PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn hóa nhân loại nói
chung và tư tưởng triết học nói riêng, triết học phương Đông và triết học
phương Tây có nhiều nội dung phong phú,đa dạng. Những giá trị của nó đã để
lại dấu ấn đậm nét và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người. Triết học
phương Đông và triết học phương Tây không thể thoát ly những vấn đề chung
của lịch sử triết học. Mặc dù vậy giữa triết học phương Đông và triết học
phương Tây vẫn có những đặc điểm đặc thù của nó. Nghiên cứu về triết học
phương Đông và triết học phương Tây, đặc biệt là so sánh sự khác nhau của
nó là một vấn đề phức tạp nhưng cũng rất bổ ích, vì qua đó ta có thể hiểu biết
sâu sắc thêm những giá trị về tư tưởng văn hóa của nhân loại. Mặt khác bản
sắc văn hóa Việt Nam ảnh hưởng khá sâu sắc bởi nền triết học phương Đông,
do đó nghiên cứu những đặc điểm của triết học phương Đông trong mối quan
hệ với triết học phương Tây, đặc biệt là những tư tưởng nhân văn cao đẹp sẽ
giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc văn hóa Việt Nam. Vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề
“Sự giống nhau và khác nhau giữa triết học phương Đông cổ đại và triết
học phương Tây cổ đại” làm đề tài nghiên cứu trong tiểu luận của mình.
II. Mục đích nghiên cứu
Phân tích đặc điểm của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây
qua đó rút ra những đặc điểm giống và khác nhau giữa chúng để hiểu sâu sắc
hơn lịch sử hai nền triết này.
III. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm của lịch sử triết học phương
Đông và phương Tây cổ đại.
IV. Kết cấu đề tài
Tiểu luận gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Trong đó nội dung
gồm có hai chương.
1
2
duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phương pháp biện chứng và phương pháp siêu
hình với nhau.
1.1.2. Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tư tưởng tôn giáo mà triết học
Ấn Độ cổ đại thường là một bộ phận lý luận quan trọng tạo nên nội dung giáo
lý của các tôn giáo lớn. Tuy nhiên tôn giáo Ấn Độ không có xu hướng hướng
ngoại để tìm kiếm sức mạnh nơi thượng đế mà có xu hướng hướng nội đi sâu
tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần để phát hiện sức mạnh của cá nhân con
người. Vì vậy triết học Ấn Độ cổ trung đại mang đậm tính chất duy tâm chủ
quan và thần bí.
1.1.3. Triết học Ấn Độ đặt ra nhiều vấn đề song nó rất quan tâm đến việc
giải quyết những vấn đề thuộc lĩnh vực nhân sinh nhằm tìm kiếm con đường
giải thoát chúng sinh ra khỏi thực tế khắc nghiệt của cuộc sống do chế độ
đẳng cấp tạo ra.
1.2. Đặc điểm của triết học Trung Quốc Cổ đại
Triết học Trung Quốc là một hệ thống đồ sộ bao quát nhiều vấn đề triết
học. Nhưng nó chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề do thực tiễn đạo đức
chính trị xã hội của thời đại đặt ra.
Triết học Trung Quốc cổ đại bàn nhiều về vấn đề con người, đặc biệt là
vấn đề nguồn gốc, số phận, bản tính của con người.
Trung Quốc cổ đại chính là thời kỳ lịch sử từ thế kỷ thứ VIII đến thế
kỷ thứ II trước công nguyên (Tr.CN) mà theo cách phân lỳ lịch sử truyền
thống gọi là thời Xuân thu (770 – 481 Tr. CN) và thời Chiến Quốc (480 –
221 Tr. CN) cũng gọi là thời Chu mạt; về lịch sử văn hóa và tư tưởng cũng
còn được gọi là thời “Tiên Tần”. Từ giai Đường, Tống, Nguyên, Minh,
Thanh là giai đoạn lịch sử phong kiến Trung Hoa, cũng còn gọi là giai
đoạn trung đại của lịch sử tư tưởng Trung Hoa.
Trung Hoa cổ đại là thời kỳ tan rã suy tàn của một mô hình kinh tế xã hội cũ theo truyền thống thị tộc. Đó là mô hình kinh tế “Tỉnh điền” của
tâm, một loạt các trường phái triết học ra đời, mỗi trường phái đưa ra một kế
sách quản lý xã hội, tạo nên một không khí sôi động trong đời sống tinh thần
của xã hội Trung Hoa. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “ Bách gia chư tử”.
