Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Lời nói đầu
Ai cũng ớc mong có cuộc sống an sinh hạnh phúc, nhng quy luật của
tạo hoá là sinh ra, lớn lên và già yếu, đi theo đó là những rủi ro, ốm đau
hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào.
Với trí óc thiên phú, con ngời luôn có những phát kiến khoa học về tự
nhiên và xã hội để chế nhự thiên nhiên khắc phục những bất biến khác thờng của quy luật, đa xã hội không ngừng phát triển. Bảo hiểm xã hội là một
phát kiến văn minh nhân loại về khoa học xã hội. Kết hợp với khoa hoc tự
nhiên để giữ gìn và bảo vệ cuộc sống sức khoẻ của con ngời.
Bảo hiểm ra đời và trở thành giải phát hữu hiệu giúp con ngời vợt qua
những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống trong quá trình lao động. Đồng
thời, góp phần nhanh sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc.
Quỹ Bảo hiểm xã hội là xơng sống của bất kỳ một hệ thống Bảo hiểm
xã hội nào. Bởi lẽ các chế độ Bảo hiểm xã hội đều nhằm mục đích đảm bảo
an toàn đời sống của ngời lao động, muốn vậy cơ quan Bảo hiểm xã hội
phải có một lợng quỹ dự phòng nhất định.
Trong những năm qua, quá trình tạo lập và sử dụng quỹ Bảo hiểm xã
hội của cơ quan Bảo hiểm thành phố Việt Trì - Phú Thọ đã thu đợc nhiều
thành tựu nh: phí thu ngày càng tăng, chi trả đúng đối tợng, luôn hoàn
thành kế hoạch do Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ... Tuy nhiên, trong quá
trình trên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập nh: Cha khai thác hết lực lợng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội, vẫn tồn tại tình trạng trục lợi Bảo
hiểm xã hội của các cá nhân và tổ chức. Nh vậy vấn đề thu - chi có ý nghĩa
lớn đối với sự phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt nam cũng nh Bảo hiểm
xã hội các tỉnh, thành phố và huyện trong đó có Bảo hiểm xã hội thành phố
Việt Trì. Tất nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn luận trên nhiều khía cạnh
khác nhau và đa ra giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của Bảo hiểm xã hội. Đây cũng chính là mục đích của việc nghiên cứu đề
BHXH tại BHXH thành phố Việt Trì- Phú Thọ.
Với sự hớng dẫn tận tình của cô:Ths.Nguyễn Thị Lệ Huyền, em đã hoàn
thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài: Công tác thu chi quỹ
bảo hiểm xã hội tai bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì -phú Thọ.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Chơng I
Những vấn đề cơ bản về BHXH
I/ Quá trình hình thành và phát triển BHXH.
1- Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngời, khả năng sáng tạo ra của
cải vật chất của ngời lao động ngày càng cao hơn cho phép đáp ứng ngày
càng cao những nhu cầu phong phú về vật chất cũng nh tinh thần. Nhng
nh vậy cũng có nghĩa là con ngời ngày càng phải đối mặt với những hậu
quả tất yếu của nền kinh tế xã hội phát triển cao. Đặc biệt là từ sự phát triển
công nghiệp hoá, một tầng lớp lao động mới ra đời. Đó là tầng lớp lao động
làm công ăn lơng, lấy tiền lơng làm nguồn sống chủ yếu. Nếu tiền lơng bị
giảm sút hoặc không còn thì rất dễ rơi vào cảnh cùng khốn. Tiền lơng bị
giảm sút hoặc không còn, trớc hết do những trờng hợp bị ốm đau, tai nạn
lao động, mất việc làm, già yếu hết khả năng lao động... Trớc những rủi ro
nh trên, bản thân từng ngời phải chống đỡ chật vật, nhất là đối với những
cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết phải
tiến hành bảo hiểm cho ngời lao động.
Những ngời làm công phải hoàn toàn dựa vào tiền lơng làm nguồn
sống chủ yếu khi ốm đau, tai nạn, sinh đẻ... thì phải nghỉ việc và không có
lơng, cuộc sống bị đe doạ. Ngời lao động đã ý thức đợc sự cần thiết phải có
thu nhập đề phòng khi họ gặp rủi ro, tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi
giới chủ phải cam kết đảm bảo một số thu nhập nhất định để họ trang trải
những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, thai sản... Lúc đầu giới chủ cam kết
đảm bảo cho ngời lao động những khoản thu nhập nhất định đó. Song nhiều
khi rủi ro sảy ra liên tục buộc ngời chủ phải chi ra một khoản tiền lớn mà
họ không muốn. Do vậy, giới chủ đã chi ít hơn nên xuất hiện mâu thuẫn và
tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn này ngày càng gay gắt.
