Khảo sát trường từ vựng “tình yêu” của những bài thơ tình tiếng việt và tiếng anh trong thế kỉ XX - Pdf 37

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
MỤC LỤC

MỤC LỤC..........................................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................................................4
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài.........................................................................................................1
3. Mục đích nghiên cứu................................................................................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................................8
6. Đóng góp của đề tài.................................................................................................................8
7. Kết cấu khóa luận.....................................................................................................................9
NỘI DUNG......................................................................................................................................10
Chương
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU......................................................................................................10
1.1. Từ vựng...............................................................................................................................10
1.1.1. Khái quát về từ vựng........................................................................................................10
1.1.2. Từ trong tiếng Việt...........................................................................................................10
1.1.2.1. Các quan niệm về từ trong tiếng Việt............................................................................10
1.1.2.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt............................................................................................12
1.1.2.3. Các kiểu cấu tạo từ Tiếng Việt.......................................................................................13
1.1.3. Từ trong tiếng Anh...........................................................................................................19
1.1.3.1. Các quan niệm về từ trong tiếng Anh............................................................................19
1.1.3.2. Đặc điểm về cấu trúc từ................................................................................................19

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

I:


TIẾNG

ANH

TRONG THẾ KỈ XX..................................................................................................................................26
2.1. Thơ tình tiếng Việt và tiếng Anh trong thế kỉ XX.................................................................26
2.1.1. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam trong thế kỉ XX.......................................26
2.1.1.1. Nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, cổ vũ chiến
đấu...................................................................................................................................................26
2.1.1.2. Văn học hướng về đại chúng.........................................................................................28
2.1.1.3. Nền văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn........29
2.1.2. Quan niệm về tình yêu của thơ tình trong thế kỉ XX.........................................................31
2.1.2.1. Từ “cái tôi” lãng mạn trong Thơ mới đến “cái ta” lãng mạn cách mạng trong thơ tình yêu
..........................................................................................................................................................31
2.1.2.2. Quan niệm về tình yêu trong thơ tình thế kỉ XX............................................................33
2.1.3. Thơ tình tiếng Anh trong thế kỉ XX...................................................................................35
2.1.3.1. Tình hình thơ tiếng Anh trong thế kỉ XX .......................................................................35
2.1.3.2. Đặc điểm thơ tình tiếng Anh trong thế kỉ XX.................................................................36
Chương
KẾT QUẢ KHẢO SÁT..............................................................................................................................38

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

III:


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên

từ

ngữ

chỉ

hình

ảnh

biểu

tượng

trong

tình

trong thơ tình tiếng Việt và tiếng Anh..................................................................................................40
Bảng 5: Những từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ tình tiếng Việt và tiếng Anh...............................41
Bảng 6: Những từ ngữ chỉ cảm xúc trong thơ tình tiếng Việt và tiếng Anh....................................41
Bảng 7: Những từ ngữ chỉ hành động trong thơ tình tiếng Việt và tiếng Anh................................42

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

yêu


Khóa luận tốt nghiệp



1


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
khác nhau về việc xác định các trường từ vựng cũng như về khái niệm trường
từ vựng. Ngay đến tên gọi cũng thể hiện sự không thống nhất, có người gọi là
Trường nghĩa, nhưng cũng có người gọi là Trường từ vựng hay Trường từ
vựng - ngữ nghĩa…
• Nguyễn Thiện Giáp đã sử dụng khái niệm Trường nghĩa và cho rằng:
xoay quanh vấn đề trường nghĩa, có hai khuynh hướng chủ yếu:
+ Khuynh hướng thứ nhất quan niệm: “Trường nghĩa là toàn bộ các khái
niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện” [9;109]. Tác giả đưa ra hai đại diện
cho khuynh hướng trên là J.Trier và L.Weisgerber cùng với những quan điểm
của họ cũng như nêu ra những hạn chế cơ bản trong quan điểm của hai tác giả
trên. Theo tác giả: “Cơ sở Triết học của lí thuyết trường nghĩa là duy tâm, nó
thoát li thực tế nhận thức thế giới, thoát li bản chất của ngôn ngữ là phương
tiện giao tiếp của con người để sa vào lĩnh vực các tư tưởng thuần túy… Trong
thực tế, cũng không có những biên giới rõ rệt và bất biến giữa các trường khái
niệm và trường từ vựng như J.Trier đã cố gắng chứng minh” [9;110].
+ Khuynh hướng thứ hai lại “cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa
trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học. Trường nghĩa không phải là phạm vi các
khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về
nghĩa” [9;110]. Nguyễn Thiện Giáp đã liệt kê hàng loạt kiểu trường nghĩa như:
trường cấu tạo từ với hai tác giả tiêu biểu là Konradt - Hicking, trường từ vựng
- cú pháp do Muller và Porzing nêu ra,…
Có thể nói, tác giả đã khái quát được phần nào lược sử về trường từ vựng,
giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, dễ tiếp cận hơn với vấn đề này. Tuy
nhiên, công trình này của tác giả chỉ dừng lại ở việc liệt kê, phân tích và đánh