4
Chính trong hoàn cảnh xã hội đó đã nảy sinh những nhà tư tưởng lớn, hình
thành nên những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh. Triết học Trung Quốc về
cơ bản có những đặc điểm sau:
1.2.1. Đây là nền triết học đặc biệt quan tâm đến các vấn đề chính trị,
đạo đức. Bởi đây là thời kỳ đảo lộn của xã hội lúc bầy giờ nên triết học đã đặc
biệt quan tâm, suy tư, tìm cách lý giải và tìm ra những triết lý và biện pháp
nhằm khắc phục hiện tượng xã hội biến động trong lịch sử chính trị cai trị của
các triều đại.. Từ đó làm xuất hiện nhiều học thuyết chính trị tư tưởng, đạo
đức khác nhau như nho gia, Mặc gia, Pháp gia. Ngay cả những học thuyết mà
theo tôn chỉ mục đích của nó là xa rời chính trị nhưng thực tế vẫn bàn về
chính trị và đạo đức như phái đạo gia của Lão tử và Trang Tử thời cổ đại. Học
thuyết Âm dương – Ngũ hành vốn là học thuyết của của chủ trương luận và
những vấn đề nguyên lý biến đổi của trời đất, vạn vật cũng được vận dụng để
lý giải những vẫn đề chính trị, đạo đức của xã hội, con người.
Mặc dù phong phú, đa dạng nhưng nhìn chung các học thuyết triết học
tập trung vào các vấn đề: làm thế nào để thống nhất đất nước; làm thế nào để
ổn định xã hội và các chuẩn mực đạo đức mà con người phải tuân thủ. Tùy
theo lập trường chính trị khác nhau mà có cách giải đáp khác nhau về một vấn
đề chính trị đạo đức. Do đó nó tạo nên tính vừa phong phú và vừa sâu sắc của
triết học Trung Hoa cổ đại. Chẳng hạn đó là vấn đề triết lý về bản tính con
người, Khổng Tử và Mạnh Tử theo xu hướng khẳng định bản tính thiện của
con người. Ngược lại Tuân Tử và Hàn Phi Tử lại chủ trương biện luận về bản
tính bất thiện của con người, còn Lão Tử và Trang Tử lại đưa ra luận thuyết
về bản tính người như thế là điểm xuất phát cho tư duy triết lý về những
2.1. Những đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Triết học Hy lạp cổ đại diễn ra trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến
lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp
đầu tiên trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ.
6
Hy lạp cổ đại trước đây là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm phần
đất liền và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Egie, vùng duyên hải Ban căng và
Tiểu Á.
Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh
chóng phát triển tất cả các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị
văn hóa. Vì vậy, nơi đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con
người có dịp bay bổng, đẻ thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, xứng đáng là
chiếc nôi của nền văn minh Châu Âu và của cả nhân loại. Đúng như Ph.
Ănghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp,
không có nghệ thuật và khoa học Hy lạp, không có chế độ nô lệ thì không có
đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy lạp và đế quốc La
Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”.
Sự hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp không diễn ra một
cách ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh túy
của truyền thống trong sáng tác dân gian, trong thần thoại, trong các mầm
mống của tri thức khoa học.
Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca thần thoại. Thần thoại không chỉ là
nơi để con người tưởng tượng diễn giải các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí, mà
còn là nơi thể hiện đời sống tâm linh, sự hình thành số phận cũng như muôn
mặt của đời sống thường ngày. Thần thoại là nơi đầu tiên để tư duy triết học
tranh về thế giới như một hình ảnh chính thể thống nhất mọi sự vật, hiện
tượng xảy ra trong nó. Do trình độ tư duy lý luận còn thấp nên khoa học tự
nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự
vật mà nó mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng tể để dựng nên bức tranh tổng
quát về thế giới. Vì vậy các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự
nhiên, họ quan sát, tổng hợp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận
triết học .
2.1.2.4. Triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất
phác. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng nâng cao
nghệ thuật hùng biện để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân
8
lý. Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng nhưng chưa trình bày
chúng như một hệ thống lý luận chặt chẽ.
2.1.2.5. Triết học Hy Lạp đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con
người. Cố lý giải vấn đề khác nhau về quan hệ giữa tinh thần và thể xác, về
đời sống chính trị đạo đức của họ. Dù có nhiều bất đồng song nhìn chung các
triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
9
CHƯƠNG II SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU CỦA TRIẾT
HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI VÀ PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
1. Giống nhau
Cả triết học phương Đông và phương Tây đều là những tư tưởng nội
dung thể hiện quan niệm của con người về tự nhiên, xã hội và con người.
Cả triết học phương Đông và phương Tây đều được hình thành và phát
triển trên những điều kiện lịch sử tương ứng.
Âm dương, tuy nhiên nó còn mang tính chất trực quan, chất phác, ngây thơ và
có quan điểm duy tâm, thần bí về lịch sử xã hội nhưng trường phái triết học
này đã bộc lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của
mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hóa của sự vật hiện
tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội.