Trong thực tế không phải lúc nào con ngời nói chung và ngời lao
động nói riêng cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện
sinh sống bình thờng. Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn bất lợi, ít
nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc
các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn
trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả
năng tự phục vụ bị suy giảmv.v... Khi rơi vào những trờng hợp này, các nhu
cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn
tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới nh: cần đợc khám
chữa bệnh và điều trị khi ốm đau, tai nạn, thơng tận nặng cần phải có ngời
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
xã hội, kinh tế đợc phát triển bình thờng trớc những rủi ro luôn sảy ra trong
cuộc sống.
2- Quá trình hình và thành phát triển của Bảo hiểm xã hội.
Mặc dù hình thức sơ khai của Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện từ thế kỷ
XVI dới hình thức là hội tơng tế song mãi đến thế kỷ XIX văn bản có tính
pháp quy về Bảo hiểm xã hội mới đợc ban hành.
Đức là nớc đầu tiên ban hành đạo luật về Bảo hiểm xã hội (1883). Sau Đức,
Bảo hiểm xã hội đợc lan sang các nớc nh Anh (1887), Pháp (1889). Các nớc
Châu Âu và Bắc Mỹ đến cuối những năm 20 của thế kỷ XIX mới có các đạo
luật về Bảo hiểm xã hội. Các nớc đang phát triển chỉ sau khi dành đợc độc
lập mới ban hành các văn bản pháp luật đầu tiên về Bảo hiểm xã hội. Khi đó
Bảo hiểm xã hội đã có sự thay đổi về chất trở thành vấn đề mang tính quốc
tế.
ở Việt Nam, Bảo hiểm xã hội đã bắt đầu đợc thực hiện từ những năm
30 của thế kỷ XX. Đó là các chế độ trợ cấp do chính quyền Pháp thực hiện
đối với công chức và công nhân Việt Nam đợc hởng lơng, phục vụ trong bộ
máy chính quyền và lực lợng vũ trang của Pháp tại Đông Dơng. Ngay sau
khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Nhà nớc ta đã
sớm quan tâm và thực hiện chính sách BHXH đối với ngời lao động. Sắc
lệnh số 54 ngày 03/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời quy định
đã chuyển sang có chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Do vậy cùng
với việc đổi mới chính sách Bảo hiểm xã hội thì cơ chế quản lý bảo hiểm xã
hội cũng cần phải đợc đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với cơ chế quản
lý hiện hành.
Ngày 15/11/1982, Liên hiệp xã Trung ơng đã có quyết định số
292/BCN- LĐ ban hành Điều tạm thời về các chế độ BHXH đối với xã viên
Hợp tác xã và tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Về cơ bản, các chế độ
BHXH quy định trong Điều lệ này cũng đợc mô phỏng tơng tự nh các chế
độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nớc.
Ngày 18/9/1985, Hội đồng Bộ trởng ban hành nghị định số
236/HĐBT cho phép quy đổi một năm công tác thành 1 năm 2 tháng, 1 năm
4 tháng và 1 năm 6 thángtuỳ theo điều kiện và chiến đấu.
Ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ban hành nghị định 43/CP quy định
tạm thời chế độ Bảo hiểm xã hội cho ngời lao động làm việc trong các
doanh nghiệp và các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế. Nghị định 43/CP
đã mở rộng đối tợng tham gia và hởng Bảo hiểm xã hội, đổi mới cơ cấu
đóng góp quỹ, tỷ lệ hởng, mức hởng Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên vẫn còn
nhiều hạn chế nhất là tỷ lệ hởng và cơ chế quản lý. Chỉ đến khi điều lệ bảo
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
hiểm ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 thì cơ cẫu tổ
chức và quản lý hoạt động của hệ thống Bảo hiểm xã hội mới dần dần hoàn
thiện và đi vào ổn định. Cũng trong năm 1995 Nhà nớc còn ban hành Nghị
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
nghiệp, ốm đau và nghỉ dỡng sức. Tiền bảo hiểm không đợc tính toán dựa
trên sự tơng quan giữa phí bảo hiểm, lợng khách hàng thực tế và khách
hàng tiềm năng nh trong bảo hiểm thơng mại mà số tiền Bảo hiểm xã hội đợc căn cứ theo thu nhập của ngời lao động trớc khi gặp rủi ro hoặc mức lơng tối thiểu theo quy định hiện hành của Nhà nớc.
