BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG KHUYẾT TẬT VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG KHUYẾT TẬT VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Xin chân thành cảm ơn!
i
LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ
nguồn gốc”.
Tác giả khóa luận
(ký và ghi rõ họ tên người cam đoan)
Nguyễn Thị Nhung
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Sinh viên thực tập: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV: 33131022782
Lớp: Luật kinh doanh
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực tập: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV: 33131022782
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa: 16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD)
Đề tài nghiên cứu:
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nhận xét chung:
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm)..…….
(2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……..
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……………….
Điểm chữ:…………………………………………………
Kết luận của người hướng dẫn thực tập & viết khóa luận
(Giảng viên hướng dẫn cần ghi rõ việc cho phép hay không cho phép
đưa khóa luận ra khoa chấm điểm)
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
(3) Nội dung khóa luận
- Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)……..…..
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)…………………………………………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)………………………………………..………..
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)…………………………………………….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……………………………….…………...…….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……………………………………..……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……………………….
Điểm chữ:……………………………………………….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất
v
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ HAI
Sinh viên thực tập: NGUYỄN THỊ NHUNG MSSV: 33131022782
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa: 16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD)
Đề tài nghiên cứu:
Bộ luật Lao động
CSSXKD
:
Cơ sở sản xuất kinh doanh
DN
:
Doanh nghiệp
LĐ
:
Lao động
LĐKT
:
Lao động khuyết tật
NKT
:
LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài:...........................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu:......................................................................................................2
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu:............................................................................2
4. Kết cấu đề tài:.................................................................................................................3
viii
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ở tất cả các nước trên thế giới, người khuyết tật luôn chiếm một tỷ lệ
nhất định trong dân số của quốc gia. Tại Việt Nam, con số này là khá lớn,
khoảng 6.7 triệu người khuyết tật chiếm 7.8% dân số của cả nước. Như chúng
ta đã biết, người khuyết tật luôn là nhóm người yếu thế và chịu nhiều thiệt thòi
nhất trong xã hội. Đại bộ phận người khuyết tật ở nước ta vẫn còn sống trong
tình cảnh nghèo khó, không có điều kiện để đến trường nên nhìn chung họ có
trình độ rất thấp. Thế nhưng, họ luôn cố gắng để vươn lên sống hòa nhập vào
xã hội và luôn mong muốn có được cuộc sống và công việc ổn định. Trên thực
tế, điều tưởng chừng như nhỏ bé ấy lại là quá khó đối với người khuyết tật, bởi
không chỉ hạn chế về mặt thể chất mà họ còn phải đối mặt với nhiều rào cản
như cơ sở vật chất không tiếp cận, thái độ kỳ thị phân biệt đối xử từ mọi
người, định kiến xã hội, v.v…Chính những điều ấy đã tước đi quyền con
người, quyền được học tập, lao động và hòa nhập vào cộng đồng của họ.
Chính vì vậy, người khuyết tật cần lắm những chính sách pháp luật để bảo vệ
lợi ích chính đáng cho mình trong đó có quyền được lao động. Và nếu có được
cơ hội bình đẳng như mọi người khác thì chắc chắn họ là những người lao
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về lao động
khuyết tật và thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu
cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Khóa luận nhằm hướng đến các mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu về các quy định pháp luật dành cho đối tượng lao động là
người khuyết tật ở Việt Nam.
Đồng thời tác giả cũng tìm hiểu về thực tiễn thực hiện các quy định
pháp luật về lao động khuyết tại một vài tổ chức, cơ sở trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay.
Từ đó nêu rnhận xét và một số đề xuất của tác giả nhằm tiếp tục hoàn
thiện những quy định pháp luật về lao động khuyết tật Việt Nam.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài “Pháp luật về lao động khuyết tật và thực tiễn thực
hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả sử dụng kết hợp một số phương
2
pháp khác nhau như:
Phương pháp nghiên cứu trực tiếp là phương pháp khảo sát, nghiên
cứu hồ sơ thực tiễn để tìm hiểu những bất cập của các quy định pháp luật về
lao động khuyết tật khi áp dụng vào thực tiễn.
Phương pháp phân tích thống kê và so sánh.
Phương pháp phân tích tổng hợp.