Ở Ấn Độ, tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại được hình thành từ cuối thiên
niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I Tr. CN, bắt nguồn từ thế giới quan thần thoại,
tôn giáo giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang tính chất tự nhiên,
có nguồn gốc từ những tôn giáo tối cổ của nhân loại. Ở Ấn Độ nguyên tắc
thiên nhiên hợp nhất lại có màu sắc riêng như: Xu hướng chính của
Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm tôn giáo trong kinh Vêda
về cái gọi là tinh thần sáng tạo tối cao, sáng tạo và chi phối thế giới này. Để
trả lời câu hỏi cái gì là thực tại cao nhất là căn nguyên của tất cả mà khi nhận
thức được nó, người ta sẽ nhận thức được mọi cái còn lại và có thể giải thoát
được linh hồn khỏi sự lo âu khổ não của đời sống trần tục và ràng buộc của
thế giới này là tinh thần vũ trụ tối cao Brahman, là thực thể duy nhất, có trước
nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới này đều nảy sinh ra
và nhập về với nó sau khi chết. Tóm lại, Brahman là tinh thần vũ trụ, là đấng
sáng tạo duy nhất, là đại ngã, đại đinh, là vũ trụ xung quanh cái tồn tại thực
sự, là khách thể. Còn Átman là tinh thần con người, là tiểu ngã, là cái có thể
mô hình hóa, là chủ thể và chẳng qua chỉ là linh hồn vũ trụ cư trú trong con
người mà thôi. Linh hồn con người chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phận của
tinh thần tối cao. Vì Átman “linh hồn” là cái tồn tại trong thể xác con người ở
11
đời sống trần tục, nên ý thức con người lầm tưởng rằng linh hồn, “cái ngã” là
cái khác với linh hồn vũ trụ, khác với ngồn sống không có sinh, không có diệt
vong của vũ trụ. Vậy nên kinh Vêda nối con người với vũ trụ bằng cầu khẩn,
cúng tế, bắt chước hòa điệu của vũ trụ bằng lễ nghi, hành lễ hình thức ở bên
với chính trị lý luận, còn triết học Ấn Độ lại đan xen tôn giáo với nghệ thuật.
Nói chung ở phương Đông thì triết học thường ẩn dấu đắng sau các khoa học.
Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một môn khoa học độc lập
với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằng sau triết
học và thời kỳ trung cổ là điển hình, khoa học muốn tồn tại phải khoác áo tôn
giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáo hội.
Thứ 3, lịch sử triết học phương Đông ít thấy có những bước nhảy vọt về
chất có tính vạch ra ở các thời điểm mà chỉ là sự phát triển cục bộ, kế tiếp xen
kẽ. Ở Ấn Độ cũng như Trung Quốc, các trường phái có từ thời cổ đại vẫn giữ
nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ thứ VIII-V Tr.CN đến thế kỷ
XIX). Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay
đi sâu vào từng chi tiết như: Nho tiền Tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên cơ sở
nhân – lễ - chính danh, nhưng có cải biên về quan điểm hay một hệ thống nào
đó để hoàn thiện và phát triển nó hơn là vạch ra những sai lầm và không đặt
ra mục đích tạo ra thứ triết học mới. Do vậy nó không mâu thuẫn với các học
thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không phủ định nhau hoàn toàn và
dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phải không gay gắt và cũng không
triệt để. Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến quá kéo dài và bảo
thủ, kết cấu kinh tế giai cấp trong xã hội đan xen cộng sinh bên nhau. Ngược
lại ở phương Tây lại có điểm khác biệt. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, bên
cạnh các trường phải cũ lại có những trường phái mới được ra đời có tính chất
vạch thời đại như thời cổ đại bên cạnh trường phái cú lại có những trường
phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại như thời cổ đại bên cạnh trường
phái Talet, Hêraclit...đến Đêmocrit rồi thời đại khai sáng Pháp, CNDV ở Anh,
Hà lan, triết học cổ điển Đức và hơn nữa cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm mang tính chất quyết liệt, triệt để hơn.
13
tính xoắn ốc của vũ trụ như thái cực đến lưỡng nghi...Có nhịp điệu là hài hòa
âm dương, còn vũ trụ là tập hợp khổng lồ của các xoắn ốc.
Thứ sáu, tuy cả hai dòng triết học phương Đông và phương Tây đều
nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học nhưng phương Tây nghiêng nặng
hơn về giải quyết mặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết những vấn đề có
liên quan. Ngược lại ở phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ hai cho nên
dẫn đến hai phương pháp tư duy khác nhau. Phương Tây đi từ cụ thể đến khái
quát cho nên là tư duy tất định – tư duy vật lý chính xác, nhưng lại không gói
được cái ngẫu nhiên xuất hiện. Còn phương Đông đi từ khái quát đến cụ thể
bằng các ẩn dụ triết học với những câu cách ngôn, ngụ ngôn nên không chính
xác nhưng lại hiểu cách nào cũng được.
15
KẾT LUẬN
Triết học là một hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản
nguyên thủy được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Nhưng triết học đầu
tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII đến VI Tr. CN ở Ấn Độ cổ
đại, Trung Quốc cổ đại, Hy Lạp cổ và La Mã cổ đại và ở các nước khác. Theo
quan điểm của Mác xit, triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết
về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con
người với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã
hội và tư duy. Như vậy triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh
của tồn tại xã hội và đặc biệt là sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn
với phương Tây cả về điều kiện tự nhiên, địa lý dân số mà hơn cả là phương
thức sản xuất của phương Đông là phương thức sản xuất nhỏ còn phương Tây
là phương thức sản xuất của tư bản do vậy mà cái phản ánh ý thức cũng khác: