tục. Đến nay năng suất chè búp tươi bình quân trên diện tích
cho sản phẩm đạt trên 65 tạ/ha, sản lượng trên 60 nghìn tấn, so với năm 2000
năng suất tăng hơn 18 tạ/ha, sản lượng tăng trên 30 nghìn tấn.
Chính nhờ yếu tố quy mô lớn mà Phú Thọ đã đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng quốc tế về chè nguyên liệu /chè bán thành phẩm với số lượng đặt
mua lớn thường xuyên mà vẫn đảm bảo được chất lượng cao, với giá bán hợp
lý. Điều này cũng lý giải tại sao các doanh nghiệp nước ngoài lại đầu tư xây
dựng nhà máy chế biến chè tại Phú Thọ mà không phải là ở các địa phương
khác (như Thái Nguyên chẳng hạn).
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu chè của tỉnh Phú Thọ
a. Quan hệ chính trị ngoại giao
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
19
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng mạnh mẽ tới xuất khẩu chè
của Việt Nam nói chung và chè của Phú Thọ nói riêng. Việc hội nhập quốc tế
thông qua các hiệp định thương mại song phương và đa phương, tham gia vào
các định chế kinh tế khu vực và quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội thuận lợi để
đưa sản phẩm chè của chúng ta thâm nhập thị trường quốc tế.
b. Chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Phú Thọ
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
Xuất khẩu chè đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do những ràng
buộc trong các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam đã và đang tham
gia. Năm 2003, Việt Nam đưa vào danh mục cắt giảm tới 20% các mặt hàng
có thuế suất cao trong đó có sản phẩm chè. Đồng thời cũng theo cam kết trong
Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ, đến năm 2005, mức thuế trung bình
của hàng hoá từ Mỹ nhập khẩu vào Việt Nam giảm từ 30-40% xuống còn 1029%, trong đó riêng hàng nông sản đã cam kết giảm thuế đối với 195 dòng
thuế, chủ yếu là nông sản chế biến, mức thuế giảm từ 35,5% xuống 25,7%.
Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ sẽ tạo điều kiện cho hàng nông sản
Việt Nam xâm nhập vào thị trường Mỹ do thuế MFN (theo quy chế tối huệ
quốc) thấp hơn nhiều, nhưng cũng lại là thách thức lớn do khả năng cạnh
tranh còn thấp. Đặc biệt, với việc tham gia gia nhập WTO thì việc giảm thiểu
các biện pháp bảo hộ phi thuế quan trong sản xuất nông nghiệp trong nước
cũng như xuất khẩu nông sản trong đó có sản chè là một yêu cầu khắt khe mà
Việt Nam phải thực hiện.
d. Tỷ giá hối đoái
Một trong những yếu tố quan trọng khác là tỷ giá hối đoái. Do các nước
xuất khẩu nông sản trong đó có xuất khẩu chè của Việt Nam chủ yếu giao
dịch bằng đồng đô la nên khi đô la giảm giá sẽ kích thích cầu tăng, áp lực đẩy
giá lên. Ngoài ra, đồng đô la giảm làm cho các nhà đầu cơ có xu hướng
chuyển đầu tư từ nắm giữ đô la sang nắm giữ các hàng hóa trong đó có nông
sản. Những áp lực này đã thúc đẩy tăng cầu, kích thích giá nông sản tăng lên.
Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 6-2008 đồng đô la đã tăng giá mạnh so với đồng
euro, dẫn đến một số tác động làm giảm giá hàng nông sản trong đó có sản
phẩm chè.
Do đa số các nước xuất khẩu nông sản, trong đó có Việt Nam, đều thu
bằng đô la nên giá nông sản tính theo đô la giảm đã ảnh hưởng xấu đến thu
PHAN DIỆU LINH
trường nội địa của các cơ quan quản lý nhà nước, các Hiệp hội chè Việt Nam,
các tổng công ty chè Việt Nam nhằm tạo lập mạng thông tin rộng nhưng có sự
tập trung đủ mạnh, hình thành nên trung tâm có khả năng phân tích, xử lý và
cung cấp thông tin thị trường đến các doanh nghiệp và người sản xuất kinh
doanh một cách nhanh chóng, hiệu quả. Đặc biệt thông tin phản ánh diễn biến
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
22
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
thị trường - giá cả từ các địa phương, các hiệp hội, doanh nghiệp và các bộ,
ngành có ảnh hưởng lớn tới giá trị sản xuất và xuất khẩu.