Đặc trng của hệ thống Bảo hiểm xã hội là có nguồn tài chính đợc
hình thành từ sự đóng góp bắt buộc của ngời sử dụng lao động, ngời lao
động, tài trợ của Nhà nớc và các loại trợ cấp đều đợc chi dùng từ nguồn tài
chính riêng.
Nguồn tài chính này đợc sử dụng để đảm bảo đời sống cho ngời lao
động từ đó đảm bảo hoạt động sản xuất của ngời sử dụng lao động có hiệu
quả, tăng năng suất, chất lợng. Và chính từ điều đó sẽ xây dựng đợc một
nền an ninh cho xã hội, giúp Nhà nớc ổn định chính trị, xây dựng đất nớc.
Toàn bộ những hoạt động đối với những mối quan hệ ràng buộc chặt
chẽ trên đợc thế giới quan niệm là Bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động.
Nh vậy, Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập đối với ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc
mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một
quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình
họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
* Với cách hiểu nh trên, bản chất của Bảo hiểm xã hội đợc thể hiện ở
những nội dung chủ yếu sau đây:
- Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã
hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối quan hệ thuê mớn lao động phát triển đến một mức độ nào đó.
Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể
nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh
+ Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm
bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân c và các nhu cầu
đặc biệt cuả ngời già, ngời tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con
ngời và đợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi và Tuyên ngôn
Nhân quyền ngày 10/12/1248 rằng: "Tất cả mọi ngời với t cách là thành
viên của xã hội có quyền hởng BHXH, quyền đó đợc đặt cơ sở trên sự thoả
mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa nhu cầu cho nhân cách à sự tự
do phát triển của con ngời".
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Tại nớc ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo
đảm BHXH. Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm BHXH còn có cứu trợ xã
hội và u đãi xã hội.
Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nớc và xã hội về các thu nhập
và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên của xã hội, trong
những trờng hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo
cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình. Sự giúp đỡ này đợc thực hiện
từ các nguồn quỹ dự phòng của Nhà nớc, bằng tiền hoặc hiện vật đóng góp
của các tổ chức xã hội và những ngời hảo tâm. Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ
toàn xã hội, phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải
mục tiêu của hoạt động BHXH. Do đó, BHXH có vai trò to lớn trong đời
sống kinh tế - xã hội của con ngời, đợc thể hiện trên các mặt sau:
a) Đối với ngời lao động:
Bảo hiểm xã hội là một biện pháp kinh tế để tạo lập nguồn tài chính bảo
đảm một phần tài chính nào đó cho ngời lao động khi nguồn thu nhập thông
thờng bị cắt giảm, nhằm ổn định đời sống của ngời lao động và gia đình họ
khi gặp những rủi ro trong cuộc sống.
b) Đối với ngời sử dụng lao động:
Để có đợc sản phẩm phục vụ cho cuộc sống con ngời, phục vụ cho sự
phát triển của xã hội thì cần phải ngời tạo ra sản phẩm và nhờ vào quá trình
lao động sản xuất để tạo ra đợc sản phẩm cần thiết cho con ngời, cho xã
hội. Những ngời sử dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, đó chính là
những ngời chủ sử dụng lao động. Muốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh đợc đảm bảo thì ngời chủ phải có vốn, có công nghệ nhng bên cạnh
đó cần thiết hơn là phải tạo đợc mối quan hệ tốt với ngời lao động, giải
quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối với ngời lao
động thật tốt để họ yên tâm lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống
từ đó họ lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động
sản xuất hăng hái hơn tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản
xuất kinh doanh của ngời chủ sử dụng lao động hoạt động đạt kết quả cao,
thu nhiều lợi nhuận. Muốn vậy ngời chủ sử dụng lao động phải tham gia
đóng BHXH cho những ngời lao động của mình để có thể đảm bảo những
khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến ngời lao động khi họ gặp những rủi ro
bất chắc. Việc tham gia đóng góp BHXH cho ngời lao động của ngời chủ sử
dụng lao động là góp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng xuất, hiệu quả lao
động sản xuất của doanh nghiệp cũng nh nâng cao thu nhập cho ngời lao
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
động. Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nớc, góp
phần tăng thu nhập cá nhân cho ngời lao động nói riêng và tăng tổng sản
phẩm quốc nội cũng nh tổng sản phẩm quốc dân nói chung.