• Mai Ngọc Chừ đã đưa ra khái niệm về trường nghĩa, đồng thời cũng
chấp nhận vấn đề trường nghĩa có nhiều cách gọi khác nhau: Trường từ vựng,
trường từ vựng - ngữ nghĩa,… [7]. Ngoài ra tác giả còn phân loại trường nghĩa
ra làm ba loại: Trường nghĩa biểu vật, Trường nghĩa biểu niệm và Trường nghĩa
liên tưởng. Do mang tính chất là giáo trình, nhập môn nên các tác giả không tập
trung khai thác vấn đề trường từ vựng một cách sâu sắc và chi tiết. Bên cạnh đó,
công trình này cũng chỉ nghiên cứu vấn đề trên bề mặt lí thuyết.
• Vũ Thị Ân đã sử dụng phương pháp định lượng trường nghĩa của từ
“yêu” để tiến hành thống kê định lượng nhằm rút ra những nhận xét chính xác.
Từ đó, đối chiếu với những kết luận của giới phê bình, nghiên cứu về thơ Xuân
SVTH: Trần Thị Thùy Linh

3


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
Diệu bấy lâu nay. Song song với quá trình thống kê, định lượng trường nghĩa từ
“yêu” trong thơ Nguyễn Bính để so sánh điểm khác nhau giữa hai nhà thơ này.
Trên cơ sở lấy từ “yêu” làm từ khóa, tác giả đã phân loại các từ ngữ cùng
trường nghĩa với từ “yêu” thành ba loại: những từ ngữ chỉ những đối tượng của
tình yêu; những từ ngữ chỉ những hành động, những cảm xúc, những trạng thái,
những kết quả của tình yêu; những từ ngữ chỉ những cung bậc, những sắc thái
của tình yêu. Cách chia này đã giúp cho người đọc tiếp cận vấn đề dễ dàng hơn,
tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức thống kê mà chưa đi vào phân tích cụ thể [2].
• Lưu Văn Din chia trường từ vựng - ngữ nghĩa các yếu tố liên quan đến
nước ra làm 5 nhóm trường nghĩa: trường nghĩa chỉ không gian tồn tại của nước;
chỉ dạng thức tồn tại và tính chất của nước; trạng thái vận động của nước; đời
sống sinh hoạt và canh tác của người Việt trong môi trường nước; chỉ cội nguồn
quốc gia, dân tộc, địa bàn sinh sống của người Việt. Trong mỗi nhóm lại có các

• J.Lyons (1996), Linguistic Semantics - An Introduction Cambridge
University Press [28], Widdowson H.G đã đưa ra định nghĩa về ngữ nghĩa như
sau: “Ngữ nghĩa là sự nghiên cứu nghĩa trong ngôn ngữ. Nó liên quan tới ngôn
ngữ mang ý nghĩa là gì.” (Semantics is the study of meaning in language. It is
concerned with what language means.)
• Michail Mc Cathy Felicity O’Dell (2005), Collocation In Use,
Cambridge University Press [29], John Lyons cho rằng ngữ nghĩa là kết quả của
một quá trình trừu tượng hóa những từ tổng hợp sử dụng từ ngữ trong những câu
nói cụ thể.
3. Mục đích nghiên cứu
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa
và những công trình liên quan đến trường từ vựng về tình yêu, nhưng hầu hết
các công trình chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sâu trên từng đối tượng của từng
ngôn ngữ. Chưa thấy có công trình nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu trường từ
vựng “tình yêu” của những bài thơ tình viết bằng hai ngôn ngữ tiếng Việt và
tiếng Anh. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những giá trị của các công trình nghiên
cứu trước, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát trường từ vựng
“tình yêu” của những bài thơ tình tiếng Việt và tiếng Anh trong thế kỉ XX”
với những mục đích sau:

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

5


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
+ Nhằm nâng cao khả năng ngôn ngữ của người học ngôn ngữ. Bởi lẽ,
trong quá trình học ngôn ngữ (Việt - Anh), việc nắm vững các sắc thái ý nghĩa
và cách sử dụng từ ngữ đóng vai trò rất quan trọng.

Khóa luận tốt nghiệp
Quê hương - Giang Nam

GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên

Hoa Chanh - Nguyễn Bao
Em phương xa - Thi Hoàng
Đám cưới giữa mùa xuân - Viễn Phương
Hương Thầm - Phan Thị Thanh Nhàn
Bài thơ về hạnh phúc - Dương Hương Ly
Nhớ - Hoàng Thị Minh Khai
Những mùa trăng chờ - Lê Thị May
Anh viết bài thơ - Huy Cận
Đêm sao sáng - Nguyễn Bính.
Những bài thơ tình tiếng Anh gồm:
A Note On Wyatt - Kingsley Amis
You Therefore - Reginald Shepherd
Poem to an Unnameable - Dorothea Lasky
Lines Depicting Simple Happiness - Peter Gizzi
Love is more thicker than forget - E.E.Cummings
Poem for my love - June Jordan
I love you - Ella Wheeler Wilcox
Bird-Understander - Craig Arnold
Recitative - A.E.Stallings
Electra - Herrick
Gentle lady, do not sing - Jame Joyce
Simples - Jame Joyce
I’ll open the window - Anna Swir
Your and Mine - Alice Fulton
Dear one absent this long while - Lisa Olstein

ngôn ngữ Việt-Anh.
6.2. Về mặt thực tiễn, đề tài khóa luận này góp phần tìm hiểu những đặc
điểm, ý nghĩa của trường từ vựng về tình yêu trong những bài thơ tình tiếng Việt
và tiếng Anh trong thế kỉ XX. Ngoài ra, bài nghiên cứu sẽ trở thành một tài liệu
hữu ích cho những người học ngôn ngữ, đặc biệt là giúp cho thế hệ trẻ ngày nay
hiểu thêm những lớp từ ngữ được sử dụng trong thế kỉ XX. Hơn thế nữa, nó còn
giúp cho công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được dễ dàng và
chính xác hơn cũng như giúp cho sinh viên, học viên người Việt Nam nắm rõ
được hệ thống trường từ vựng “tình yêu” của những bài thơ tình trong thế kỉ XX

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

8


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
nhằm kế thừa và phát huy phong phú hơn nữa vốn từ ngữ thuộc trường từ vựng
“tình yêu” nói riêng và hệ thống trường từ vựng tiếng Việt nói chung.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo; nội dung khóa luận tốt
nghiệp này được chia thành 3 chương:
Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Chương II: Khái quát về thơ tình tiếng Việt và tiếng Anh trong thế kỉ XX.
Chương III: Kết quả khảo sát.