1.2.4. Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến diện tích, năng suất, sản
lượng chè
a. Khí hậu
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điểm nổi bật là mùa
đông không lạnh lắm, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 oC, lượng mưa
trung bình khoảng 1.600-1800mm. Độ ẩm trung bình khoảng 85-87%.
Nhiệt độ là điều kiện quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển, ảnh
hưởng mạnh mẽ tới quá trình ra búp cũng như chất lượng của chè. Chè thích
hợp ở vùng có nhiệt độ bình quân năm 20 0c – 24oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệt
đối không được vượt quá - 10c (Phú Thọ 4,9oC).
Với lượng mưa như đã đề cập ở trên, cây chè Phú Thọ sẽ được cung cấp
một lượng nước dồi dào để có thể phát triển đạt năng suất cao.
c. Ánh sáng
Cũng như nhiều loại cây trồng khác, để sinh trưởng phát triển tốt, chè
cần đầy đủ ánh sáng và độ thoáng để đảm bảo quá trình quang hợp, hình
thành các hợp chất hữu cơ nuôi thân, cành, lá, chồi và hoa quả; chè không
chịu được nơi quá khô và ánh sáng gay gắt. Cây chè cũng thích hợp nhất với
ánh sáng ôn hoà, lúc đó cây cho hiệu suất quang hợp lá cao nhất. Điều kiện
ánh sáng tại các đồi chè ở Phú Thọ cũng rất phù hợp cho sự phát triển của loại
cây này.
d. Thiên tai
Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới chè, nhất là vào thời gian
chè chổ búp đến khi thu hoạch. Phú Thọ thường chịu ảnh hưởng bởi mưa đá
và lũ ống, lũ quét, làm cản trở quá trình sinh trưởng và gây thiệt hại đến năng
suất và chất lượng của chè, đặc biệt có thể dẫn đến mất mùa chè do thiên tai.
e. Đất đai, thổ nhưỡng
Theo các kết quả khảo sát nghiên cứu, phân tích của các nhà khoa học,
nhằm giải thích về nguyên nhân cũng như các nhân tố tạo nên sự “đặc sắc về
chất lượng” và sự quyến rũ của “hương vị chè đất Tổ Vua Hùng”, thì với đặc
thù là tỉnh miền núi nên đất tỉnh Phú Thọ chủ yếu thuộc nhóm feralit phát
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
24
PHAN DIỆU LINH
Kế hoạch 47A
Chuyên đề Tốt nghiệp
Xuân
25
GVHD: Th.S. Đặng Thị Lệ
Những diện tích thâm canh cây chè, được sự giúp đỡ của các nhà khoa học,
các cơ quan nghiên cứu của Trung ương, tỉnh đã chuyển giao, ứng dụng khoa
học kỹ thuật đến với người sản xuất, cộng với việc cung ứng đủ các vật tư cần
thiết; người nông dân trồng chè đã thành thạo kỹ thuật điều tiết sinh trưởng,
chăm sóc, bón phân hợp lý và khoa học, đồng thời khống chế được sinh trưởng,
cân đối giữa quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực để điều
khiển việc ra búp, tạo được nguyên liệu tốt cho chế biến chè.
- Về giống và chè vụ
+ Giống: Tập đoàn giống có năng suất chất lượng cao như LDP1, LDP2,
chè shan do viên nghiên cứu chè Phú Hộ cung cấp đã từng bước cải tạo và
thay thế giống chè trung du năng suất chất lượng thấp. Trên cơ sở tập đoàn
giống mới, chọn giống thích hợp phục vụ chế biến chè đen, chè xanh xuất
khẩu.
+ Chè vụ: Vụ đông xuân trồng từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Vụ thu
từ tháng 8-9 khi cây cao 1m thì cắt tỉa phủ vào tục cây sẽ phát triển nhanh
1.2.5. Các đối thủ cạnh tranh của chè Phú Thọ
Một số tỉnh như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Sơn
La,…phát triển mạnh việc trồng và tiêu thụ chè, trở thành các đối thủ trực