Thứ ba, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là
công cụ phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia BHXH. Sự phân
phối lại thu nhập này đợc tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo
chiều ngang giữa ngời khoẻ và ngời già, ngời đang làm việc với ngời nghỉ
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
hu, ngờ trẻ tuổi với ngời lớn tuổi, giữa nam với nữ, ngời đang hởng trợ cấp
với ngời cha hởng trợ cấp; phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan
trọng của chính sách kinh tế xã hội, giữa ngời có thu nhập cao và ngời có
thu nhập thấp. BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không
hàm ý lấy của ngời giàu chia cho ngời nghèo một cách võ đoán. ý tởng của
BHXH là nhiễu điều phủ lấy giá gơng, là đoàn kết tơng trợ, phát huy tính tự
thân, sống hoà nhập có tình có nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong
cùng cộng đồng với nhau vốn là tiềm lực của dân tộc ta đã đợc lịch sử
chứng minh. Khi chính sách BHXH đợc áp dụng đối với mọi ngời lao động
sẽ tạo ra đợc sự phân công lao động xã hội hợp lý, có hiệu quả, tạo ra đợc
một thị trờng lao động năng động. Bởi vì ngời lao động có thể làm việc ở
bất cứ đơn vị nào, thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình sở hữu thì họ
vẫn đợc quyền tham gia và hởng thụ tất cả mọi chế độ về BHXH. Chính
điều đó tạo điều kiện cho ngời lao động và ngời sử dụng lao động đợc tự do
xuất diễn ra bình thờng phù hợp với quy luật, con ngời cần nhận thức đầy
đủ và tác động đến toàn bộ quá trình tái sản xuất đó. Trong đó, việc thực
hiện phân phối của cải xã hội (hàng hóa dịch vụ...) cho từng nhu cầu, mục
đích sử dụng, hình thành nên các quỹ hàng hoá,dịch vụ cho hoạt động sản
xuất tích luỹ hay tiêu dùng là một trong những nội dung hoạt động quan
trọng của con ngời. Quá trình phân phối đó luôn và trớc hết đợc thực hiện
dới hình thức giá trị để hình thành nên các quỹ tiền tệ và việc sử dụng các
quỹ tiền tệ đó cho một mục đích nhất định. Mỗi một quỹ tiền tệ chính là
một lợng tài chính nhất định đợc sử dụng cho một mục đích nào đó đợc chủ
thể quản lý (hay chủ sở hữu) xác định trớc. Chẳng hạn nh: Quỹ tiền tệ Quốc
tế đợc hình thành từ sự đóng góp của các nớc thành viên tự nguyện tham gia
nhập quỹ (đến nay có khoảng 150 quốc gia là thành viên của IMF) tuỳ
thuộc vào tiềm năng kinh tế tài chính của từng nớc. "Mục đích của quỹ tiền
tệ quốc tế là thúc đẩy sự hợp tác về các vấn đề liên quan tiền tệ và thơng
mại quốc tế; góp phần thiết lập hệ thống thanh toán nhiều bên căn cứ theo
các giao dịch đang tiến hành giữa các thành viên; khắc phục các hạn chế
trong chuyển đổi tiền tệ gây trở ngại trong thơng mại quốc tế; theo dõi việc
chấp hành các hiệp định về tiền tệ, thúc đẩy sự ổn định về tiền tệ của các nớc thành viên vay tín dụng ngắn hạn nhằm làm cân bằng cán cân thanh toán
của họ"(6,tr614). Ngân hàng Nhà nớc là quỹ tiền tệ của Nhà nớc. Ngân
sách Nhà nớc đợc hình thành chủ yếu từ nguồn tài chính nh: Thuế, lệ phí,
lợi tức cổ phần của Nhà nớc, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc quyền
sở hữu của Nhà nớc, tiền thu khác... Ngân sách Nhà nớc dùng để phục vụ
cho việc thực hiện chức năng của Nhà nớc...
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sàng đáp ứng nhu cầu đó của mọi ngời lao động đợc bảo hiểm. Nguồn tài
chính của BHXH còn phải đủ trang trải chi phí quản lý của bộ máy (hệ
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
thống BHXH) từ Trung ơng đến địa phơng. Do đó cần có một nguồn quỹ dự
phòng những rủi ro trong tơng lai xảy ra đối với ngời lao động và để chi cho
công tác quản lý.
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp Bảo
hiểm xã hội dựa trên mối quan hệ lao động. Sự đóng góp đợc phân chia cho
cả ngời sử dụng lao động và ngời lao động. Khác với Bảo hiểm thơng mại,
đây không phải là phân chia rủi ro mà còn là vấn đề lợi ích của cả hai phía.
