Bước đầu khảo sát vốn từ vựng trong thơ Phạm Hổ - Pdf 27

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bước đầu khảo sát vốn từ vựng trong thơ Phạm Hổ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu và hoàn chỉnh nhất của nền văn hoá nhân
dân. Nó vốn là công cụ để biểu hiện để tích luỹ và mở rộng các khái niệm, tư
duy nhận thức và là phương tiện để hình thành ý thức con người, ho nên ngôn
ngữ phục vụ cho những mục đích bình thường hàng ngày và cho cả những mục
đích cao cả của cuộc sống. Ngôn ngữ là thực thể trực tiếp cùa tư duy. Với trẻ em
ngôn ngữ có vai trò quan trọng. Trẻ em tiếp thu những khái niệm cơ bản đầu tiên
và cụ thể là từ những vật chất xung quanh thông qua sự phân tích của mình. Từ
ngữ sẽ giúp các em củng cố những khái niệm thu lượm được bằng con đường
cảm thụ chính vì vai trò quan trọng của ngôn ngữ với trẻ như vậy, nên giáo dục
ngôn ngữ cho trẻ phải bắt đầu từ rất sớm, khi các em òn bé và phải thực hiện sự
giáo dục ấy bằng tiếng mẹ đẻ. Theo thời gian, cùng với sự phát triển về tư duy là
sự phát triển của ngôn ngữ. Chính vì vậy, chúng tôi muốn tìm hiểu sự biến đổi
ngôn ngữ, cụ thể là sự thay đổi vốn từ vựng qua các giai đoạn trưởng thành của
trẻ.
Một trong những lí do khiến chúng tôi lựa chọn khi Phạm Hổ làm phạm
vi nghiên cứu bởi lẽ ông là một trong số không nhiều những cây bút xuất sắc
trong lĩnh vực thơ Việt cho thiếu nhi.
Trên cơ sở khảo sát thơ Phạm Hổ, chúng tôi muốn tìm hiểu sự tác động
của thơ Phạm Hổ (cụ thể là số lượng từ vựng trong thơ viết cho thiếu nhi của
ông) dối với quá trình phát triển tư duy nhận thức và làm giàu.
2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm Hổ không chỉ viết thơ mà tài năng của ông còn được thể hiện bộc lộ
trong nhiều thể loại khác như truyện ngắn, thơ dành cho người lớn... Song xuất
phát từ mục đích của đề tài này, chúng tôi đã thu hẹp phạm vi tìm hiểu qua 9 tập
thơ viết cho thiếu nhi của ông được trích trong “ Tuyển tập thơ Phạm Hổ ”.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Với 140 bài thơ đã bước đầu khảo sát vốn từ vựng trong 140 bài thơ của

nhiều thể loại, hình thức khác nhau: thơ 2 chữ, 3 chữ, 4 chữ, thậm chí là những
bài thơ có sự kết hợp của nhiều thể thơ khác nhau. Chính sự phóng khóang trong
hình thức như vậy đã làm cho thơ có khả năng xóa bỏ những hạn chế vẫn
thường tồn tại trong văn xuôi. Ngôn ngữ thơ không dày đặc như ngôn ngữ văn
xuôi, mà chia cắt ra thành các phần ngắn hay dài âm luật. Sự đa dạng về thể loại,
hình thức thơ đã dẫn đến sự đa dạng về nhịp điệu. Nhịp điệu là sự nối tiếp của
các tiếng sắp xếp thành từng khung đều đặn của giọng nói và theo thời gian.
Trong bài hát thơ làm thành nội dung của âm nhạc, rồi thơ tách ra dần. Thơ kể
cho ta nghe một câu chuyện có sự cô đọng nội tại của riêng nó và độc lập với
hình thức nhịp điệu. Nhịp điệu ấy trước hết được tạo nên bởi cách sử dụng từ
ngữ, cách gieo vần theo chủ ý của người sáng tác. Nhưng điều quan trọng hơn là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
từ nhịp điệu thơ người ta hiểu được nhịp điệu của cảm xúc của người sáng tác,
ứng với một nhịp điệu là một cung bậc khác nhau trong thế giới xúc cảm phong
phú của con người. Khác với văn xuôi, để thể hiện một ý tưởng nào đó, nhà văn
có thể thể hiện nó trong một đoạn văn ngắn hoặc cũng có thể giấu nó trong một
bài trường ca. Nhưng trong thơ, tính hàm súc cô dọng lại được đặt lên hàng đầu.
“Phép làm thơ thật khó lắm thay! Thơ luật chỉ có 56 chữ, thơ tuyệt cú chỉ có 28
chữ, mà đủ cả mọi thể cách. Muốn thơ cổ kính thanh đạm thì lại gần với thô,
muốn đẹp đẽ thì lại gần với lòe loẹt, hào phóng thì dễ tới chỗ buông thả, thật thà
thì dễ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời ý giản dị, mạch lạc, đầy đủ, thông suốt, chất
phác mà vẫn nhã, mới lạ mà không trúc trắc, cao siêu mà vẫn có giọng ôn hòa.”
[7; ]. Muốn thể hiện một thông điệp trọn vẹn trong một giới hạn về dung lượng
như vậy, người nghệ sỹ cần thể hiện sự tinh tế của mình trong việc tìm tứ thơ và
sử dụng từ ngữ. Từ ngữ trong thơ chứa đựng tiếng vang cảm giác của các chữ
trong sự kết hợp của chúng. Tố Hữu đã từng chỉ rõ rằng: “ Chữ nghĩa không chỉ
là chữ a chữ b, mà cả cái tiếng vang lên trong chữ, tiếng vang của cả khoảng
cách giữa những chữ, những dòng.” Chính tiếng vang trong mỗi chữ, mỗi dòng
ấy sẽ vang lên đồng diệu với tiếng vang của nhịp xúc cảm thể hiện qua mỗi bài
thơ.