Vì thời gian và khả năng có giới hạn, trong đề tài khóa luận của mình
tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu những nội dung mà pháp luật về lao
động khuyết tật quy định trách nhiệm của các chủ thể có thể liên quan, các ưu
đãi trong việc tạo việc làm và sử dụng lao động khuyết tật và các hành vi bị
cấm khi sử dụng lao động khuyết tật. Sau đó, xem xét thực tiễn thực hiện các
1.1.1.1
Cách hiểu khái quát về lao động khuyết tật:
Theo quy định của luật cũ thì ta có định nghĩa “Lao động là người tàn
tật là người lao động không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật bị khiếm khuyết
một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật
khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám
định y khoa hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ
Y tế”.1
Nhưng văn bản hiện hành thì không nêu rõ định nghĩa về lao động
khuyết tật. Như chúng ta đã biết “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở
lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và
chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”.2
Ta cũng có định nghĩa về người khuyết theo quy định tại Khoản 1, Điều
2 của Luật Người Khuyết tật 2010 thì “Người khuyết tật là người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu
hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
Như vậy, lao động khuyết tật ở đây được hiểu là người lao động bị
khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng
được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó
khăn. Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến đối tượng lao động là người
Điều 1 Nghị định 116/2004 NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về lao động là
người tàn tật.
2
Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động 2012.
1
gốc rễ của người khuyết tật bị tách biệt khỏi cuộc sống chung đó là vấn đề về
những bất lợi và vấn đề phân biệt đối xử.
Tương ứng với các quan điểm đã nói đến ở trên sẽ có những định nghĩa
khác nhau về người khuyết tật theo quy định pháp luật của các nước. Các quan
3
Hội Người mù huyện Mê Linh, ”Tìm hiểu về luật Người khuyết tật”
ngày truy cập: 16-09-2015 15:50.
5
điểm về khuyết tật sẽ ảnh hưởng đến cách nhìn nhận ai là người khuyết tật và
ai không khuyết tật, từ đó quyết định những chính sách phù hợp.
Một số nước theo quan điểm y tế thường tập trung vào sự khiếm khuyết
về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác và sức khỏe tâm thần…Chẳng hạn
như:
+ Trung Quốc: Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ
người khuyết tật ban hành năm 1990, Điều 2 quy định “Người khuyết tật là
một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định
hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những
người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một
cách bình thường”.
+ Ấn Độ: Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 (Về cơ hội bình
đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho người khuyết tật tham gia mọi hoạt động
xã hội) xác định “Khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành
bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc
và mắc bệnh về tâm thần”. Trong khi đó, định nghĩa về người khuyết tật lại
được nêu “Một người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác
nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền”.
hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật.
Bởi lẽ “tàn tật” thì sẽ cùng nhóm với tàn phai, suy tàn. “Tàn” mang hàm ý suy
kiệt dần, chết dần. “Khuyết” nói về một cái gì đó thiếu đi và không hoàn
chỉnh. Thế thì “tàn tật” sẽ mang hàm ý một cuộc đời không còn tương lai và
sống chỉ để chờ chết. “Khuyết tật” lại mang hàm ý người ấy chỉ thiếu một
chức năng và vẫn còn nhiều chức năng hữu ích khác.
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là:
khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap).
+ Khiếm khuyết chỉ sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ
thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý.
+ Khuyết tật chỉ sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự
khiếm khuyết.
+ Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang
khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật
của họ (WHO, 1999).
7
Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế Người khuyết tật, người
khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội
và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982).
Do đó, nói tóm lại, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự
tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội đối với cộng đồng
mà người khuyết tật sống.
1.1.1.3
Phân loại khuyết tật:
Có nhiều cách phân loại khuyết tật khác nhau nhưng chủ yếu chúng ta
thường phân loại theo nguyên nhân dẫn đến sự khuyết tật, dạng tật và mức độ
khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không
thuộc các trường hợp trên.
- Các mức độ: Người khuyết tật được chia theo các mức độ sau: Người
khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người khuyết tật nhẹ:5
+ Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến
mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được
các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục
vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp,
chăm sóc hoàn toàn.
+ Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một
phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện
được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc
khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi,
trợ giúp, chăm sóc.
+ Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc các trường hợp
trên.
1.1.2 Ý nghĩa của việc làm đối với người khuyết tật:
1.1.2.1
Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập, ổn định cuộc sống:
Việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người khuyết tật bởi nó
giúp họ có được thu nhập, ổn định đời sống, từ đó giảm bớt gánh nặng cho gia
đình. Họ sẽ không còn cảm thấy mình là vô dụng, là “tàn phế” mà ngược lại
còn có thể đóng góp vào kinh tế của gia đình, giúp ích cho xã hội.
1.1.2.2
5
Việc làm giúp người khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng và tự tin
Rào cản là sự trở ngại ngăn cản NKT khỏi cuộc sống độc lập, làm việc,
di chuyển và tiếp cận các công trình xây dựng, dịch vụ, thông tin. Những rào
cản mà người khuyết tật thường phải đối mặt trong cuộc sống cũng như khi
tham gia vào lực lượng lao động đó là:
1.1.3.1
Rào cản về thái độ:
Được biểu hiện ra ở sự “không thừa nhận”, đó là sự kháng cự hay miễn
cưỡng của những người không khuyết tật đối với NKT trong các hoạt động
của mình. Điều đó một phần do sự thiếu hiểu biết của mọi người về NKT
cũng như ảnh hưởng bởi văn hóa hoặc tín ngưỡng.