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

9


tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllable),
đơn tiết (monosyllable) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm,
hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ
SVTH: Trần Thị Thùy Linh

10


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là
âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó
thành một trục duy nhất, âm tiết [10;18].
• Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý
nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền
[10;168].
b. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết
• Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng trong
ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra
được [10;18].
• Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất
(vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử [10; 20].
• Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi
đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh
về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp [10;20 và 21].
• Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện
thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính
vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [17;104].
• Ðái Xuân Ninh: Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình
vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó

chúng được sử dụng như đơn vị cấu tạo từ khi được tiếp nhận vào tiếng Việt.
Những tiếng ấy không có khả năng tồn tại độc lập mà phải kết hợp với một số
yếu tố khác mới hoạt động tự do trong câu.
∗ Ví dụ: gia trong quốc gia, hà trong sơn hà, dàng trong dễ dàng, …
− Từ tiếng Việt có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng không có biến
thể hình thái học như trong tiếng Anh
∗ Ví dụ: Trong tiếng Anh: “to drink” có thể biến thể theo quan hệ ngữ
pháp khác nhau trong câu:
To drink → drinks: She often drinks water every morning. (thì hiện tại,
chủ từ là ngôi thứ ba số ít).
To drink → drank: I drank beer last night. (thì quá khứ, sử dụng không
phụ thuộc vào chủ từ).
Trong tiếng Việt: trong hai câu “Cô ấy thường uống nước vào mỗi buổi
sáng” hay “Tôi đã uống bia vào tối qua.” không hề có biến thể hình thái học
theo mọi quan hệ ngữ pháp. Dù ở thì hiện tại hay quá khứ, cũng như thay đổi
chủ từ thì động từ “uống” vẫn không thay đổi. Còn việc người miền Nam nói
“qua” thành “goa”, “không” thành “hông”, hay miền Bắc nói “lá” thành
“ná”, “trời” thành “giời” ,… thì không phải là biến thể hình thái học mà chỉ là
biến âm do thói quen phát âm của từng địa phương.

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

12


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
− Nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ từ, mà được
thể hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu.
Trong tiếng Anh: nhìn vào hình thái của từ, người ta có thể xác định được

∗ Ví dụ: xà phòng, ba hoa, mè nheo,…

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

13


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
Tóm lại, trong tiếng Việt có các kiểu cấu tạo từ: từ đơn, từ ghép, từ láy, từ
ngẫu kết.
a.Từ đơn
Là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập.
∗ Ví dụ: trường, lớp, xanh, đỏ, yêu, ghét,…
− Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số
từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ được vay mượn từ các ngôn ngữ nước
ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,...
− Xét về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh
hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên,
các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm,...
− Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy (theo
thống kê của A.Derode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt)
nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị
các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt.
b. Từ ghép
Là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên
quan hệ ý nghĩa.
Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm hai
loại chính:
• Từ ghép đẳng lập:

∗ Ví dụ: từ “giày dép” chỉ đồ mang ở chân nói chung, trong đó có cả giày

lẫn dép.
+ Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa
AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng
với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ.
∗ Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm...
+ Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: bao gồm những từ ghép nằm trong mô

hình ngữ nghĩa AB > A+B. Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không phải chỉ
là phép cộng đơn thuần nghĩa của các thành tố, mà nó là sự tổng hợp nghĩa của
các thành tố kèm theo sự trừu tượng hóa dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hay
hoán dụ. Do đó, nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố.
∗ Ví dụ: từ “gan dạ” không chỉ gan và dạ nói chung hay chỉ gan và dạ,
mà hai yếu tố được hợp lại để chỉ sự mạnh mẽ, không lùi bước trước nguy hiểm.
Lưu ý: Khả năng hoán vị giữa các thành tố trong từ ghép đẳng lập. Có thể
nêu một số nhận xét như sau:

SVTH: Trần Thị Thùy Linh

15


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
− Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp
không có yếu tố Hán - Việt.
∗ Ví dụ: quần áo - áo quần, tươi tốt - tốt tươi,…
− Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa,
đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa.

GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy, có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng
này là tác dụng phân loại.
∗ Ví dụ: nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, nhà nho, nhà buôn,…
làm dâu, làm duyên, làm ruộng, làm giàu,…
vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…
+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ
có tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác
với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép
sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa.
∗ Ví dụ:

Xanh biếc, xanh đậm, xanh lè, xanh nhạt,…
Ốm nhách, ốm nhom, ốm teo, ốm tong,…
Đen thui, đen ngòm, đen sì, đen kịt,…
∗ Ví dụ: so sánh “đen thui” với “đen sì” thì ta có thể phân biệt dễ dàng

nhờ vào các thành tố phụ có tác dụng bổ sung sắc thái ý nghĩa cho từ.
c. Từ láy

Đến nay, vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về vấn đề từ láy, nếu xét
trên quan điểm đồng đại thì tạm thời chấp nhận: Từ láy là những từ gồm nhiều
tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.
Từ láy có những đặc điểm sau:
− Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu
hiện ở một trong các dạng sau:
+ Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu.
∗ Ví dụ: rung rinh, long lanh, nhẹ nhàng,…
+ Hoặc giống nhau ở phần vần.
∗ Ví dụ: đo đỏ, phơi phới, sừng sững,…

tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không phải
thuộc bản ngữ.
Phân loại từ láy:
Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có
thể phân chia từ láy thành các loại:
• Từ láy đôi: là từ láy gồm có hai tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi
như sau:
− Từ láy bộ phận: từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu.
+ Giống nhau ở phần phụ âm đầu gọi là láy âm.
∗ Ví dụ: mơn mởn, đung đưa, gần gũi,…
+ Giống nhau ở phần vần gọi là láy vần.
∗ Ví dụ: lác đác, lom khom, lanh chanh,…
− Từ láy hoàn toàn: ngoài những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn
toàn. Gồm các dạng:
+ Giống cả phần vần, phụ âm đầu, và cả thanh điệu.
∗ Ví dụ: ào ào, xanh xanh, đùng đùng,…
+ Giống phần vần, phụ âm đầu, khác thanh điệu.

∗ Ví dụ: đu đủ, đo đỏ, mằn mặn,…
+ Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm
cuối do sự chi phối của quy luật dị hóa.
∗ Ví dụ: bàng bạc, sành sạch, ngòn ngọt, …
SVTH: Trần Thị Thùy Linh

18


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
− Từ láy ba và từ láy tư: có số lượng không nhiều, chủ yếu dựa trên cơ


19


Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Ngô Thị Khai Nguyên
Từ tiếng Anh được chia làm ba loại từ dựa vào số lượng và chất lượng
hình vị (morpheme) được cấu trúc:
− Từ đơn (simple word): chứa một hình vị tự do tự nghĩa (free
morpheme).
∗ Ví dụ: baby, agree, cake, flower,…
− Từ phức (complex word): chứa một hình vị tự do tự nghĩa và một hoặc
nhiều hình vị phụ thuộc phụ nghĩa (bound morpheme) (tức là các tiếp tố (affix)
như tiền tố (prefix), hậu tố (suffix), trung tố (infix)… nếu dựa vào vị trí của các
hình vị phụ thuộc trong từ). Nếu các hình vị phụ thuộc làm từ gốc phái sinh ra từ
mới có nghĩa mới, thuộc từ loại mới thì các từ loại này được gọi là từ phái sinh
(derived word).
∗ Ví dụ: lockable, helpful, sadden,…
− Từ ghép (compound word): chứa từ hai hoặc nhiều hình vị tự do tự
nghĩa và có thể có một hoặc nhiều hình vị phụ thuộc phụ nghĩa.
∗ Ví dụ: girlfriend, lifetime, grandmother, sunflower,…
1.1.3.3. Đặc điểm về cấu tạo từ
Trong tiếng Anh có 8 phương thức cấu tạo từ mới cơ bản:
− Phương thức tiếp tố (affixation): trong ngôn ngữ học, phương thức tiếp
tố là quá trình của việc thêm một hình vị (hoặc tiếp tố) vào một từ để tạo ra một
từ với hình thức khác hoặc một từ mới với nghĩa khác. Phương thức tiếp tố là
cách phổ biến nhất để tạo ra một từ mới trong tiếng Anh.
∗ Ví dụ: unhappy, educational, achievement…
− Phương thức chuyển loại (conversion): là sự sáng tạo của một từ mới từ
một từ gốc mà không cần bất kỳ một sự thay đổi nào về hình thức.


SVTH: Trần Thị Thùy Linh

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status