tượng của nhận thức và ngữ ngôn. Tách khỏi thế giới vật thể, ngôn ngữ không
thể phát triển được. Điều này sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sự phát triển của trẻ một
khi ngôn ngữ của chúng phát triển chậm trễ thì sự tiếp cận của chúng đối với thế
giới xung quanh cũng không thể toàn diện được. Trẻ em tiếp thu những khái
niệm cơ bản đầu tiên và cụ thể từ môi trường vật chất chung quanh thông qua sự
phân tích của mình. Từ ngữ sẽ giúp cho trẻ củng cố những khái niệm thu lượm
được bằng con đường cảm thụ. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em liên hệ chặt
chẽ với sự phát triển cảm giác của chúng. Vì thế, để cho ngôn ngữ của trẻ em -
thứ ngôn ngữ phản ánh một cách rõ ràng và minh bạch thế giới vật thể xung
quanh, đem lại cho các em hiểu biết tích cực, được phát triển đúng đắn, thì các
em cần phải được sinh hoạt trong một môi trường của vật thể, các em phải được
giáo dục ngôn ngữ ngay từ những ngày đầu để có thể có được tiếng nói chuẩn và
vốn từ ngữ phong phú. chính kết quả quan sát hiện thực cuộc sống trong quá
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trình chơi và lao động sẽ được phản ánh trong các từ ngữ.
2.2. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ qua các thời kỳ
Cùng với sự phát triển về mặt sinh lí của cơ thể, tư duy, ngôn ngữ trẻ em
cũng phát triển và có nhiều thay đổi qua từng giai đoạn. Xuất phát từ mục đích
nghiên cứu, chúng tôi chỉ để cập đến sự phát triển lời nói, vốn từ của các em từ
khi biết nói cho đến bậc tiểu học.
Ngay từ khi trong giai đoạn từ 6 đến 9 tháng tuổi trẻ đã xuất hiện nhu cầu
phát triển tiếng nói. Điều này thể hiện ở chỗ trẻ chẳng những vui mừng khi được
tiếp chuyện với người lớn, mà chúng cũng đã bắt đầu hiểu được một vài chữ và
thực hiện theo. Trong giai đoạn trẻ 1 tuổi, thông qua việc tập nói, bắt chước âm
thanh và hiểu lời nói, sẽ hình thành những từ ngữ có nghĩa đầu tiên. Đến khi
được 1 tuổi, trẻ đã có thể nói được từ 7 đến 10 từ. Bắt đầu từ thời kỳ này trở đi,
việc phát triển chăm lo, bồi dưỡng ngôn từ cho trẻ là điều hết sức cần thiết. Vì
trong giai đoạn này những từ trẻ học được sẽ là vốn từ cơ bản cho việc hình
thành lời nói của trẻ, tác động nhận thức của chúng.
Nếu như trong thời kỳ 1 tuổi, phần lớn trẻ chỉ có thể phát âm được những