1.1.3.2
Rào cản về môi trường:
10
Ngoài những rào cản về thái độ, người khuyết tật còn phải đối mặt với
những cản trở do xây dựng hoặc thiết kế. Những rào cản này làm người
khuyết tật mất đi cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội và hạn chế sự tham gia
của họ vào xã hội và công việc. Hầu hết đường phố, các tòa nhà công cộng,
xe buýt, v.v…đều “quên” tính đến người khuyết tật. Những người khiếm thị
hoặc khiếm thính cũng bị bỏ quên khi những thông báo ở nơi công cộng
không hề tính đến những loại hình phù hợp với họ như chữ nổi, ngôn ngữ ký
hiệu hoặc dùng loại ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu.
1.1.3.3
Rào cản về thông tin:
khuyết một hay nhiều bộ phận trên cơ thể dẫn đến việc khó khăn trong sinh
hoạt, học tâp và lao động vì thế họ cần được hỗ trợ về mặt chăm sóc sức khỏe
nhiều hơn, khi cần làm việc liên quan đến thể chất, họ phải cố gắng nhiều lần
hơn so với người khác và không tránh khỏi sự hạn chế nhất định. Đôi khi xã
hội và người sử dụng lao động chỉ đánh giá LĐKT thông qua sự khiếm
khuyết về thể chất này nên không muốn nhận LĐKT vào làm việc.
1.1.4.2
Đặc điểm về tâm lý:
Sự khiếm khuyết về mặt thể chất đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của
LĐKT, họ luôn cảm thấy mặc cảm, thiếu tự tin về sự khiếm khuyết của mình,
chính những điểm này đã khiến họ e dè, nhút nhát, khó hòa nhập trong môi
trường làm việc, dẫn đến tinh thần làm việc nhóm không tích cực, từ đó
LĐKT dễ bị mọi người đánh giá không đúng về năng lực và cuối cùng là dễ
dàng bỏ cuộc trong công việc.
1.1.4.3
Về yếu tố xã hội:
Các vấn đề của người khuyết tật ngày càng được đề cập nhiều hơn
trong các chương trình phát triển xã hội, vì vậy vai trò của người khuyết tật
cần được hiểu đúng hơn và các vấn đề của người khuyết tật cũng cần được
quan tâm như là vấn đề quan trọng trong các nỗ lực chung nhằm phát triển xã
hội.
Phát triển xã hội nghĩa là giảm sự phân biệt đối xử và đưa những người
khuyết tật vào các chương trình xã hội để họ có thể được đi học, có việc làm,
tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, trở thành
thành viên của các tổ chức xã hội, v.v… giống như những công dân khác.
Từ những đặc điểm trên, ta thấy việc ban hành những quy định chính
hàm cả đối tượng hưởng chính sách như thương binh thể hiện tập trung ở các
văn bản: Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo
Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964, Nghị định 111/CP ngày 20/07/1967 của
Hội đồng Chính phủ, Nghị định 08/NĐ-1976 của Chính phủ cách mạng lâm
thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Hiến pháp 1959 (tại Điều 30 và Điều 32)
và Hiến pháp 1980 (Điều 74) đã có những quy định về quyền làm việc của
mọi công dân và có chính sách đối với người khuyết tật.
- Từ 1986 đến trước 2012: Một số văn bản đề cập đến vấn đề lao động
khuyết tật như: Pháp lệnh về bảo hộ lao động (10/09/1991); Nghị định số
233/HĐBT (22/06/1990) ban hành Quy chế lao động trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài. Đến Hiến pháp 1992, Điều 67 đã quy định về các
chính sách ưu đãi dành cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Ngày
29/05/1994, Pháp lệnh ưu đãi người có công được ban hành và không lâu sau
đến ngày 23 tháng 6 năm 1994, Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa Xã hội
13
chủ nghĩa Việt Nam được ban hành. Bộ luật Lao động 1994 là văn bản đầu
tiên có quy định chung về lao động là người khuyết tật. Bộ luật đã có 1 mục
riêng (mục III) trong chương XI quy định một số điều đối với lao động là
người khuyết tật, từ Điều 125 đến Điều 128. Bộ luật Lao động 1994 cơ bản
đã đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể thiết lập
quan hệ lao động. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước nói
chung, của thị trường lao động và quan hệ lao động khuyết tật nói riêng đã có
những đổi mới đòi hỏi Bộ luật Lao động cần phải được sửa đổi, bổ sung nhằm
phù hợp với các luật chuyên ngành như Luật Người Khuyết tật 2010 và các
văn bản pháp luật cũng như các Công ước quốc tế khác có liên quan về vấn đề
người khuyết tật.
1.2.1.2