Về phía ngời sử dụng lao động, sự đóng góp một phần bảo hiểm xã hội cho
ngời lao động sẽ tránh những rủi ro xảy ra đối với bản thân, biểu hiện mối
quan hệ qua lại giữa nghĩa vụ và quyền của mỗi cá nhân. Do vậy thực chất
của mối quan hệ giữa hai chủ thể trong mối quan hệ Bảo hiểm xã hội là mối
quan hệ về lợi ích Nguồn tài chính hình thanhf quỹ Bảo hiểm xã hội ngoài
tham gia đóng góp của ngời lao động và ngời chủ sử dụng lao động còn có
sự tham gia đóng góp của Nhà nớc. Sự đóng góp của Nhà nớc rất quan
trọng ở chỗ, một mặt là để hỗ trợ cho quỹ BHXH trong thời điểm ban đầu,
mặt khác sự tham gia của Nhà nớc sẽ trở thành một chỗ dựa đảm bảo cho
hoạt động của quỹ BHXH đợc chắc chắn và ổn định. Điều này đặc biệt
quan trọng đối với các nớc đang phát triển.
Nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội ngoài sự đóng góp của các
quy định ngời chủ sử dụng lao động chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn
lao động, Chính phủ chi phí y tế và trợ cấp gia đình, còn các chế độ khác
ngời lao động và ngời sử dụng lao động cùng chịu trách nhiệm. Một số nớc
quy định, chính phủ chỉ bù phần thiếu cho quỹ Bảo hiểm xã hội hoặc chi trả
toàn bộ chi phí quản lý Bảo hiểm xã hội.
ở nớc ta, thoạt đầu có lệ đóng góp phí Bảo hiểm xã hội của ngời đợc
hởng Bảo hiểm xã hội, Nhà nớc hỗ trợ tài chính với t cách là ngời sử dụng
lao động của công chức, đồng thời với t cách là ngời quản lý xã hội.
Từ năm 1961 (theo điều lệ tạm thời về các chế độ Bảo hiểm xã hội
đối với công nhân viên chức Nhà nớc) đến 6/1986, quỹ Bảo hiểm xã hội chỉ
đợc hình thành từ hai nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7%
so với quỹ lơng của xí nghiệp, còn lại do ngân sách Nhà nớc đài thọ. Thực
chất không tồn tại quỹ Bảo hiểm xã hội độc lập.
Theo cơ chế mới theo điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định
số 12/CP ngày 26/1/1995 và theo điều lệ đối với sỹ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban
hành kèm nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ; quỹ Bảo
hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập (loại hình Bảo hiểm bắt buộc) nằm
ngoài ngân sách Nhà nớc đợc hình thành từ các nguồn sau:
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Một là: Sự đóng góp của ngời lao động. Đây là nguồn tài chính quan
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Trớc hết quỹ Bảo hiểm xã hội đợc sử dụng vào việc chi trả và trợ cấp
cho các chế độ Bảo hiểm xã hội. Nguồn tài chính này chiếm đại bộ phận
trong việc sử dụng quỹ BHXH. Các chế độ BHXH đợc áp dụng đối với ngời
lao động nhiều hay ít, mức độ thụ hởng của từng loại chế độ cao hay thấp
phụ thuộc vào chính sách BHXH do mỗi Nhà nớc quy định bằng pháp luật.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) ban hành công ớc số 102 ngày 4/6/1952 về
quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, trong đó quy định chế độ trợ cấp đó
là: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già (hu
bổng); trợ cấp trong trờng hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; trợ
cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất.
Đối với nớc ta hiện nay đang áp dụng các loại chế độ sau:
- Chế độ trợ cấp ốm đau.
- Chế độ trợ cấp thai sản.
- Chế độ trợ cấp TNLĐ, BNN.
- Chế độ hu trí.
- Chế độ tử tuất.
- Chế độ nghỉ dỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
Hệ thống các chế độ BHXH nói trên có những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp mỗi nớc.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài
chính.
+ Mỗi chế độ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của
Bảo hiểm xã hội theo tỷ lệ phần trăm của một mức thu nhập nhất định và hởng cũng theo tỷ lệ phần trăm của mức quy định đó.
Quá trình sử dụng quỹ để chi trả các chế độ trên đợc chia làm 2 phần:
- Phần thực hiện chế độ hu trí mang tính chất bồi hoàn. Mức độ bồi
hoàn phụ thuộc vào mức đóng góp của quỹ Bảo hiểm xã hội.