hiểu vừa có thể mở rộng vốn từ của trẻ theo hướng tích cực.
2.3. Vai trò của thơ ca đối với nhận thức và phát triển ngôn ngữ trẻ
Trẻ em rất yêu thơ, thích thơ và đọc thơ. Ngay từ khi biết nhận thức, các
em đã sớm quan tâm đến thế giới âm thanh có phản ứng nhạy bén với nó và có
một sự cảm thụ kỳ lạ đối với việc tiếp thu nhịp điệu. Các em tiếp thu các quy
luật về nhịp điệu nhanh và nhẹ nhàng hơn là thế giới của hình thức và màu sắc.
Chính vì thế mà những bài thơ có thể gây cho các em ấn tượng sâu sắc.
Một bài thơ hay chính là một bản nhạc. Các em bé nhất cũng đã có thể
lĩnh hội được nhịp điệu của nó, đã có khả năng cảm thấy thích thú với âm điệu
của câu thơ, với cái đẹp của sự hài hoà trong thơ. Những sự tiếp thu bằng âm
thanh kiểu ấy, đối lúc đi kèm theo sự tiếp nhận cả nội dung có một ý nghĩa rất
rộng lớn trong sự phát triển khiếu thẩm mỹ và ngôn ngữ trẻ em. Đứa bé càng
nhỏ tuổi chừng nào thì nhịp điệu câu thơ càng phải rõ nét chừng ấy, hình ảnh
nghệ thuật của thơ phải đơn giản chừng ấy. Điều ấy đòi hỏi người nghệ sĩ khi
muốn những bài thơ của mình đến được với các em thì cần phải hiểu được tâm lí
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
và đặc điểm đời sống cũng như nhu cầu nhận thức của các em để có những sáng
tác phù hợp.
Xét trên bình diện ngôn ngữ học, thơ ca có những tác động tích cực đối
với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ. Mỗi một đoạn thơ học thuộc lòng là
một vốn từ rất lớn sẽ làm giàu và phát triển ngôn ngữ các em. Bất cứ một tác
phẩm thơ ca nào đó viết cho các em cần phải đáp ứng được các yêu cầu: sự giản
đơn và khúc chiết của nhịp điệu, câu thơ và bài thơ phải ngắn, hình ảnh trong
thơ phải giản đơn và gần gũi với các em, không có những đoạn mô tả và hư cấu
có trình độ cao. Mỗi bài thơ đều có cách tiếp cận riêng ở nhiều khía cạnh nhưng
các em không nhất thiết với hiểu tất cả những khía cạnh của bài thơ. Việc yêu
cầu các em hiểu được tất cả các khía cạnh và chi tiết cũng như nội dung của tác
phẩm chỉ đúng với văn xuôi vì nhiệm vụ của nó là truyền đạt cho các em những
sự việc cụ thể. Nhưng điều đó không đúng với các tác phẩm thơ ca. Trong thơ
ca, các em chỉ cần hiểu cái chung nhất, cái chính nhất, phần còn lại có thể đi qua

nhận diện từ trong tiếng Việt ví dụ như:
“Từ là đơn vị nhỏ nhất, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có
chúc năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo
câu”. [1,142]
“Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức”.
[2,61]
“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất
cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để
tạo câu”. [4;16]
“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo
câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”. [3;69]
Các nhà Việt ngữ học đã xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu, những
khía cạnh khác nhau của từ để đưa ra định nghĩa, quan điểm về từ của riêng họ.
Từ các định nghĩa trên, có thể rút ra một đặc điểm chung của từ tiếng Việt là một
đơn vị có tính chất hai mặt: mặt hình thức và mặt nội dung. Từ tiếng Việt là một
đơn vị ngôn ngữ có hình thức ngữ âm, nội dung, ngữ nghĩa ổn định (tính định
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
danh của từ) và hoạt động độc lập trong lời nói (tức là khả năng tách biệt khỏi
những từ bên cạnh). Từ là một đơn vị thực tế mà người nói có thể cảm nhận
được. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã chọn một khái niệm về từ để làm
việc như sau:
“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo
câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”. [3;69]
Tóm lại, từ chẳng những là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ
bản của ngôn ngữ nói chung.
3.2. Từ đơn
Căn cứ vào cấu tạo từ, từ tiếng Việt được chia ra thành các kiểu từ, bao
gồm: từ đơn, từ ngẫu hợp, từ ghép, từ láy. Khi gọi là “từ đơn”, “từ ghép”, hay
“từ láy”, điều này có nghĩa là các nhà ngôn ngữ học đã căn cứ vào số lượng hình

thành tố cấu tạo kia, trong đó thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hóa
cho thành tố chính. Chẳng hạn các từ: tàu hỏa, cà chua, dưa hấu, xanh lè, là
những từ ghép chính phụ. Xét về tính chất, từ ghép chính phụ do quan hệ chính
phụ sinh ra nên trật tự của nó là trật tự cố định, không dễ thay đổi.Ví dụ “hải
quân” không thể đảo ngược trật tự thành “quân hải”. Về mặt ngữ nghĩa, nếu các
tiếng cấu tạo từ ghép có cùng tính chất thì nghĩa của thành tố chính qui định ý
nghĩa chung của toàn tổ hợp, nghĩa của thành tố phụ có vai trò thu hẹp phạm vi
nghĩa của thành tố chính (ví dụ:: tàu hỏa, cỏ gà). Trong trường hợp, các tiếng có
tính chất khác nhau, thì nghĩa của thành tố chính quyết định nghĩa của cả từ, ví
dụ từ “thí điểm”.
Nhận diện từ ghép không phải là một vấn đề đơn giản đối với trẻ. Chính
vì thế, với nhận thức lý luận về từ ghép như vậy, sẽ giúp ta lựa chọn chính xác
những từ ghép trong thơ Phạm Hổ làm phong phú thêm vốn từ vựng cho các em.
3.4. Từ láy
Nếu phương thức tổ hợp các tiếng dựa trên mối quan hệ về nghĩa cho ta
các từ ghép, thì phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ta
các từ láy(còn gọi là từ kép láy, từ láy âm). Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa về từ
láy như sau:
“Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy. Đó là phương
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thức láy toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết(với thanh điệu giữ nguyên hay
biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm,
gồm nhóm cao: thanh hỏi,thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền,
thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay một đơn vị có nghĩa.”. [4;40]
GS.Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa về từ láy:
“Ngữ láy âm là đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay sự lặp
lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có.Chúng vừa có sự hài hòa
về mặt ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả”.[3;86]
Các định nghĩa trên, đã chứng tỏ một điểm chung trong quan niệm của
các nhà Việt ngữ học về từ láy. Họ đều lấy tính chất giống nhau ỏ một mức độ

yêu thích con trẻ cầm bút. Nhưng điều tưởng chừng rất dễ ấy lại khó thực hiện
biết bao. Bởi lẽ nhận thức, suy nghĩ của trẻ còn hạn chế, làm thế nào để trẻ chấp
nhận, yêu thích những sáng tác của mình điều ấy phụ thuộc vào tài năng người
nghệ sỹ. Thơ cho thiếu nhi có nhiều, nhưng đứng được với thời gian, con số ấy
không nhiều. Phạm Hổ nhà thơ đã dành cả cuộc đời mình để đem lại niềm vui
cho các em - là một trong số ít những nhà thơ mà tiếng thơ của ông có ảnh
hưởng khá lớn đến các em thiếu nhi.
Chúng tôi đã tiến hành khẻo sát 104 bài thơ vioết cho thiếu nhi của Phạm
Hổ và nhận thấy cả một thế giới phong phú đa dạng biết bao đang hiện dần ra
trước mắt mình. Này đây là “ngôn ngữ bạn ồn ào”, “ngôn ngưqx người bạn im
lặng”, “này đây là chú vịt bông” rất đỗi dễ thương, này đây là “những người bạn
nhỏ” xinh xắn, rồi sau đó là cả một không gian rộng với đất nước Việt Nam tươi
đẹp, với những người “em thích em yêu”. Ngòi bút giản dị nhưng tinh tế của
Phạm Hổ đã cung cấp cho các em những hiểu biết giản dị và cơ bản nhất về thế
giới vạn vật xung quanh. Đó là thế giới của các loài quả như: quả "Khế", quả
"na", quả dứa...,các loài vật đáng yêu "gà con và quả trứng", "Ngỗng và vịt"...
Đến với thơ Phạm Hổ các em như được bước vào một không gian rực rỡ sắc
màu, tràn ngập âm thanh. Nghệ thuật mô phỏng âm thanh tự nhiên đã làm cho
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
không gian trong thơ Phạm Hổ đầy chất sống. Trẻ thơ tiếp xúc với thế giới xung
quanh bằng các giác quan của mình, các em lắng nghe, quan sát, sờ mó, để được
thấy, được biết, được hiểu và ghi nhận những âm thanh, những hình ảnh từ thế
giới bên ngoài vào trong tâm hồn mình. Phạm Hổ hiểu được điều đó và ông đã
bước những bước chân với những nhịp tuyệt vời để đưa vào trong thơ mình
những âm thanh sống động của cuộc sống đó là cách tác động trực tiếp, mạnh
mẽ nhất tới giác quan của trẻ nhỏ. Qua đó các em có thể nghe thấy rất nhiều
tiếng động tiếng kêu, hình dung được nhiều động, tác hành động được miêu tả
trong bài. Đây là tiếng "ấm và chảo", kia là tiếng còi tí...te,tí...te của "Xe chữa
cháy".
Thơ Phạm Hổ không chỉ tái hiện một thế giới mới lạ với vô vàn điều lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status