- Phần thực hiện chế độ hu trí mang tính chất bồi hoàn, vừa mang
tính chất không bồi hoàn. Nghĩa là khi ngời lao động đang trong quá trình
lao động không bị ốm đau, tai nạn... thì không đợc bồi hoàn; khi bị ốm đau,
tai nạn... thì đợc bồi hoàn. Mức bồi hoàn phụ thuộc vào mức độ thơng tổn,
khả năng lao động của ngời lao động sau khi gặp rủi ro.
Có thể nói thông qua việc bắt buộc các bên tham gia Bảo hiểm xã hội
phải đóng phí, tạo lập quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội đã thực hiện
sự phân phối lại thu nhập. Việc phân phối lại thu nhập trong Bảo hiểm xã
hội đợc thực hiện theo chiều ngang và chiều dọc:
- Phân phối lại thu nhập theo chiều ngang đợc thực hiện giữa những
ngời lao động trẻ khoẻ và những ngời già, ốm đau, giữa những ngời đang
làm việc và những ngời về hu... , giữa một bên là những ngời thờng xuyên
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
đóng phí Bảo hiểm xã hội nhng cha gặp "rủi ro xã hội" nên cha đợc hởng
trợ cấp và một bên là những ngời tham gia đóng phí nhng gặp phải rủi ro
nên đợc quỹ Bảo hiểm xã hội trợ cấp.
- Phân phối lại thu nhập theo chiều dọc đợc thực hiện ở giữa những
ngời có thu nhập cao và những ngời có thu nhập thấơ, ở nhiều nớc quy định
xã hội và liên đoàn lao động tỉnh. Từ đó Bảo hiểm xã hội thành phố và các
huyện trực thuộc tỉnh đợc thành lập.
Bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì là đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã
hội tỉnh Phú Thọ, nằm trong hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam và chịu sự
quản lý của pháp luật. Nh vậy Bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì cũng nh
Bảo hiểm xã hội các huyện khác đều là những đơn vị trực thuộc nhỏ nhất
của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hoạt động dới sự hớng dẫn và chỉ
đạo trực tiếp từ Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ.
Vì là một thành phố công nghiệp đợc thành lập ngày 04 tháng 06
năm 1962. Việt Trì có diện tích 65,12 Km, với 2/3 dân c là dân thành thị,
gồm 17 phờng, xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở trực thuộc.
Ngoài ra, Việt Trì còn là trung tâm Kinh tế Chính trị Văn hoá
của tỉnh Phú Thọ. Ngày 01/01/05 thành phố Việt Trì đợc công nhận là đô
thị loại II. Đó vừa là vinh dự và cũng là trách nhiệm rất lớn đối với ngời
dân thành phố Việt Trì.
Thành phố Việt Trì có nền kinh tế phát triển mạnh, trên địa bàn tập
trung nhiều nhà máy, xí nghiệp thuộc công nghiệp dệt may, thực phẩm, cơ
khí, xây dựng ...Ngoài ra, các cơ sở công nghiệp nhỏ và thủ công nghiệp
cũng nh thơng mại, dịch vụ cũng đợc phát triển mạnh, có khả năng thu hút
rộng rãi lao động. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có hàng nghìn đơn vị
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau: Nhà nớc, tập thể, t nhân, xí nghiệp
liên doanh với nớc ngoài...đang hoạt động trên tất cả các lĩnh vực công
nghiệp, xây dựng, vận tải, tài chính, tín dụng, thơng mai dịch vụ...góp
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Diệu Huyền Lớp BH 43B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giáo viên hớng dẫn: Th.s. Nguyễn Thị Lệ Huyền
Với 15 cán bộ, Bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì chia thành ba bộ
phận có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt: bộ phận Thu, bộ phận Chi và bộ
phận Chính sách. Cả ba bộ phận này đều đợc đặt dới sự lãnh đạo trực tiếp
của giám đốc và phó giám đốc. Sự phân chia về công việc đợc thể hiện theo
sơ đồ sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội thành phố Việt Trì
Giám đốc
P.giám đốc
Bộ phận chính sách
Bộ phận thu
Bộ phận chi
Trong đó:
Bộ phận chính sách ( bao gồm 1 ngời)
Nhiệm vụ chính sách của cán bộ, nhân viên ở bộ phận này là giải
thích, hớng dẫn, giải quyết mọi vấn đề về chính sách Bảo hiểm xã hội đã